KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu thập
được tổng số 19 chủng vi khuẩn não mô cầu từ
mẫu dịch nhầy họng hoặc dịch não tủy của các
chiến sĩ tại các trại huấn luyện chiến sĩ trên địa
bàn miền bắc Việt Nam trong giai đoạn 2008 –
2017. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã nhận
diện được các vị trí biến đổi đa hình trong trình
tự nucleotide và amino acid suy diễn của ba
phân vùng biến đổi chính thuộc gen porA là
VR1, VR2 và VR3, dự đoán được khả năng
phản ứng với các kháng thể đơn dòng mAb phổ
biến hiện đang được sử dụng để phát triển
vaccine kháng vi khuẩn não mô cầu nhóm B.
Đặc biệt, chúng tôi đã phát hiện được 5/19
chủng nghiên cứu mang các biến dị thuộc phân
vùng biến đổi VR2 của gen porA thuộc nhóm
allele mới chưa được công bố, hiện chưa có kết
quả thử nghiệm đáp ứng miễn dịch với các
kháng thể đơn dòng đã biết. Đây là những kết
quả bước đầu thể hiện tính đặc trưng cao và
nhiều đặc điểm miễn dịch mới của các chủng
não mô cầu đang lưu hành tại Việt Nam.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đa hình các vùng biến đổi (variable region) vrs thuộc gen pora của vi khuẩn neisseria meningitidis lưu hành tại khu vực miền Bắc Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 167-175, 2020
167
ĐA HÌNH CÁC VÙNG BIẾN ĐỔI (VARIABLE REGION) VRs THUỘC GEN porA
CỦA VI KHUẨN Neisseria meningitidis LƯU HÀNH TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC
VIỆT NAM
Trần Xuân Thạch1, Lê Thu Trang1, Triệu Phi Long2, Nguyễn Thị Hoa1, Đồng Văn Quyền1,3,*,
Nguyễn Minh Hường1,*
1Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Viện Y học dự phòng Quân đội, Bộ Quốc phòng
3Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*Người chịu trách nhiệm liên lạc. E-mail: dvquyen@ibt.ac.vn; huongminh.nguyen@ibt.ac.vn
Ngày nhận bài: 09.9.2019
Ngày nhận đăng: 20.11.2019
TÓM TẮT
Vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis là nguyên nhân chính gây bệnh viêm màng não
mủ, trong đó não mô cầu nhóm B và C là những nhóm gây bệnh chủ yếu tại Việt Nam hiện nay. Vi
khuẩn não mô cầu biểu hiện hai protein xuyên màng lớn là PorA và PorB, trong đó PorA thể hiện
mức độ đa hình cao giữa các chủng và được nghiên cứu như một thành phần của vaccine thế hệ mới
kháng não mô cầu nhóm B. Các biến dị trong trình tự gen porA tập trung thành ba vùng biến đổi
chính là VR1, VR2 và VR3. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành giải trình tự toàn bộ gen
porA của 19 chủng N. meningitidis thu thập được từ các trại huấn luyện chiến sĩ khu vực miền Bắc
Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017 nhằm: (1) đánh giá độ đa hình của các vùng biến đổi VRs của gen
porA và dự đoán khả năng đáp ứng miễn dịch của các trình tự amino acid suy diễn; (2) so sánh đa
hình gen porA của các chủng Việt Nam với các chủng thế giới. Kết quả phân tích cho thấy độ đa
hình cao giữa các chủng Việt Nam, mức đa dạng cao nhất tìm thấy ở VR1, tiếp theo là VR2 và
VR3. Đặc biệt, 5/19 chủng thu thập được trong nghiên cứu này mang biến dị mới ở vùng VR2 chưa
dự đoán được khả năng đáp ứng miễn dịch. Kết quả thu được thể hiện tính đặc trưng cao và nhiều
đặc điểm miễn dịch mới của các chủng não mô cầu ở Việt Nam.
Từ khóa: Neisseria meningitidis, porA, vùng biến đổi VR, Việt Nam, vaccine
MỞ ĐẦU
Vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis
là cầu khuẩn Gram âm thông thường khu trú
trong đường hầu họng trên của người khỏe
mạnh, không gây ra triệu chứng và không gây
bệnh. Tuy nhiên, khi sức đề kháng của người
lành mang não mô cầu suy giảm do tổn thương
hoặc viêm nhiễm đường hô hấp trên, vi khuẩn
não mô cầu có thể xâm nhập vào máu gây
nhiễm khuẩn huyết hoặc vào xoang não tủy gây
viêm màng não mủ. Hai thể bệnh này đều hết
sức nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao và dễ phát
triển thành dịch (Nguyễn Trần Chính 1992).
Bệnh viêm màng não mủ được phát hiện lần
đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ 19. Đến
nay, viêm màng não mủ vẫn được xếp vào
nhóm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, do
bệnh thường tiến triển nhanh sau giai đoạn ủ
bệnh ban đầu không có triệu chứng rõ ràng, đôi
lúc phát triển thành sốc nhiễm khuẩn toàn thân
gây tỷ lệ tử vong cao (Rosenstein et al., 2001).
Tỷ lệ mang vi khuẩn não mô cầu N.
meningitidis trong quần thể người trường thành
trung bình là 10%, tuy nhiên, trong một số điều
kiện sống tập trung đặc thù như ký túc xá học
sinh, sinh viên, doanh trại hoặc trại tập huấn
chiến sĩ, tỷ lệ người lành mang vi khuẩn não mô
Trần Xuân Thạch et al.
168
cầu có thể cao gấp 2- 3 lần (Tryfinopoulou et
al., 2016, Breakwell et al., 2018).
Theo đặc điểm miễn dịch học, vi khuẩn não
mô cầu N. meningitidis phân chia thành 12
nhóm huyết thanh, trong đó nhóm gây bệnh chủ
yếu là các nhóm huyết thanh A, B, C, Y và
W135 (Nguyễn Trần Chính 1992). Trong năm
nhóm huyết thanh gây bệnh, lớp vỏ
polysaccharide của bốn nhóm A, C, Y và W135,
trừ nhóm huyết thanh B, đều có tính đặc hiệu
kháng nguyên cao và đã được sử dụng thành
công làm vaccine phòng bệnh (Frasch 1995).
Việc tìm kiếm các protein bề mặt có tính đặc
hiệu kháng nguyên nhằm phát triển vaccine cho
vi khuẩn não mô cầu nhóm B vì thế trở nên cần
thiết.
Gần như toàn bộ các chủng vi khuẩn não
mô cầu (>80%) đều biểu hiện protein bề mặt
thuộc nhóm OMP1, mã hóa bởi gen porA, và
một trong hai protein bề mặt nhóm 2 hoặc 3, lần
lượt được mã hõa bởi gen porB2 hoặc porB3.
Tính đến nay, PorA là protein được sử dụng làm
kháng nguyên đích phổ biến nhất cho các thử
nghiệm vaccine kháng vi khuẩn não mô cầu
nhóm B trên nhiều quốc gia trên thế giới (Bjune
et al., 1991, Sierra et al., 1991, Moraes et al.,
1992, Boslego et al., 1995, Cartwright et al.,
1999, Martin et al., 2000, Oster et al., 2005,
Findlow et al., 2006).
Vùng bộc lộ bề mặt của protein PorA chứa
hai vùng biến đổi (variable region) VR1 và VR2
có mức độ đa hình rất cao, lần lượt phân chia
thành 11 và 18 họ trình tự với tổng cộng hàng
trăm biến dị allele được thống kê trên cơ sở dữ
liệu PubMLST (https://pubmlst.org/neisseria/).
Vùng biến đổi thứ ba, VR3, có mức độ đa hình
thấp hơn VR1 và VR2. Nhờ mức độ đa hình
cao, hai vùng VR1 và VR2 của protein PorA
thường được sử dụng để nghiên cứu phát triển
vaccine đặc hiệu phổ hẹp kháng não mô cầu
nhóm B (Urwin et al., 2004, Filippis et al.,
2007).
Trong nghiên cứu này chúng tôi trình bày
kết quả giải trình tự nucleotide và trình tự
amino acid suy diễn của ba vùng biến đổi VR1,
VR2 và VR3 của gen porA, qua đó phân tích
đặc điểm di truyền tiến hóa của gen porA của
một số chủng N. meningitidis phân lập được
trong giai đoạn 2009-2017 tại một số trại huấn
luyện chiến sĩ trong địa bàn một số tỉnh miền
Bắc Việt Nam. Việc nghiên cứu giải mã vùng
biến đổi của gen porA sẽ cung cấp nhiều thông
tin quan trọng cho nghiên cứu dịch tễ học, giúp
định hướng chiến lược phát triển vaccine kháng
vi khuẩn não mô cầu nhóm B tại Việt Nam.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu
Mười chín chủng vi khuẩn não mô cầu N.
meningitidis sử dụng trong nghiên cứu này được
phân lập từ dịch nhầy họng của các chiến sĩ thu
thập qua các đợt khám bệnh định kỳ (người lành
mang khuẩn) hoặc dịch não tủy của các ca nhập
viện quân đội được khẳng định lâm sàng là ca
bệnh viêm màng não mủ thuộc các trại huấn
luyện chiến sĩ trên một số tỉnh miền Bắc Việt
Nam, cụ thể là Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh
Phúc, Hà Nội và Hải Phòng, từ năm 2009 đến
2017 (Bảng 1) do Viện Y học dự phòng quân
đội cung cấp. Phương pháp lấy, bảo quản, xử lý
mẫu bệnh phẩm và thu thập số liệu lâm sàng
được thực hiện theo các chuẩn thường quy. Vi
khuẩn N. meningitidis được phân lập trên môi
trường thạch máu 5%, ủ qua đêm ở 37°C có bổ
sung 5% CO2 và > 50% độ ẩm. Chủng thuần
sau phân lập được định danh và xác định nhóm
huyết thanh trên máy Vitek 2 Compact
(bioMerieux, Pháp) bằng phương pháp hóa sinh
tiêu chuẩn.
Tách chiết DNA tổng số vi khuẩn N.
meningitidis
DNA tổng số từ các mẫu vi khuẩn được tách
chiết theo phương pháp thường quy sử dụng
đệm chiết 4% SDS, 10 mM EDTA, 10 µl
proteinase K (100 µg/mL). Hỗn hợp mẫu và
đệm chiết được ủ ở 60°C trong 1 - 2 giờ, chiết
lặp lại hai lần với phenol:chloroform:isoamyl
alcohol tỷ lệ 25:24:1 và một lần với
chloroform:isoamyl alcohol tỷ lệ 24:1. DNA
tổng số sau đó được tủa trong thể tích
isopropanol tương đương trong 1 giờ. Kết tủa
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 167-175, 2020
169
thu được được rửa hai lần với ethanol lạnh 70%
trước khi hòa lại vào đệm TE và bảo quản ở -
20°C cho tới khi sử dụng.
Khuếch đại và giải trình tự gen porA
Trình tự các cặp mồi đặc hiệu và quy trình
PCR dùng để khuếch đại toàn bộ vùng mã hóa
protein của gen porA (~1179 bp) được tham
khảo theo tài liệu hướng dẫn của Trung tâm
Kiểm soát và Phòng chống bệnh (CDC, Mỹ)
(Organization et al., 2011). Phản ứng PCR được
tiến hành ở thể tích 25 µL sử dụng DreamTaq
Master mix (Thermo Scientific); 50 ng DNA
khuôn; 20 pmol mồi xuôi CDC3UNI và 30
pmol mồi ngược CDC5UNI. Phản ứng PCR
được thực hiện theo phương pháp giảm nhiệt
(touchdown), cụ thể: 95°C trong 5 phút; 30 chu
kì gồm 94°C trong 1 phút, 65°C trong 1 phút
(sau mỗi chu kì giảm 0,5°C), 72°C trong 1 phút;
15 chu kì gồm 94°C trong 1 phút, 50°C trong 1
phút, 72°C trong 1 phút; cuối cùng 72°C trong 2
phút và giữ máy ở 4°C sau khi kết thúc chu
trình. Sản phẩm PCR được điện di kiểm tra trên
agarose gel 1% trước khi tinh sạch và gửi giải
trình tự hai chiều sử dụng cặp mồi
CDC3UNI/CDC5UNI tổng hợp tại công ty
Macrogen, Hàn Quốc.
Xử lý số liệu
Trình tự các chuỗi nucleotide được phân
tích bằng phần mềm Chromas (Technelysium,
Úc). So sánh đối chiếu giữa các trình tự
nucleotide trong nghiên cứu này với các trình tự
nucleotide từ Ngân hàng gen được thực hiện
bằng phần mềm BioEdit v7.2.6.1. Quan hệ
nguồn gốc phát sinh chủng loại của các mẫu
được phân tích bằng phần mềm MEGA7
(Kumar et al., 2016), theo phương pháp tối đa
tương đồng (maximum likelihood) với mức tin
cậy bootstrap 500.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả định nhóm huyết thanh của các
chủng N. meningitidis phân lập được ở miền
Bắc Việt Nam
Kết quả định nhóm huyết thanh của 19 mẫu
N. meningitidis trong nghiên cứu này cho thấy
trong những năm gần đây, ở đối tượng thanh
niên 19-25 tuổi, nhóm huyết thanh lưu hành phổ
biến lưu hành ở miền Bắc Việt Nam là vi khuẩn
viêm màng não nhóm B (NmB), chiếm 73,7%
(14/19) tổng số mẫu thu được trong nghiên cứu
này (Bảng 1). Nhóm huyết thanh còn lại là
nhóm C (NmC), chiếm 26,3% (5/19) tổng số
mẫu thu được. Trong số 19 mẫu, không thấy
xuất hiện serogroup A, W, X và Y. Kết quả thu
được phù hợp với các công bố gần đây tại Mỹ
(Fletcher et al., 2004), Châu Âu (Prevention,
Control, 2013) và Úc (Lahra, Enriquez, 2014),
theo đó NmB là type huyết thanh gây bệnh chủ
yếu trong nhóm các chủng N. meningitidis gây
bệnh ở thanh thiếu niên đang lưu hành tại các
khu vực này.
Đánh giá mức độ đa hình allele và khả năng
đáp ứng miễn dịch của các vùng biến đổi của
gen porA
Gen porA mã hóa cho một trong số các
protein bề mặt quyết định tính kháng nguyên vỏ
của chủng N. meningitidis serogroup hiện đang
được nghiên cứu như một ứng cử viên cho
vaccine phổ hẹp kháng vi khuẩn não mô cầu.
Chúng tôi đã tiến hành giải trình tự gen porA
của toàn bộ 19 chủng vi khuẩn viêm màng não
thu được, xác định trình tự allele của 3 vùng
biến đổi VR1, VR2, VR3 và dự đoán khả năng
phản ứng với kháng thể đơn dòng (mAb1) của
trình tự amino acid suy diễn theo kết quả công
bố của cơ sở dữ liệu PubMLST (Bảng 1). Cụ
thể, trình tự ba vùng biến đổi VR1, VR2 và
VR3 của gen porA được submit lên cơ sở dữ
liệu PubMLST để gọi các trình tự allele tương
ứng. Mỗi allele của các vùng biến đổi đều được
định danh bắt đầu bởi tiền tố P1, số tiếp sau là
họ trình tự tương ứng (family), và thứ tự xuất
hiện chủng (VD: VR1: P1.7-2). Trong trình tự
gen porA của 19 chủng viêm màng não thu thập
được trong nghiên cứu này, vùng biến đổi VR1
thể hiện mức độ đa hình cao nhất, gồm 6 allele
P1.20, P1.18, P1.22, P1.22-25, P1.7-2 và
P1.121-24; tiếp đó là vùng biến đổi VR2 với 4
allele đã biết (2, 9, 14, 13-2) và một nhóm allele
mới chưa xác định (X). Vùng biến đổi VR3
phân thành 4 biến dị allele, 26-2, 38-1, 36 và
Trần Xuân Thạch et al.
170
35-1. Đáng chú ý, một biến dị allele thuộc VR1,
P1.7-2, là biến dị khiến cấu trúc protein dựa trên
trình tự amino acid suy diễn bị ẩn, giảm khả
năng nhận biết của kháng thể đơn dòng (mAb)
đối với epitope này. Bên cạnh đó, trình tự
amino acid suy diễn của allele mới chưa xác
định thuộc vùng VR2 phát hiện trên 5/19 chủng
thuộc nghiên cứu này không thể hiện tính đặc
hiệu rõ rệt với các trình tự mAb đã biết, đồng
nghĩa với việc có khả năng các chủng viêm
màng não mang biến dị allele này không đáp
ứng với vaccine kháng NmB hiện có.
Bảng 1. Danh sách các chủng N. meningitidis cung cấp trình tự gen PorA cho phân tích tương quan về di
truyền
Ký hiệu
mẫu
Địa điểm thu
mẫu
Năm
phân
lập
Nhóm
huyết
thanh
Nhóm dưới huyết thanh
VR1a VR2b VR3c Khả năng
phản ứng
với mAb1d
1237C Hải Phòng 2012 C P1.20 2 26-2 +
37C Hải Phòng 2012 B P1.20 2 26-2 +
40C Hải Phòng 2012 C P1.20 2 26-2 +
14155 Hà Nội 2014 C P1.20 2 26-2 +
14156 Hà Nội 2014 B/C P1.20 2 26-2 +
14157 Hà Nội 2014 C P1.20 2 26-2 +
14072 Bắc Giang 2014 B P1.18 X 38-1 X
14075 Bắc Giang 2014 B P1.18 X 38-1 X
14089 Bắc Giang 2014 B P1.18 X 38-1 X
1513 Hà Nội 2015 B P1.18 X 38-1 X
17084 Hà Nội 2017 B P1.22 9 35-1 +
17088 Hà Nội 2017 B P1.22-25 X 36 X
17090 Hà Nội 2017 B P1.22-25 14 36 X
14196 Thái Nguyên 2014 B P1.7-2 13-2 35-1 +H
16408 Hà Nội 2016 B P1.7-2 14 36 +H
16416 Hà Nội 2016 B P1.7-2 14 36 +H
Ngọc Vĩnh Phúc 2009 B P1.7-2 14 36 +H
16406 Hà Nội 2016 B P1.7-2 14 36 +H
1532 Hà Nội 2015 B P1.12-24 13-12 35-1 +
“a,b,c”: Kết quả định danh khi so sánh trình tự DNA xác định vùng biến đổi (VR), “d”: khả năng phản ứng với
kháng thể đơn dòng mAb xác định theo ngân hàng dữ liệu pubMLST (Oxford, Vương quốc Anh), +: có phản
ứng, X: chưa xác định, H (hidden): Epitope bị ẩn và chỉ phản ứng khi gen porA biến đổi.
Kết quả so sánh trình tự chuỗi amino acid
suy diễn từ các chủng Việt Nam với các đoạn
peptide từ ngân hàng dữ liệu pubMLST được
trình bày ở Hình 1. Ba trình tự amino acid được
lựa chọn để so sánh với các trình tự protein
PorA của các chủng Việt Nam là X57183 (family
18 mAb-), X77425 (family 20 mAb+), X57181
(family 22 mAb1+). Đây là những trình tự được
sử dụng phát triển vaccine NmB phổ biến hiện
nay. Từ trình tự chuỗi amino acid cho thấy 4/5
chủng Việt Nam mang allele mới chưa xác định
của vùng biến đổi VR2 (chủng 14072, 14075,
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 167-175, 2020
171
14089 và 1513) đều có chung một biến dị amino
acid là G176àD. Riêng chủng 14075 mang thêm
biến dị X167àV và chèn ba amino acid VTV tại
vị trí 168-170. Chủng còn lại, 17088, là chủng
duy nhất mang biến dị thay thế 1 amino acid
D172àV.
Hình 1. Trình tự amino acid suy diễn protein PorA của các chủng N. meningitidis lưu hành tại miền Bắc Việt
Nam với các trình tự porA truy cập từ ngân hàng dữ liệu PubMLTS Neisseria spp. (18, 20, 22).
Trần Xuân Thạch et al.
172
Phân tích mối quan hệ di truyền phát sinh
chủng loại của các chủng N. meningitidis
Sử dụng phần mềm MEGA7 bằng phương
pháp “tối đa tương đồng” với độ tin cậy
bootstrap 500, kết quả đa hình và mối quan hệ
phát sinh chủng N. meningitidis tại miền Bắc
Việt Nam dựa vào trình tự amino acid của
protein PorA cho thấy 2 nhóm phát sinh rõ rệt.
Nhóm 1 với 6 chủng tập hợp thành một cụm
riêng biệt, trong đó 3 chủng 37C, 14157, 14156
có khoảng cách di truyền bằng nhau thể hiện sự
tương đồng cao về nguồn gốc tiến hóa phân tử.
Có quan hệ phát sinh gần gũi nhất với nhóm 1
là chủng 1513, bản thân 1513 lại hình thành một
cụm tiến hóa với hai chủng 14196 và 1532.
Hướng tiến hóa còn lại lập thành nhóm 2 gồm
đa số các chủng N. meningitidis thu thập được
trong nghiên cứu này, với 13 chủng (68,4%) lập
thành một cụm có khoảng cách di truyền phân
tử rất gần gũi. Đặc biệt, 3 chủng thế giới (18,
20, 22) được sử dụng phổ biến trong thành phần
các vaccine kháng NmB trên thế giới đều thuộc
nhóm 2, hơn nữa 3 chủng nói trên chia 13
chủng của Việt Nam làm 3 nhóm tách biệt rõ
rệt. Riêng chủng 17084 lập thành một nhánh
độc lập so với các chủng còn lại trong nhóm 2
(Hình 2). Khái quát có thể thấy trình tự amino
acid gen porA củacác chủng N. meningitidis ở
miền Bắc Việt Nam phân thành hai nhánh tiến
hóa rất rõ rệt, trong đó các chủng thuộc mỗi
nhánh có mức độ biến dị không quá lớn.
Hình 2. Mối quan hệ phát sinh chủng loại dựa trên trình tự amino acid suy diễn từ gen porA của các chủng N.
meningitidis tại miền Bắc Việt Nam, phân tích bằng phần mềm MEGA7, theo phương pháp tối đa tương đồng
(Maximum likelihood). Đơn vị chiều dài các nhánh là số sai khác nucleotide trên tổng số nucleotide so sánh.
Ba allele 22, 18 và 20 (khoanh tròn) là những trình tự allele được sử dụng để sản xuất vaccine NmB đang lưu
hành trên thế giới hiện nay.
Khi so sánh trình tự nucleotide của gen
porA của các chủng N. meningitidis trong
nghiên cứu này, kết quả phân tích quan hệ phát
sinh chủng loại sử dụng phương pháp tối đa
tương đồng của phần mềm MEGA7 độ tin cậy
bootstrap 500 được thể hiện ở Hình 3. Một cách
trực quan có thể nhận định cây phát sinh chủng
loại dựa trên trình tự nucleotide của gen porA
thể hiện mức đa dạng di truyền cao hơn so với
khi phân tích bằng trình tự amino acid, phân ra
làm 3 nhóm chính tương đối rõ rệt. Nhóm 1
gồm 4 chủng: 14075, 14072, 14089, 1513 thuộc
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 167-175, 2020
173
nhóm huyết thanh B có đặc điểm di truyền phân
tử gần nhau nhất, trong nhánh này có sự phân ly
về mặt di truyền gần với chủng N. meningitidis
18 ở nước Anh (Maiden et al., 1991) mang
vùng biến đổi VR1.18. Đáng chú ý, các chủng
trong nhánh này đều mang biến dị allele chưa
xác định thuộc vùng biến đổi VR2, có khả năng
không đáp ứngvới các kháng thể đơn dòng mAb
đã biết (Bảng 1). Có quan hệ phát sinh gần gũi
nhất với các chủng nhóm 1 là cụm phát sinh của
hai chủng 14196 và 1532. Vùng biến đổi VR1
của hai chủng này có sai khác allele, lần lượt là
P1.7-2 và P1.14-24, ngoài ra hai vùng biến đổi
VR2 (13-2) và VR3 (35-1) giống nhau.
Nhóm 2 gồm 6 chủng N. meningitidis: 40C,
1237C, 37C, 14155, 14156, 14157 của Việt
Nam tạo thành một cụm tương đồng di truyền,
có đặc điểm phân tử giống nhau ở cả 3 phân
vùng biến đổi VR1, VR2, VR3 và có chung
nguồn gốc phát sinh với chủng N. meningitidis
20 (Anh Quốc). Nhánh còn lại lập thành nhóm 3
gồm 4 chủng: Ngọc, 16406, 16408, 16416 với 3
vùng biến đổi giống nhau và có vùng epitope bị
ẩn. Cùng nguồn gốc phát sinh với cụm 4 chủng
nói trên là 2 chủng 17088 và 17090. Chủng
17084 khác biệt nhất trong tổng số 19 chủng N.
meningitidis nhóm B của Việt Nam ở 3 phân
vùng biến đổi VR1.22,9,35-1, tách hẳn thành
một nhánh riêng biệt có đặc điểm gen gần nhất
với chủng N. meningitidis 22 (Anh Quốc).
Hình 3. Quan hệ di truyền phát sinh chủng loại giữa các chủng N. meningitidis theo thành phẩn nucleotide gen
porA. Độ dài các nhánh cây phát sinh chủng loại dựng theo tỷ lệ, đơn vị mỗi sai khác nucleotide ở một vị trí.
Ba allele 22, 18 và 20 (khoanh tròn) là những trình tự allele được sử dụng để sản xuất vaccine NmB đang lưu
hành trên thế giới hiện nay
KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu thập
được tổng số 19 chủng vi khuẩn não mô cầu từ
mẫu dịch nhầy họng hoặc dịch não tủy của các
chiến sĩ tại các trại huấn luyện chiến sĩ trên địa
Trần Xuân Thạch et al.
174
bàn miền bắc Việt Nam trong giai đoạn 2008 –
2017. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã nhận
diện được các vị trí biến đổi đa hình trong trình
tự nucleotide và amino acid suy diễn của ba
phân vùng biến đổi chính thuộc gen porA là
VR1, VR2 và VR3, dự đoán được khả năng
phản ứng với các kháng thể đơn dòng mAb phổ
biến hiện đang được sử dụng để phát triển
vaccine kháng vi khuẩn não mô cầu nhóm B.
Đặc biệt, chúng tôi đã phát hiện được 5/19
chủng nghiên cứu mang các biến dị thuộc phân
vùng biến đổi VR2 của gen porA thuộc nhóm
allele mới chưa được công bố, hiện chưa có kết
quả thử nghiệm đáp ứng miễn dịch với các
kháng thể đơn dòng đã biết. Đây là những kết
quả bước đầu thể hiện tính đặc trưng cao và
nhiều đặc điểm miễn dịch mới của các chủng
não mô cầu đang lưu hành tại Việt Nam.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện
bằng kinh phí tài trợ của Quỹ Phát triển Khoa
học và Công nghệ quốc gia Nafosted cho đề tài
mã số 106-NN.02-2015.66. Các tác giả xin chân
thành cảm ơn sự hỗ trợ của Viện Công nghệ
sinh học và Viện Y học dự phòng Quân đội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bjune G, Hoiby E, Gronnesby J, Arnesen O,
Fredriksen JH, Lindbak A, Nokleby H, Rosenqvist
E, Solberg L, Closs O (1991) Effect of outer
membrane vesicle vaccine against group B
meningococcal disease in Norway. Lancet
338(8775): 1093-1096.
Boslego J, Garcia J, Cruz C, Zollinger W, Brandt B,
Ruiz S, Martinez M, Arthur J, Underwood P, Silva
W (1995) Efficacy, safety, and immunogenicity of a
meningococcal group B (15: P1. 3) outer membrane
protein vaccine in Iquique, Chile. Vaccine 13(9):
821-829.
Breakwell L, Whaley M, Khan UI, Bandy U,
Alexander-Scott N, Dupont L, Vanner C, Chang H-
Y, Vuong JT, Martin S (2018) Meningococcal
carriage among a university student population–
United States, 2015. Vaccine 36(1): 29-35.
Cartwright K, Morris R, Rümke H, Fox A, Borrow
R, Begg N, Richmond P, Poolman J (1999)
Immunogenicity and reactogenicity in UK infants of
a novel meningococcal vesicle vaccine containing
multiple class 1 (PorA) outer membrane proteins.
Vaccine 17(20-21): 2612-2619.
Filippis I, de Andrade CF, Silva L, Prevots DR,
Vicente ACP (2007) PorA variable antigenic regions
VR1, VR2, and VR3 of Neisseria meningitidis
serogroups B and C isolated in Brazil from 1999 to
2004. Infect Immun 75(7): 3683-3685.
Findlow J, Taylor S, Aase A, Horton R, Heyderman
R, Southern J, Andrews N, Barchha R, Harrison E,
Lowe A (2006) Comparison and correlation of
Neisseria meningitidis serogroup B immunologic
assay results and human antibody responses
following three doses of the Norwegian
meningococcal outer membrane vesicle vaccine
MenBvac. Infect Immun 74(8): 4557-4565.
Fletcher LD, Bernfield L, Barniak V, Farley JE,
Howell A, Knauf M, Ooi P, Smith RP, Weise P,
Wetherell M (2004) Vaccine potential of the
Neisseria meningitidis 2086 lipoprotein. Infect
Immun 72(4): 2088-2100.
Frasch CE (1995) Meningococcal vaccines: past,
present and future. In Cartwright K, ed.
Meningococcal Disease. New York: Wiley 245-283.
Kumar S, Stecher G, Tamura K (2016) MEGA7:
molecular evolutionary genetics analysis version 7.0
for bigger datasets. Mol Biol Evol 33(7): 1870-1874.
Lahra M, Enriquez R (2014) Australian
Meningococcal Surveillance Programme annual
report, 2013. Commun Dis Intell Q Rep 38(4): E301-
308.
Moraes JC, Camargo M, Hidalgo NR, Barbosa HA,
Gattas V, Vasconcelos HdG, Sacchi CT, Gral IL,
Perkins B, Wenger J (1992) Protective efficacy of a
serogroup B meningococcal vaccine in Sao Paulo,
Brazil. Lancet 340(8827): 1074-1078.
Maiden M, Suker J, McKenna A, Bygraves J,
Feavers I (1991) Comparison of the class 1 outer
membrane proteins of eight serological reference
strains of Neisseria meningitidis. Mol Microbiol
5(3): 727-736.
Martin S, Borrow R, Van Der Ley P, Dawson M,
Fox A, Cartwright K (2000) Effect of sequence
variation in meningococcal PorA outer membrane
protein on the effectiveness of a hexavalent PorA
outer membrane vesicle vaccine. Vaccine 18(23):
2476-2481.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 167-175, 2020
175
Nguyễn Trần Chính (1992) Bộ môn Truyễn nhiễm,
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. BỆNH
TRUYỀN NHIỄM. Nhà xuất bản Hội Y Dược học
Thành phố Hồ Chí Minh 255 -271.
Organization WH, Control CfD, Prevention (2011)
Laboratory methods for the diagnosis of meningitis
caused by neisseria meningitidis, streptococcus
pneumoniae, and haemophilus influenzae: WHO
manual.
Oster P, Lennon D, O’Hallahan J, Mulholland K,
Reid S, Martin D (2005) MeNZB™: a safe and
highly immunogenic tailor-made vaccine against the
New Zealand Neisseria meningitidis serogroup B
disease epidemic strain. Vaccine 23(17-18): 2191-
2196.
Prevention ECfD, Control (2013) Surveillance of
invasive bacterial diseases in Europe, 2012, ECDC
Stockholm, Sweden.
Rosenstein NE, Perkins BA, Stephens DS, Popovic
T, Hughes JM (2001) Meningococcal disease. N
Engl J Med 344(18): 1378-1388.
Sierra G, Campa H, Varcacel N, Garcia I, Izquierdo
P, Sotolongo P, Casanueva G, Rico C, Rodriguez C,
Terry M (1991) Vaccine against group B Neisseria
meningitidis: protection trial and mass vaccination
results in Cuba. NIPH Ann14(2): 195-207;
discussion 208-110.
Tryfinopoulou K, Kesanopoulos K, Xirogianni A,
Marmaras N, Papandreou A, Papaevangelou V,
Tsolia M, Jasir A, Tzanakaki G (2016)
Meningococcal carriage in military recruits and
university students during the Pre MenB vaccination
era in Greece (2014-2015). PloS One 11(12):
e0167404.
Urwin R, Russell JE, Thompson EA, Holmes EC,
Feavers IM, Maiden MC (2004) Distribution of
surface protein variants among hyperinvasive
meningococci: implications for vaccine design.
Infect Immun72(10): 5955-5962.
POLYMORPHISM AT VARIABLE REGIONS (VRs) OF porA GENE FROM
Neisseria meningitidis STRAINS ISOLATED IN NORTHERN VIETNAM
Tran Xuan Thach1, Le Thu Trang1, Trieu Phi Long2, Nguyen Thi Hoa1, Dong Van Quyen1,3,
Nguyen Minh Huong1
1Institute of Biotechnology, Vietnam Academy of Science and Technology
2Military Institute of Preventative Medicine
3University of Science and Technology of Hanoi, Vietnam Academy of Science and Technology
SUMMARY
Meningococcal bacterium Neisseria meningitidis is one of the major causes of meningitis
worldwide. Currently in Vietnam, N. meningitidis B and C are the most prevalent invasive
serogroups. N. meningitidis expresses two major transmembrane proteins, PorA and PorB, of which
PorA showed high levels of polymorphism among strains and has been studied as one component of
vaccines against N. meningitidis B. Polymorphisms in porA gene clustered into three variable
regions VR1, VR2 and VR3. In this study, we sequenced the entired porA gene of 19 N.
meningitidis strains isolated from military units in northern Vietnam during the period 2008 – 2017
in order to: (1) evaluate the polymorphism of porA gene at nucleotide level and predict its immuno-
reactivity from annotated amino acide sequences; and (2) compare porA variants of Vietnamese
strains with known strains worldwide. Our results showed a high level of polymorphisms among
Vietnamese strains, with the highest polymorphism found in VR1, followed by VR2 and VR3.
Notably, 5/19 strains in this study showed novel variants at VR2 with unknown immunological
reactivity. This result suggested potential novel immunological characteristics of meningococcal
strains from Vietnam.
Keywords: Neisseria meningitidis, porA, variable region VR, Vietnam, vaccine
Các file đính kèm theo tài liệu này:
da_hinh_cac_vung_bien_doi_variable_region_vrs_thuoc_gen_pora.pdf