KẾT LUẬN
Bãi biển Nha Trang biến đổi tương đối rõ
ràng theo thời gian. Vào mùa gió Đông Bắc bãi
chịu tác động mạnh của sóng lớn nên bị xói lở
mạnh, hạ thấp và thu hẹp, ngược lại vào mùa
gió Tây Nam bãi được bồi tụ và mở rộng về
phía biển. Tuy nhiên, đoạn từ cầu cảng
Vinpearl đến mũi Chụt, do ảnh hưởng của cầu
cảng đã ngăn chặn dòng bồi tích dọc bờ di
chuyển từ bắc xuống nam, dẫn đến thiếu hụt
trầm tích làm cho bãi biển bị xói lở mạnh.
Việc xác định cán cân trầm tích qua số liệu
từ năm 2007 đến 2016 cho thấy bãi biển đang
dần thu hẹp. Cán cân trầm tích đang ở trạng
thái thiếu hụt, bởi lượng cân bằng trầm tích
mang vào bãi luôn ít hơn lượng cân bằng mang
ra, điều này chứng tỏ rằng bãi biển đang có xu
thế xói lở do cán cân vật liệu không cân bằng
giữa mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông Bắc.
Hiện nay, nguồn cung cấp trầm tích cho bãi
biển Nha Trang đã bị hạn chế, bởi vì sông Cái
nằm ở phía bắc bãi, là nguồn cung cấp vật liệu
chính cho bãi, nhưng bị ảnh hưởng bởi các
công trình đập thủy lợi, khai thác cát, đã làm
giảm tải nguồn vật liệu đưa ra, dẫn đến bãi bị
xói lở. Ngoài ra, các công trình ven bờ như cầu
cảng và các hoạt động lấn biển, làm ảnh hưởng
không ít đến quá trình vận chuyển bồi tích dọc
bờ, dẫn đến khu bờ phía nam vịnh Nha Trang
bị thiếu hụt lớn nguồn vật liệu cung cấp nên bãi
biển bị xói lở mạnh.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm biến đổi hình thái địa hình bãi biển Nha Trang, Khánh Hòa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
124
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 2018: 124-133
DOI: 10.15625/1859-3097/18/2/8785
ĐẶC ĐIỂM BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI ĐỊA HÌNH
BÃI BIỂN NHA TRANG, KHÁNH HÒA
Trần Văn Bình*, Nguyễn Đình Đàn, Bùi Hồng Long,
Phạm Bá Trung, Trịnh Minh Cƣờng, Nguyễn Hữu Hải
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*
E-mail: tranbinhion@gmail.com
Ngày nhận bài: 12-10-2016/ Ngày chấp nhận đăng: 3-1-2017
TÓM TẮT: Bài báo phân tích đặc điểm biến đổi hình thái địa hình bãi biển Nha Trang trên cơ
sở so sánh các trắc diện địa hình bãi biển, với số liệu đo đạc từ tháng 7/2008 đến tháng 9/2016, cụ
thể vào các thời kỳ gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam tại các vị trí cố định. Đồng thời, cán
cân trầm tích được tính toán và phân tích bằng phương pháp đường cong đẳng giá trị. Kết quả cho
thấy, bãi biển được bồi tụ vào mùa gió Tây Nam và bị xói lở vào mùa gió Đông Bắc. Tuy nhiên, do
thiếu hụt bồi tích nên bãi biển có xu thế thu hẹp. Bài báo còn phân tích một số ảnh hưởng của các
công trình hiện diện tại bãi biển Nha Trang, như cầu cảng Vinpearl, cảng Hải Quân và các đập chắn
trên lưu vực sông Cái khi xét đến nguồn cung cấp vật liệu bồi tích.
Từ khóa: Bãi biển, Nha Trang, hình thái địa hình, xói lở, cán cân vật liệu.
MỞ ĐẦU
Bãi biển Nha Trang nằm ở phía tây vịnh
Nha Trang, thuộc địa phận tỉnh Khánh Hòa, là
một trong 29 vịnh biển đẹp nhất thế giới, có
tiềm năng rất lớn về phát triển du lịch và các
dịch vụ đi kèm, nơi đây có bãi tắm sạch đẹp kết
hợp với sự hài hòa của các nguồn tài nguyên,
cảnh quan thiên nhiên đã ban tặng, là điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của địa
phương, trong khu vực cũng như cả nước.
Hiện nay, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
toàn cầu (nắng hạn kéo dài vào mùa khô, biến
động về thời gian và lượng mưa vào mùa
mưa,...) cùng với sự tác động của con người đã
xây dựng các công trình thủy lợi (các đập chắn,
hồ chứa trên các lưu vực sông) đã làm thay
đổi lượng nước sông ra biển, đồng thời ngăn
cản phần lớn nguồn vật liệu bồi tích từ lục địa
đưa ra cung cấp cho đới bãi. Vào mùa mưa,
sóng biển do gió mùa Đông Bắc, áp thấp nhiệt
đới cùng với hiện tượng triều cường, đã tác
động mạnh đến vùng bờ làm cho bãi biển bị xói
lở và có xu thế thu hẹp, dẫn đến thay đổi hình
thái địa hình khu vực này, đặc biệt là xói lở
mạnh tại các khu vực: Ủy ban Nhân dân
(UBND) tỉnh, Công viên Bạch Đằng và Xóm
Chụt (Phường Vĩnh Nguyên) [1]. Cho đến nay,
các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn
đề này còn rất ít. Chính vì vậy việc nghiên cứu
hiện trạng và xu thế biến đổi bãi biển Nha
Trang có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở đưa ra
những dự báo, cảnh báo tới các cấp chính
quyền địa phương, từ đó nhằm giảm thiểu tác
động của tai biến xói lở bờ biển.
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Tài liệu. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Viện Khoa
học và Công nghệ Việt Nam (2009) “Đánh giá
tác động của các trường sóng trong gió mùa
đến dải ven biển Nam Trung Bộ từ Phú Yên
đến Bình Thuận và đề xuất các giải pháp giảm
Đặc điểm biến đổi hình thái địa hình bãi biển
125
nhẹ thiệt hại phục vụ phát triển bền vững”. Chủ
nhiệm TS. Bùi Hồng Long (Viện Hải dương
học) và các tài liệu liên quan đã công bố.
Tài liệu từ các chuyến khảo sát thực địa, đo
đạc chi tiết trắc diện địa hình bãi biển tại 6 mặt
cắt bằng máy DGPS (Differential Global
Positioning System) từ năm 2007 đến năm 2016
bao gồm các đợt khảo sát cụ thể: Tháng 11/2007,
8/2008, 3/2009, 11/2014, 4/2015, 7/2015 và
4/2016, do Viện Hải dương học chủ trì.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát đo đạc. Đã tiến hành
khảo sát và thu mẫu trầm tích bãi biển, chụp
hình ảnh tư liệu và đo trắc diện địa hình bãi
biển bằng máy DGPS-ProMark2, tại các mặt
cắt cố định dọc theo bãi biển Nha Trang, từ
phía nam cửa sông Cái đến Mũi Chụt (hình 1).
Việc thu mẫu trầm tích bãi được thực hiện tại
vị trí chân bãi ở các mặt cắt cố định, đồng thời
tiến hành đo đạc (đo lặp) trắc diện địa hình bãi
tại 6 mặt cắt phân bố dọc bãi biển có vị trí cố
định (bảng 1), là các vị trí có sự biến động bãi
biển và cũng là nơi chịu tác động của các yếu
tố động lực khác nhau như sóng, gió và dòng
chảy ven bờ. Các mặt cắt này được dẫn từ mốc
cao độ Nhà nước bằng máy DGPS-ProMark2,
đồng thời đo đạc chi tiết tại các mặt cắt trong
các khoảng thời gian khác nhau (mùa gió Đông
Bắc, mùa gió Tây Nam). Đây là phương pháp
định lượng cho phép xác định sự biến động bãi
biển theo mùa. Kết quả của các đợt khảo sát
thực địa là những tài liệu, số liệu để tính toán
và xây dựng các hình vẽ, ảnh chụp, mô tả, hình
thái địa hình, đặc điểm thành phần vật chất và
động lực phát triển địa hình, cùng với nguồn số
liệu được tổng hợp làm kết quả kiểm chứng
hiện trạng xói lở bờ biển. Từ đó tìm hiểu, đánh
giá sự biến động bãi biển trong khu vực nghiên
cứu theo thời gian.
Hình 1. Sơ đồ vị trí đo trắc diện địa hình
bãi biển Nha Trang
Bảng 1. Tọa độ vị trí các trắc diện địa hình bãi biển
STT Ký hiệu Mặt cắt Kinh độ Đông Vĩ độ Bắc
1 MC.1-1a 1a 109°11’50,28” 12°15’21,08”
2 MC.1-1 1 109°11’48,63” 12°15’15,44”
3 MC.2-2 2 109°11’47,61” 12°14’49,99”
4 MC.3-3 3 109°11’49,54” 12°14’22,29”
5 MC.4-4 4 109°12’6,75” 12°13’31,26”
6 MC.5-5 5 109° 12’26,82” 12°13’3,18”
7 MC.6-6 6 109°12’41,17” 12°12’49,33”
Phương pháp đường cong đẳng giá trị và
phân tích cán cân trầm tích. Phương pháp
nghiên cứu cán cân vật liệu trầm tích ở khu bờ
phổ biến nhất hiện nay là phương pháp so sánh
từ các trắc diện ngang của sườn và những phần
khô cạn của bãi biển trong khoảng thời gian đã
biết. Tiến hành nội suy giữa những cặp trắc
diện ngang cạnh nhau. Đường cong cán cân
trầm tích thu được tương ứng là những biến đổi
đã xảy ra trong địa hình bãi biển. Để thực hiện
phương pháp này, vùng nghiên cứu đã được
tiến hành đo lặp vào lúc mực triều thấp nhất,
với các lần đo khác nhau trên cùng một vị trí
nhất định, các vị trí này được dẫn từ mốc cao
độ Nhà nước. Đồng thời với phương pháp này
để xử lý số liệu đo trắc diện ngang là thành lập
những bình đồ các đường đẳng trị biến dạng
của địa hình trong khoảng thời gian giữa các
Trần Văn Bình, Nguyễn Đình Đàn,...
126
lần đo đạc và có ý nghĩa đặc biệt khi phải xác
định vị trí không gian của những biến đổi nào
đó của cán cân trầm tích [2]. Từ kết quả tính
toán, cho ta phân tích quá trình biến đổi đường
bờ cũng như bãi biển diễn ra trên mỗi đoạn bờ
theo thời gian.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm địa hình bãi biển Nha Trang. Địa
hình bãi biển Nha Trang có dạng cánh cung ôm
lấy phần bờ phía tây vịnh Nha Trang, với chiều
dài gần 6 km, được thành tạo do quá trình di
chuyển bồi tích theo hai mùa khác nhau [3]. Do
bãi nằm về phía nam cửa sông Cái nên địa hình
thuộc dạng tích tụ cửa sông, sóng thống trị [4].
Bãi biển Nha Trang với các lợi thế về dịch vụ
đô thị, cảnh quan thiên nhiên đẹp (Hòn Ông,
Hòn Tre, Hòn Tằm, Hòn Lao, Hòn Mun, Hòn
Hèo, Hòn Bồng Nguyên, Hòn Gốm) và loại
hình du lịch biển đa dạng là một trong những
trung tâm du lịch biển của Việt Nam. Chiều
rộng bãi biển thay đổi theo mùa, mùa gió Đông
Bắc thường không quá 20 m, mùa gió Tây Nam
từ 25 - 30 m, có khi rộng hơn [5].
Thành phần vật liệu cấu tạo bãi biển chủ
yếu là cát có cấp hạt từ nhỏ đến thô, ở phía bắc
là cát hạt nhỏ đến hạt trung, ở phía nam là cát
hạt trung đến hạt thô. Địa hình bãi biển thuộc
dạng bãi tích tụ - xói lở do tác động của sóng
chiếm ưu thế [6], do đó, bãi biển liên tục bị
thay đổi theo mùa. Vào mùa gió Tây Nam bãi
biển thường được bồi tụ, nâng cao thêm và mở
rộng, còn vào mùa gió Đông Bắc thi ngược lại,
bị xói lở - hạ thấp và thu hẹp.
Về hình thái địa hình bãi biển thoải đều và
nghiêng về phía biển, góc dốc trung bình của
bãi từ 7 - 8o. Theo các mặt cắt ngang thì độ dốc
địa hình bãi trên triều không lớn, vào mùa khô
theo mặt cắt dọc thì hình thái địa hình bãi có xu
thế thấp dần từ phía bắc xuống phía nam (đoạn
từ UBND tỉnh đến Quảng Trường 2 tháng 4).
Điều này cho thấy bãi bồi do sóng và gió là chủ
yếu, từ phía nam Quảng Trường 2 tháng 4 đến
cảng Vinpearl do ảnh hưởng của đảo chắn bờ
(đảo Hòn Tre) nên bãi biển có phần ít bị biến
đổi hơn. Tuy nhiên, tại đoạn bờ từ phía nam
cảng Vinpearl đến Mũi Chụt, do không đủ
nguồn cung cấp vật liệu cho đới bãi nên bãi
biển hẹp và dốc hơn.
Hiện trạng và xu thế biến đổi địa hình bãi
biển. Trong thời gian từ tháng 11/2007 đến
3/2009, khu vực bãi biển từ phía nam cầu Trần
Phú đến Quảng Trường 2 tháng 4, với chiều dài
đoạn bờ trên 2 km, trắc diện bãi biến đổi rõ rệt
từ tháng 11/2007 (mùa gió Đông Bắc) đến tháng
8/2008 (mùa gió Tây Nam), bề rộng bãi thay đổi
từ 5 - 9 m, có nơi lên tới 11 m (trước Bưu Điện
tỉnh). Như vậy, hình thái bãi biến đổi theo mùa
rất rõ, mùa gió Tây Nam bãi được bồi tụ nâng
cao thêm và mở rộng, ngược lại vào mùa gió
Đông Bắc bãi biển bị xói lở - hạ thấp và thu hẹp,
hình thành dạng feston rất điển hình [7].
Sự biến đổi hình thái địa hình bãi biển theo
thời gian, tại khu vực nghiên cứu được thể hiện
trên các hình 2, 4, 5, 7, 9.
Tại mặt cắt 1a, đã thực hiện 5 lần đo trắc
diện địa hình bãi biển (hình 2). Tính từ lần 1
(11/2014) là thời kỳ bãi biển ở đây đã bị xói lở
mạnh nhất (hình 3a), do vậy, đến lần 2 (4/2015)
đã được bồi lại là 5,1 m. Đến lần 3 (7/2015), bãi
biển vẫn tiếp tục được bồi thêm là 14,4 m so với
lần 2; nhưng đến lần 4 (4/2016) lại bị xói lở là
7,0 m. Đến lần 5 (9/2016) bãi biển được bồi tụ là
9,8 m so với lần 4. Tuy nhiên so với lần 3 thì bị
xói lở phần bãi trên triều, bồi ở phần bãi triều.
Như vậy, đây là khu vực bãi biển bị biến đổi
mạnh mẽ theo mùa, xói lở diễn ra mạnh vào
mùa gió Đông Bắc (hình 3a), ngược lại bồi tụ
mạnh vào mùa gió Tây Nam (hình 3b).
Hình 2. Trắc diện địa hình bãi biển tại mặt cắt
1a (MC.1-1a), đoạn trước UBND tỉnh
Tại mặt cắt 1, đã được thực hiện 8 lần đo
trắc diện địa hình bãi (hình 4). Theo kết quả xử
lý số liệu đo đạc, tại đây tính từ lần 1 (11/2007)
đến lần 2 (8/2008) bãi biển được bồi tụ là
4,1 m; đến lần 3 (3/2009) thì bãi biển đã bị xói
mạnh xấp xỉ đạt 6,7 m so với lần 2; đến lần 4
(11/2014) bãi biển vẫn tiếp tục bị xói nhưng
không đáng kể; đến lần 5 (4/2015) bãi biển vẫn
tiếp tụ bị xói lở thêm so với lần 3 (3/2009) xấp
xỉ là 0,9 m; đến lần 6 (7/2015) bãi biển được
bồi tụ lại xấp xỉ là 5,7 m so với lần 5; đến lần 7
Đặc điểm biến đổi hình thái địa hình bãi biển
127
(4/2016) bãi biển bị xói lở là 5,9 m so với lần 6;
đến lần 8 (9/2016) bãi biển được bồi tụ là 4,5 m
so với lần 7. Tại đây, qua số liệu bẫy trầm tích
vào mùa gió Đông Bắc thì có dòng bồi tích dọc
bờ xuống phía nam và mang ra chiếm ưu thế,
vào mùa gió Tây Nam thì ngược lại.
a) b)
Hình 3. Bãi biển bị xói lở mạnh tại khu vực UBND tỉnh Khánh Hòa vào thời kỳ gió mùa
Đông Bắc (a - 3/2015) và bồi tụ lại vào thời kỳ gió mùa Tây Nam (b - 9/2016)
Hình 4. Trắc diện địa hình bãi biển tại mặt cắt 1
(MC.1-1), khu vực Bưu Điện tỉnh
Tại mặt cắt 2, đã thực hiện 8 lần đo trắc
diện địa hình bãi (hình 5). Từ lần 1 (11/2007)
đến lần 2 (8/2008) bãi biển được bồi tụ là
3,4 m; đến lần 3 (3/2009) bãi biển đã bị xói là
8,7 m so với lần 2; đến lần 4 (11/2014) bãi biển
ở đây vẫn tiếp tục bị xói thêm 3,0 m; đến lần 5
(4/2015) bãi biển ở đây được bồi tụ là 1,2 m so
với lần 4; đến lần 6 (7/2015) bãi biển vẫn tiếp
tục được bồi xấp xỉ 3,9 m; đến lần 7 (4/2016)
bãi biển bị xói lở là 4,3 m so với lần 6; đến lần
8 (9/2016) bãi biển được bồi lại là 3,4 m.
Hình 5. Trắc diện địa hình bãi biển tại mặt cắt 2
(MC.2-2), đường Lý Tự Trọng
Tại mặt cắt 3, cũng đã thực hiện 8 lần đo
trắc diện địa hình bãi (hình 6). Từ lần 1
(11/2007) đến lần 2 (8/2008) bãi biển được bồi
tụ là 1,7 m; đến lần 3 (3/2009) bãi biển bị xói là
4,2 m so với lần 2; đến lần 4 (tháng 11/2014)
bãi vẫn tiếp tục bị xói thêm 6,6 m; đến lần 5
(4/2015) bãi biển ở tại vị trí này được bồi lại là
2,8 m so với lần 4; đến lần 6 (7/2015) bãi biển
vẫn tiếp tục được bồi xấp xỉ 4,2 m; đến lần 7
(4/2016) qua mùa gió Đông Bắc thì bãi biển ở
đây bị xói lở là 3,6 m; đến lần 8 (9/2016) bãi
biển được bồi lại xấp xỉ 2,7 m. Như vậy, bãi
biển được bồi nâng cao thêm trong mùa gió
Tây Nam, ngược lại xói lở và hạ thấp trong
mùa gió Đông Bắc.
Hình 6. Trắc diện địa hình bãi biển tại mặt cắt 3
(MC.3-3), Quảng Trường 2 tháng 4
Tại mặt cắt 4, đã thực hiện 5 lần đo trắc
diện địa hình bãi biển (hình 7). Từ lần 1
(11/2014) đến lần 2 (4/2015) bãi biển được bồi
và mở rộng về phía biển xấp xỉ 1,5 m; đến lần 3
Trần Văn Bình, Nguyễn Đình Đàn,...
128
(7/2015), bãi biển vẫn tiếp tục được bồi thêm là
2,7 m so với lần 2; nhưng đến lần 4 (4/2016) thì
bãi biển bị xói lở, đồng thời thu hẹp bãi và bờ
dịch chuyển theo hướng giật lùi vào đất liền
xấp xỉ 3,7 m. Tại đây, vào thời điểm khảo sát
4/2016 thì bãi biển vẫn còn thể hiện vách xói lở
cao từ 0,4 - 0,6 m, đến tháng 9/2016 thì vách
xói lở trên bờ cát này vẫn tiếp tục hoạt động,
bãi biển bị xói lở thêm 1,43 m đồng thời tạo ra
vách xói lở cao hơn và phần vật liệu bị xói lở
bãi trên được đưa xuống bồi ngay ở chân bãi
triều thấp.
Hình 7. Trắc diện địa hình bãi biển tại mặt cắt 4
(MC.4-4), Công viên Thanh Niên
Tại mặt cắt 5, đã thực hiện 2 lần đo trắc
diện địa hình bãi biển (hình 8). Tại đây, vào
mùa gió Đông Bắc, trước tháng 4/2016 thì bãi
biển đã bị xói lở mạnh, sóng đã đánh sập bờ kè
Công viên Bạch Đằng (hình 9b), sau khi sập bờ
kè bãi biển ở đây đã có sự tác động của con
người, đó là xây dựng kè bão vệ bờ biển vào
tháng 5/2016, đồng thời san ủi không còn bãi
biển của tự nhiên. Mặc dù vậy, phần san ủi vật
liệu cũng được sóng biển gia công và đưa đi, để
lại các vách xói lở cao gần 1 m (hình 9a).
Ngoài ra, tại chỗ không bị ảnh hưởng của con
người, phía nam đoạn bãi này thì cũng để lại
vách xói lở trên bờ cát. Như vậy, bãi biển ở đây
vẫn có xu thế bị xói lở nhiều hơn.
Hình 8. Trắc diện địa hình bãi biển tại mặt cắt 5
(MC.5-5), Công viên Bạch Đằng
a) b)
Hình 9. Xói lở bãi biển tại Công viên Bạch Đằng vào tháng 4/2016 (a) và tháng 9/2016 (b)
Hình 10. Trắc diện địa hình bãi biển
tại mặt cắt 6 (MC.6-6), xóm Chụt
Tại mặt cắt 6, đã thực hiện 2 lần đo trắc
diện địa hình bãi biển (hình 10). Tính từ lần 1
(4/2016) là thời kỳ bãi biển đã trải qua mùa gió
Đông Bắc và bị xói lở mạnh, thậm chí sóng
biển đã đánh sập công trình, đến lần 2 (9/2016)
thì bãi biển có sự xói lở-bồi tụ đan xen ngay
trên đoạn bờ, đó là xói lở phần phía trên và bồi
tụ ở phần chân bãi. Tuy nhiên, tại đoạn bờ này
đã trải qua mùa gió Tây Nam, nhưng nếu xét về
cấn cân vật liệu bồi tích thì bãi biển không thấy
Đặc điểm biến đổi hình thái địa hình bãi biển
129
bồi tụ, do không có nguồn cung cấp vật liệu
cho đới bãi.
Cán cân trầm tích tại các trắc diện bãi biển
Nha Trang. Tương quan giữa lượng bồi tích
đưa đến một đoạn ở khu bờ và lượng bồi tích
mang đi gọi cán cân bồi tích [2]. Do đó, trên cơ
sở xây dựng các trắc diện địa hình bãi biển tại
các đoạn bờ khác nhau, tính toán lượng trầm
tích bị đưa ra khỏi miền bờ hoặc thu về bằng
cách lấy hai trắc diện chồng lên nhau mặt và
sườn bãi để tính hiệu diện tích (tức là sự biến
đổi của địa hình). Với kết quả tính toán như
vậy, tại mỗi mặt cắt trên một mét độ dài đường
bờ (đại diện cho một đoạn bờ), ta có thể tích
tính bằng mét khối hoặc khối lượng trầm tích bị
biến động để phân tích cán cân trầm tích trên
mỗi đoạn bờ.
Cán cân trầm tích theo mùa. Việc tính toán
cán cân trầm tích theo mùa được xác định qua 2
lần đo, vào mùa gió Đông Bắc và vào mùa gió
Tây Nam hoặc ngược lại, kết quả được thể hiện
tại bảng 2.
Tại bãi biển Nha Trang, từ UBND tỉnh đến
Mũi Chụt biến đổi mạnh theo mùa và theo từng
đoạn bờ, kéo theo đó là cán cân trầm tích trên
từng đoạn bãi biển cũng bị thay đổi. Kết quả từ
mặt cắt 1a (MC.1-1a) đến mặt cắt 6 (MC.6-6)
cho thấy rằng: Tại vị trí mặt cắt 1a bãi biển bị
biến động mạnh nhất theo thời gian từ 11/2014
đến 9/2016, do đó, các quá trình bồi tích mang
vào và mang ra cũng có sự thay đổi rất lớn, còn
tại các mặt cắt 1, 2, 3 và 4 ít biến động hơn. Sự
biến động mạnh tại bãi biển Nha Trang do ảnh
hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây
Nam. Vào mùa gió Đông Bắc, từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau có hướng gió chủ đạo là bắc
và đông bắc, thường có sóng lớn và dòng chảy
có hướng từ bắc xuống nam [8, 9], dòng chảy
mạnh nhất vào các tháng 10, 11 và 12, kết hợp
với dòng chảy ven bờ sinh ra do sóng đã mang
nguồn vật liệu từ bãi biển ra khỏi đới bãi dẫn
đến hiện tượng xói lở, còn vào mùa gió Tây
Nam thì ngược lại. Ngoài ra, do ảnh hưởng của
thời tiết cực đoan như gió bão hoặc áp thấp
nhiệt đới thường xảy ra vào mùa gió Đông Bắc
cũng làm cho bãi biển bị biến động mạnh,
thường thì các bãi biển ở đây bị xói lở đáng kể,
cùng với đó là nguồn vật liệu được mang ra
khỏi đới bãi một lượng khá lớn (bảng 2, tại
MC.1-1, MC.2-2 và MC.3-3).
Tại mặt cắt 1a (MC.1-1a) trong khoảng thời
gian khảo sát đo đạc từ tháng 11/2014 đến
4/2015 đã có hiện tượng bồi tụ, với lượng trầm
tích đã mang vào tính cho một mét chiều dài
đường bờ là 13,8 m3, đến tháng 7/2015 thì quá
trình bồi tụ vẫn tiếp tục diễn ra và lượng trầm
tích tăng lên 38,47 m3, nhưng đến tháng 4/2016
thì lượng trầm tích đã mang ra là 18,7 m3. Đến
tháng 9/2016 thì lượng trầm tích tại đây lại
được mang vào là 21,88 m3 (bảng 2). Như vậy,
vào mùa gió Đông Bắc, thời điểm mà lượng vật
liệu bồi tích ở đây bị mang ra khỏi đới bãi
nhiều nhất có thể vào các tháng 10, 11 và 12 là
khoảng thời gian có dòng chảy ven bờ từ bắc
xuống nam đạt giá trị cực đại. Ngoài ra, sóng
hướng đông bắc phát triển vào các tháng 10,
11, 12, 1, 2 và 3, sóng hướng đông nam phát
triển vào các tháng 6, 7, 8 và 9 [8]. Điều này
cho thấy rằng, quá trình mang nguồn vật liệu ra
khỏi đới bãi có thể bắt đầu vào thời điểm cuối
tháng 9 hoặc đầu tháng 10 và kết thúc vào cuối
tháng 1 hoặc đầu tháng 2, do đó vào khoảng
tháng 3 đã xuất hiện quá trình bồi tích trở lại và
bãi biển ở đây cũng đã được bồi tụ đáng kể.
Tại mặt cắt 1 (MC.1-1) trong khoảng thời
gian từ 11/2007 đến 8/2008 thì lượng cân bằng
trầm tích được mang vào bãi là 18,13 m3, đến
tháng 3/2009 thì lượng cân bằng trầm tích được
mang ra là 21,26 m
3
, lớn hơn lượng cân bằng
trầm tích được mang vào bãi ở thời kỳ trước đó.
Tại đây, có thể thấy rằng cán cân trầm tích
không cân bằng giữa mùa gió Tây Nam và mùa
gió Đông Bắc. Mùa gió Đông Bắc thường có
bão lũ và các hiện tượng thời tiết cực đoan, như
sóng và gió mạnh đã làm cho bãi biển bị biến
đổi mạnh [10]. Chẳng hạn, trong thời gian từ
8/2008 đến tháng 3/2009 thì vùng nghiên cứu đã
bị ảnh hưởng của cơn bão số 7 có tên quốc tế là
Mekkhala, đổ bộ vào nước ta ngày 30 tháng 9
năm 2008, làm cho bãi biển ở đây bị ảnh hưởng
dẫn đến biến đổi mạnh, cụ thể là bãi biển đã
mang ra với lượng trầm tích khá lớn, còn trong
khoảng thời gian gần đây, từ tháng 11/2014 đến
tháng 7/2015 là quá trình cân bằng mang vật liệu
trầm tích vào bãi và từ tháng 7/2015 đến 9/2016
là quá trình cân bằng mang ra.
Tại mặt cắt 2 và mặt cắt 3 cũng tương tự
như mặt cắt 1, quá trình cân bằng mang vào
trầm tích trong mùa gió Tây Nam và cân bằng
mang ra trong mùa gió Đông Bắc, nhưng lượng
trầm tích cân bằng mang ra luôn lớn hơn so với
Trần Văn Bình, Nguyễn Đình Đàn,...
130
lượng cân bằng mang vào, hay nói cách khác
bãi biển có xu thế xói lở và thu hẹp.
Bảng 2. Lượng cân bằng trầm tích mang ra hoặc
mang vào tại các trắc diện bãi biển theo mùa
Vị trí
Thời gian giữa
hai lần đo
Cán cân trầm
tích (m
3
)
MC.1-1a
11/2014 đến 4/2015 +13,8
4/2015 đến 7/2015 +38,47
7/2015 đến 4/2016 -18,7
4/2016 đên 9/2016 +21,88
MC.1-1
11/2007 đến 8/2008 +18,13
8/2008 đến 3/2009 -21,26
3/2009 đến 11/2014 -0,96
11/2014 đến 4/2015 +5,28
4/2015 đến 7/2015 +16,04
7/2015 đến 4/2016 -9,34
4/2016 đến 9/2016 +7,63
MC.2-2
11/2007 đến 8/2008 +19,35
8/2008 đến 3/2009 -28,24
3/2009 đến 11/2014 -1,0
11/2014 đến 4/2015 -5,22
4/2015 đến 7/2015 +18,52
7/2015 đến 4/2016 -12,96
4/2016 đến 9/2016 +5,78
MC.3-3
11/2007 đến 8/2008 +17,42
8/2008 đến 3/2009 -16,13
3/2009 đến 11/2014 -19,1
11/2014 đến 4/2015 +5,25
4/2015 đến 7/2015 +13,24
7/2015 đến 4/2016 -12,88
4/2016 đến 9/2016 +7,62
MC.4-4
11/2004 đến 4/2015 +1,24
4/2015 đến 7/2015 +11,94
7/2015 đến 4/2016 -12,89
4/2016 đến 9/2016 -2,14
Ghi chú: Dấu (+) mang vào hoặc bồi tụ, dấu (-)
mang ra hoặc xói lở.
Như vậy, đoạn bãi biển từ mặt cắt 1 đến
mặt cắt 3, với số liệu từ tháng 11/2007 đến
tháng 9/2016 cho thấy rằng: Trong khoảng thời
gian từ tháng 11/2007 đến 3/2009, bãi biển đã
bị biến đổi rất mạnh, vào mùa gió Tây Nam bãi
biển được bồi tụ, ngược lại vào mùa gió Đông
Bắc thì bãi biển bị xói lở. Nếu xét về cán cân
trầm tích thì bãi biển tại đoạn bờ này đã diễn ra
thiếu hụt trầm tích rất lớn, có xu thế xói lở
nhiều hơn. Trong thời gian từ tháng 11/2014
đến 7/2015 thì bãi biển luôn diễn quá trình tích
tụ, bởi nếu xét từ tháng 11/2014 đến 4/2015 thì
trong tháng 11/2014 bãi biển đã và đang bị xói
lở, để bãi biển trở lại xu thế cân bằng động thì
đến tháng 4/2015, trước thời điểm nay đã có
hiện tượng bồi tích trở lại, do đó, tại đây vật
liệu bồi tích được thu vào với lượng đáng kể
(bảng 2).
Tại mặt cắt 4 (MC.4-4), trong thời gian từ
4/2015 đến 7/2015 là thời kỳ gió mùa Tây
Nam, lượng cân bằng trầm tích được mang vào
bãi là 11,94 m
3
. Qua thời kỳ gió mùa Đông
Bắc, đến tháng 4/2016 thì lượng cân bằng trầm
tích đã được mang ra đạt 12,89 m3 và đến tháng
9/2016 thì lượng cân bằng trầm tích vẫn tiếp
tục được mang ra. Như vậy, lượng trầm tích tại
vị trí này được mang vào ít hơn so với lượng đã
đưa ra, điều này dẫn đến thiếu hụt bồi tích cho
khu bờ hoặc cán cân trầm tích không cân bằng
giữa hai mùa.
Tại mặt cắt 5 và mặt cắt 6, là đoạn bãi biển
phía nam cầu cảng Vinpearl, tuy chưa đủ số lần
đo lặp để xét về cán cân trầm tích, nhưng có thể
thấy rằng bãi biển có xu thế bị xói lở (hình 8, 9
và 10). Tại đây, bãi biển tương đối dốc, không
đủ vật liệu bồi tích cung cấp cho bãi, bởi vì vào
mùa gió Đông Bắc dòng bồi tích dọc bờ di
chuyển từ bắc xuống nam bị chặn bởi công
trình cầu cảng Vinpearl, còn vào mùa gió Tây
Nam thì ngược lại, nhưng ở phía nam không có
nguồn vật liệu bồi tích cung cấp cho đới bãi,
trong khi đó bãi biển chịu tác động của sóng
lớn trong mùa gió Đông Bắc dẫn đến thiếu hụt
bồi tích, nên xảy ra hiện tượng xói lở bãi biển.
Cán cân trầm tích theo chu kỳ năm. Việc tính
toán cán cân trầm tích theo chu kỳ năm được
xác định qua 2 lần đo có khoảng thời gian trùng
nhau trong năm, có nghĩa từ mùa gió Đông Bắc
năm trước đến mùa gió Đông Bắc năm sau
hoặc từ mùa gió Tây Nam năm trước đến mùa
gió Tây Nam năm sau, kết quả được thể hiện
tại bảng 3.
Bãi biển Nha Trang, đoạn từ UBND đến
cầu cảng Vinpearl có chiều dài gần 4,5 km,
nhưng chỉ có đoạn bãi trước UBND tỉnh với
chiều dài gần 200 m luôn có sự dư thừa bồi
tích, cụ thể tại mặt cắt 1a (MC.1-1a), còn trên
suốt chiều dài đoạn bờ từ mặt cắt 1 (MC.1-1)
đến mặt cắt 4 (MC.4-4) luôn diễn ra thiếu hụt
bồi tích, dẫn đến bãi biển bị biến đổi và có xu
thế thu hẹp. Lượng trầm tích thiếu hụt cũng
Đặc điểm biến đổi hình thái địa hình bãi biển
131
khác nhau trên mỗi đoạn bờ, chứng tỏ cơ chế di
chuyển bồi tích dọc bờ trên mỗi đoạn bờ cũng
khác nhau, năng lượng sóng và dòng chảy ven
bờ phụ thuộc vào cấu trúc nền đáy địa hình
cũng như về hình thái địa hình trong khu vực.
Bảng 3. Lượng cân bằng trầm tích mang ra
hoặc mang vào tại các trắc diện bãi biển
theo chu kỳ năm
Vị trí
Thời gian giữa hai
lần đo
Cán cân trầm
tích (m
3
)
MC.1-1a 4/2015 đến 4/2016 +18,7
MC.1-1
11/2007 đến 11/2014 -5,45
3/2009 đến 4/2015 -2,62
8/2008 đến 7/2015 -3,88
4/2015 đến 4/2016 +7,21
MC.2-2
11/2007 đến 11/2014 -11,30
3/2009 đến 4/2015 -2,33
8/2008 đến 7/2015 -11,32
4/2015 đến 4/2016 +5,63
MC.3-3 11/2007 đến 11/2014 -17,91
3/2009 đến 4/2015 -7,56
8/2008 đến 7/2015 -17,42
4/2015 đến 4/2016 -0,69
MC.4-4 4/2015 đến 4/2016 -2,35
Ghi chú: Dấu (+) mang vào hoặc bồi tụ, dấu (-)
mang ra hoặc xói lở.
Tại mặt cắt 1a (MC.1-1a) luôn diễn ra sự
thay đổi lớn về cán cân trầm tích ở khu bờ, bởi
vì phía bắc mặt cắt 1a là một góc lõm. Tại đây,
theo cơ chế lấp góc lõm vào của bờ: Đường bờ
tạo nên một chỗ ngoặt gấp về phía biển tại nhà
nghỉ 378. Vào mùa gió Tây Nam, sóng lan
truyền tới bờ trên đoạn phía nam Bưu Điện tỉnh
dưới một góc nhọn, do đó, trên đoạn bờ từ
UBND tỉnh trở về phía bắc bờ đã đổi hướng tại
nhà nghỉ 378 và sóng tới bờ dưới một góc gần
như vuông. Như vậy, trên đoạn bãi này thì tốc
độ di chuyển dọc bờ chậm hơn, trong khi đó
đoạn ở phía nam, từ Bưu Điện đến UBND tỉnh
bồi tích vẫn được di chuyển với tốc độ ổn định,
nên ở đây bắt đầu xảy ra sự lắng đọng bồi tích
mạnh, hoặc tại đây là điểm hội tụ dòng vào
mùa gió Tây Nam [8]. Chuyển động của bồi
tích dọc lên phía bắc nhà nghỉ 378 chỉ có thể
xảy ra khi đỉnh của dạng tích tụ được tạo thành
đã đạt tới mức cân bằng. Dạng tích tụ tại mặt
cắt 1a chỉ xuất hiện vào mùa gió Tây Nam. Bởi
vì, Dạng tích tụ này có đường biên trong gắn
liền hoàn toàn với bờ có kè biển, nên nó được
xếp vào các dạng tích tụ gắn liền với bờ. Điều
này cũng tương tự như tại các đoạn bờ phía
nam cảng Vinpearl và phía nam cảng Hải
Quân, nhưng tại các đoạn bờ này không đủ
nguồn vật liệu cung cấp cho quá trình tích tụ và
bồi lấp góc trong mùa gió Tây Nam. Vào mùa
gió Đông Bắc thì quá trình di chuyển bồi tích
từ phía bắc xuống phía nam đã bị chặn bởi
công trình cầu cảng nên tại đây xảy ra thiếu hụt
bồi tích. Ngoài ra, địa hình đáy ven bờ tương
đối dốc, chịu tác động trong điều kiện sóng lớn
kết hợp với triều cường thì sự thiếu hụt bồi tích
càng lớn dẫn đến bãi biển bị xói lở mạnh và bờ
kè bị phá sập theo cơ chế hàm ếch [1].
Đoạn bãi biển từ mặt cắt 1 (MC.1-1) đến
mặt cắt 4 (MC.4-4) có tổng lượng trầm tích
mang ra lớn hơn mang vào, dẫn đến luôn xảy ra
thiếu hụt bồi tích, do đó bãi biển có xu thế bị
xói lở (bảng 3). Như vậy, vào mùa gió Đông
Bắc thì có hướng gió thịnh hành là hướng Đông
Bắc, đoạn bờ phía nam cửa sông Cái đến cảng
Hải Quân bị sóng tác động mạnh với độ cao
sóng xấp xỉ từ 1,0 - 1,5 m. Dòng chảy dọc bờ
do sóng có hướng chảy từ phía bắc xuống phía
nam, tốc độ lớn nhất xuất hiện tại khu vực phía
nam cửa sông Cái đến Quảng Trường 2 tháng
4, dòng chảy ven bờ là nhân tố quan trọng
trong việc vận chuyển vật liệu dọc bờ [8], đồng
thời gây ra hiện tượng xói lở bãi biển. Vào mùa
gió Tây Nam, có hướng gió chính là đông nam,
trong thời kỳ này dòng chảy dọc bờ do sóng đổ
nhào gây ra có hướng chảy từ phía nam lên
phía bắc và tốc độ lớn nhất tại đoạn từ Quảng
Trường 2 tháng 4 đến UBND tỉnh, tại khu vực
trước UBND tỉnh là điểm hội tụ dòng và cũng
là nơi được bồi tụ đáng kể.
Nhìn chung, tại bãi biển Nha Trang luôn
diễn ra hai quá trình bồi-xói vào hai mùa khác
nhau: 1) Là quá trình tích tụ và mở rộng bãi ra
phía biển vào mùa gió Tây Nam; 2) Là quá
trình xói lở và thu hẹp bãi trong mùa gió Đông
Bắc. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát và đo đạc
đã cho thấy rằng, trong những năm gần đây bãi
biển đang có sự thiếu hụt vật liệu bồi tích, mặc
dù vào mùa gió Tây Nam có hiện tượng bồi
tích trên dọc bãi biển, nhưng dòng bồi tích đưa
vào không đủ bù lại lượng bồi tích đã mang ra
khỏi bãi biển trong mùa gió Đông Bắc. Chỉ
riêng tại đoạn bãi biển trước UBND tỉnh, trong
thời gian từ năm 2014 đến năm 2016 có sự biến
Trần Văn Bình, Nguyễn Đình Đàn,...
132
động rất lớn theo mùa, nhưng không xảy ra
hiện tượng thiếu hụt bồi tích bởi quá trình xói
lở vào mùa gió Đông Bắc đến chân bờ kè kiên
cố, tại đây hầu như không còn bãi biển, trong
khi đó bắt đầu thời kỳ gió mùa Tây Nam thì lại
được bồi tụ mạnh.
KẾT LUẬN
Bãi biển Nha Trang biến đổi tương đối rõ
ràng theo thời gian. Vào mùa gió Đông Bắc bãi
chịu tác động mạnh của sóng lớn nên bị xói lở
mạnh, hạ thấp và thu hẹp, ngược lại vào mùa
gió Tây Nam bãi được bồi tụ và mở rộng về
phía biển. Tuy nhiên, đoạn từ cầu cảng
Vinpearl đến mũi Chụt, do ảnh hưởng của cầu
cảng đã ngăn chặn dòng bồi tích dọc bờ di
chuyển từ bắc xuống nam, dẫn đến thiếu hụt
trầm tích làm cho bãi biển bị xói lở mạnh.
Việc xác định cán cân trầm tích qua số liệu
từ năm 2007 đến 2016 cho thấy bãi biển đang
dần thu hẹp. Cán cân trầm tích đang ở trạng
thái thiếu hụt, bởi lượng cân bằng trầm tích
mang vào bãi luôn ít hơn lượng cân bằng mang
ra, điều này chứng tỏ rằng bãi biển đang có xu
thế xói lở do cán cân vật liệu không cân bằng
giữa mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông Bắc.
Hiện nay, nguồn cung cấp trầm tích cho bãi
biển Nha Trang đã bị hạn chế, bởi vì sông Cái
nằm ở phía bắc bãi, là nguồn cung cấp vật liệu
chính cho bãi, nhưng bị ảnh hưởng bởi các
công trình đập thủy lợi, khai thác cát, đã làm
giảm tải nguồn vật liệu đưa ra, dẫn đến bãi bị
xói lở. Ngoài ra, các công trình ven bờ như cầu
cảng và các hoạt động lấn biển, làm ảnh hưởng
không ít đến quá trình vận chuyển bồi tích dọc
bờ, dẫn đến khu bờ phía nam vịnh Nha Trang
bị thiếu hụt lớn nguồn vật liệu cung cấp nên bãi
biển bị xói lở mạnh.
Lời cảm ơn: Tập thể tác giả xin trân trọng cảm
ơn sự hỗ trợ từ đề tài cấp cơ sở Viện Hải dương
học năm 2016. “Nghiên cứu đánh giá hiện
trạng bãi và sự biến đổi đường bờ khu vực bãi
biển Nha Trang” của phòng Địa chất-Địa mạo
biển và đề tài cấp tỉnh Khánh Hòa “Xác định
các khu vực có khả năng cải tạo, phát triển bãi
tắm nhân tạo và đề xuất các phương án bảo vệ
bãi tắm tự nhiên trong vịnh Nha Trang” đã
cung cấp số liệu. Chúng tôi cũng gửi tới đồng
nghiệp lời cảm ơn vì những đóng góp quý giá
để hoàn thành bài báo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Đình Mầu, Trần Văn Bình, 2016. Bước
đầu đánh giá nguyên nhân gây xói lở bờ
biển phường Vĩnh Nguyên, Nha Trang. Tạp
chí Khoa học Công nghệ và Môi trường
Khánh Hòa, Số 4, Tr. 19-21.
2. O. K., Leontyev, L. G., Nikiforv, G. A.,
Xafianov, 1975. Địa mạo bờ biển. Nxb.
MGU, Moskva, 336 tr. Biên dịch: Bộ môn
Địa mạo, Khoa Địa lý, Trường Đại học
Khoa học tự nhiên, Hà Nội.
3. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Tiết, 1981.
Địa mạo bờ biển Phú Khánh. Tuyển tập
nghiên cứu biển, Tr. 155-164.
4. Võ Thịnh, Phan Đông Pha, Nguyễn Xuân
Huyên, Vũ Văn Phái, Tống Phúc Tuấn, Lê
Đình Nam, Trân Xuân Lợi, Trần Hoàng
Yên, Vũ Lê Phương, Dương Tuấn Ngọc,
2013. Các kiểu bờ biển khu vực Phú Yên -
Khánh Hòa và vấn đề dự báo xu thế biến
động bờ biển trong bối cảnh mực nước biển
dâng. Tuyển tập báo cáo khoa học, Hội
nghị khoa học địa chất biển toàn quốc lần
thứ 2. Tr. 251-259.
5. Trịnh Thế Hiếu, 1981. Đặc điểm trầm tích
các bãi cát hiện đại ven bờ biển Phú Khánh.
Tuyển tập nghiên cứu biển, Tập II-2, Tr.
165-178.
6. Trần Văn Bình, Nguyễn Đình Đàn, Phạm
Bá Trung, Trịnh Minh Cường, 2015. Đặc
điểm địa mạo vịnh Nha Trang và khu vực
lân cận. Tuyển tập nghiên cứu biển, Tập 21,
Số 2, Tr. 42-54.
7. Trần Văn Bình, Trịnh Thế Hiếu, 2010. Sự
biến đổi hình thái địa hình bãi và đường bờ
tại một số khu vực bờ biển Nam Trung Bộ
theo thời gian (2007 - 2008). Tạp chí Khoa
học và Công nghệ biển, 10(2), 15-29.
8. Lê Đình Mầu, Nguyễn Văn Tuân, Phạm
Thị Phương Thảo, 2010. Đặc điểm phân bố
các đặc trưng sóng tại vịnh Nha Trang
trong các trường gió mùa điển hình. Tuyển
tập nghiên cứu biển, Tập XVII, Tr. 9-17.
9. Hà Thanh Hương, Đinh Văn Ưu, Nguyễn
Trung Việt, 2013. Hoàn lưu ven bờ vịnh
Nha Trang. Tạp chí Khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội, Khoa học Tự nhiên và
Công nghệ, Tập 29, Số 2, Tr. 65-71.
10. Lê Thanh Bình, Nguyễn Việt Đức, Nguyễn
Trung Việt, Dương Hải Thuận, Nguyễn
Đặc điểm biến đổi hình thái địa hình bãi biển
133
Văn Thìn, Trần Thanh Tùng, Đinh Văn Ưu,
Rafael Almar, Jean-Pierre Lefebvre, 2013.
Một số kết quả nghiên cứu ban đầu về diễn
biến đường bờ vịnh Nha Trang sử dụng
công nghệ giám sát hình ảnh. Tuyển tập
Hội nghị Khoa học thường niên năm 2013.
Trường Đại học Thủy lợi, Tr. 179-181.
FEATURES OF MORPHOLOGICAL CHANGE IN
NHA TRANG BEACH, KHANH HOA PROVINCE
Tran Van Binh, Nguyen Dinh Dan, Bui Hong Long,
Pham Ba Trung, Trinh Minh Cuong, Nguyen Huu Hai
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: This paper has focused on analyzing morphological change features of Nha
Trang Beach based on the comparison of different beach profiles which were measured from July
2008 to September 2016 corresponding to the Northeast and Southwest monsoons. Additionally, the
sediment transport balance was estimated by the method of equity value curve. Studied results show
that the beach profiles were accreted and eroded during Southwest and Northeast monsoons
respectively, but due to the shortage of materials supply, the beach has the narrowing trend. In this
paper, some effects of the existing works in Nha Trang Beach such as Vinpearl, Navy Port, and
hydro-dams in upstream area of Cai river have been also analyzed for estimating sedimentary
supply to beach segments.
Key words: Beach, Nha Trang, topographical morphology, erosion, material balance.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_bien_doi_hinh_thai_dia_hinh_bai_bien_nha_trang_khan.pdf