UNBG di căn phổi tại thời điểm chẩn đoán với tỉ lệ
khoảng 10-20%, trong nghiên cứu của Suk- Bae Moon
có 2 trong tổng số 27 ca di căn phổi, chiếm tỉ lệ 7,4%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 4 trường hợp, đây là
những ca tình cờ phát hiện di căn phổi trên các lát cắt
ngang qua vùng đáy phổi. Hiện nay nhiều tác giả có xu
hướng sử dụng cộng hưởng từ (CHT) trong chẩn đoán
UNBG do đây là phương pháp có thể chụp ở nhiều
hướng nên có thể đánh giá rất tốt vị trí u cũng như liên
quan, giúp đặt kế hoạch tốt cho phẫu thuật, CHT cũng
cho phép đánh giá tốt thành phần của u như hoại tử,
chảy máu và đặc biệt là vỏ và vách trong u. Tuy nhiên
CLVT lại là phương pháp có ưu thế vượt trội trong việc
đánh giá di căn phổi, do đó CLVT vẫn là phương pháp
được sử dụng phổ biến để đánh giá UNBG [10] .
Khác với ung thư biểu mô tế bào gan, UNBG ít di
căn hạch, trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường
hợp xác định là có hạch trên phim chụp CLVT tại thời
điểm chẩn đoán, tuy nhiên sau điều trị hóa chất các
hạch này đều không còn quan sát thấy và cũng không
có ghi nhận trường hợp nào di căn hạch trên GPB.
Huyết khối tĩnh mạch là một trong số các đặc điểm
được xếp vào nhóm UNBG có nguy cơ cao, nghiên cứu
của chúng tôi tại thời điểm chẩn đoán có 2 trường hợp
huyết khối TMC, trong đó một trường hợp không đáp
ứng với điều trị hóa chất nên xin về. Trường hợp còn lại
sau khi điều trị hóa chất u nhỏ lại, không còn thấy huyết
khối nên được phẫu thuật cắt u, tuy nhiên sau đó u tái
phát. Theo tác giả Derek [2] trong trường hợp không
quan sát thấy tĩnh mạch trên phim chụp CLVT không
thể phân biệt được nguyên nhân do u thâm nhiễm hay
chỉ do chèn ép đơn thuần, các tĩnh mạch cũng có thể bị
tắc và không quan sát được do u chèn ép mà hoàn toàn
không phải do thâm nhiễm. Trong những trường hợp
này cần thiết phải kết hợp thêm với các phương pháp
chẩn đoán hình ảnh khác như siêu âm, hay MRI. Siêu
âm là phương pháp đơn giản và hiệu quả, sẽ là “cái
nhìn thứ 2” giúp đánh giá lại tình trạng TMG hay TMC.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm hình ảnh của u nguyên bào gan trẻ em trên phim chụp cắt lớp vi tính hai dãy đầu thu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/2015 21
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIFIC RESEARCH
SUMMARY
ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA U NGUYÊN BÀO
GAN TRẺ EM TRÊN PHIM CHỤP CẮT LỚP
VI TÍNH HAI DÃY ĐẦU THU
Characteristic of pediatric hepatoblastoma on 2 detector
computed tomography
Nguyễn Đức Hạnh*, Nguyễn Duy Huề**
*Bệnh viện Nhi Trung Ương
**Bệnh viện Việt Đức
Purpose: to describe the characteristics of hepatoblastoma
(HB) on 2 detector computed tomography (CT) images.
Materials and method: 49 under 15 year-old patiens with
pathological results of HB were undergone 2 detector computed
tomography from 2010 to 2014.
Result: 100% was solid tumor, the average diameter was
8.48mm, most of them were single tumor, located at the right lobe,
lobulated and defined margin, heterogeneous structure, 31.5% had
calcification, strong contrast enhancement in the arterial phase, less
than liver parenchyma in the portal phase. 63% enhanced less than
normal liver parenchyma in both aterial and portal phase. Pretext II
and III is 81.7%, lung metastasis in 4 cases, portal vein thrombosis
in 2 cases, 4 cases infiltrated to extra-hepatic spaces, 1 tumor was
ruptured, 2 caseshad hepatic umbilical nodes.
Conclusion: HB appears on CT images as a solid tumor,
heterogeneous, irregular margin mass, 31.5% had calcification.
After injecting the material contrast most of tumors enhance trongly
during the arterial phase and less density than the surrounding liver
parenchyma in the portal phase. The most common is PRETEXT
II and III. It may metastase to lung, lead to portal vein thrombosis,
hepatic hilar lymph node.
Keywords: hepatoblastoma, liver tumors in children, liver mass
in children, hepatoblastoma imaging.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/201522
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
U gan ác tính ở trẻ em hiếm gặp tuy nhiên bệnh
đứng hàng thứ ba trong tổng số các u đặc ác tính vùng
bụng ở trẻ em, chỉ đứng sau u nguyên bào thần kinh
và u nguyên bào thận [1]. Trong số các u gan ác tính,
u nguyên bào gan là u thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ
khoảng 79%. Vấn đề điều trị mà mục đích là phẫu thuật
cắt bỏ được hoàn toàn khối u ra khỏi phần gan lành,
trước đây tỉ lệ thành công còn thấp, khoảng 30%, ngày
nay nhờ có sự ra đời của các tân dược và những tiến
bộ trong phẫu thuật đã đưa tỉ lệ thành công lên 70-80%
[2]. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm
hình ảnh của u nguyên bào gan trẻ em trên phim chụp
cắt lớp vi tính 2 dãy đầu thu” nhằm mục đích mô tả đặc
điểm hình ảnh của UNBG trẻ em trên phim chụp CLVT
hai dãy đầu thu.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Gồm 49 bệnh nhi dưới 15 tuổi được chụp CLVT
tại Bệnh viện Nhi Trung Ương và có kết quả chẩn đoán
cuối cùng bằng giải phẫu bệnh, thời gian từ tháng 1
năm 2010 đến tháng 5 năm 2014.
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Các
bệnh nhi được chụp CLVT ổ bụng trên máy CLVT 2 dãy
đầu thu loại GE của Mỹ.
Các thông số kỹ thuật: KVp 120, mAs 140-170, độ
dày lớp cắt 3-5 mm, pich 1.0, interval 5mm, cắt xoắn
ốc, thuốc cản quang tĩnh mạch tốc độ 1,2-1,5ml/s, kim
20 hoặc 22G, liều thuốc 1,5ml/1 kg. Chụp thì trước tiêm
thuốc, sau tiêm thuốc thì động mạch (20 giây), thì tĩnh
mạch 40 giây. Nghiên cứu mô tả các đặc điểm hình ảnh
của u về: vị trí, kích thước, số lượng, cấu trúc , đặc điểm
vôi hóa, đặc điểm ngấm thuốc, phân loại PRETEXT
theo SIOPEL 1990, đặc điểm xâm lấn, di căn.
III. KẾT QUẢ
1. Một số đặc điểm chung của 49 bệnh nhân UNBG
Tuổi trung bình 23 tháng, thấp nhất 1 tháng, cao
nhất 14 tuổi, 51% dưới 1 tuổi, 85,7% dưới 3 tuổi. Nam/
nữ=1,58.
Giới: nam gặp nhiều hơn nữ với tỉ lệ nam/
nữ=30/19=1,58.
Lý do vào viện thường gặp nhất là bụng to và sờ
thấy khối, các nguyên nhân khác có thể gặp như đau
bụng, vàng da, chướng bụng, có 6 trường hợp tình cờ
phát hiện. Đa số các trường hợp có thiếu máu nhẹ, tiểu
cầu tăng trong 53,1%, men gan đa số tăng nhẹ, tất cả
các ca có AFP cao hơn mức bình thường so với tuổi.
Đa số các ca có HbsAg âm tính, chỉ có 4 trường hợp
dương tính. 77,6% u thể biểu mô, còn lại là thể hỗn hợp
biểu mô và trung mô.
2. Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính của 49 bệnh
nhân UNBG
Thể một khối chiếm tỉ lệ 96%, vị trí thùy phải 71,4%,
thùy trái 10,2%, cả hai thùy 18,4%. 100% có cấu trúc
đặc, 83,3% các u có bờ không đều, 94,4% có giới hạn
rõ với xung quanh. Kích thước trung bình 8,48+/- 3,1cm,
nhỏ nhất 1 cm, lớn nhất 14cm. Có 85,2% các khối u có
kích thước trên 5cm. 92,6% có cấu trúc không đồng nhất
trước và sau tiêm thuốc cản quang. Vôi hóa có ở 17
trường hợp, chiếm tỉ lệ 31,5%, gồm vôi hóa dạng chấm,
nốt, đám, mảng, trong đó vôi hóa dạng nốt có 9 bệnh
nhân. Trước tiêm thuốc đa số các ca giảm tỉ trọng, có 9
ca đồng và tăng nhẹ tỉ trọng. Sau tiêm có 34 ca, chiếm tỉ
lệ 63% ngấm thuốc kém nhu mô gan xung quanh cả hai
thì, 8 ca ngấm thuốc mạnh thì động mạch, thải thuốc thì
tĩnh mạch, 10 ca ngấm thuốc mạnh thì động mạch, giữ
thuốc thì tĩnh mạch, có 2 ca đồng tỉ trọng với nhu mô gan
xung quanh thì động mạch, giảm tỉ trọng thì tĩnh mạch.
7 bệnh nhân PRETEXT I, 24 bệnh nhân PRETEXT II,
16 bệnh nhân PRETEXT III, 2 bệnh nhân PRETEXT IV.
Không có ca nào xâm lấn thận, huyết khối TMC có 2 ca,
di căn phổi có 4 ca, hạch ổ bụng có 2 ca, u gan vỡ và
máu trong ổ bụng có 1 ca, u có vị trí HPT I có 6 ca.
IV. BÀN LUẬN
1. Một số đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm
UNBG chủ yếu gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, ít gặp ở trẻ
trên 5 tuổi, đôi khi gặp ở người trưởng thành. Trong
nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ trẻ dưới 36 tháng tuổi
chiếm 89,8%, chỉ có 8% trẻ trên 5 tuổi, có một trường
hợp trẻ sơ sinh. Tuổi trung bình của 49 trẻ là 23 tháng,
kết quả này gần giống với kết quả của Susan J King
[3], cao hơn so với nghiên cứu của Maibach [4] với tuổi
trung bình là 17 tháng, của Abraham H và Suk-Bae
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/2015 23
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Moon có tuổi trung bình là 16 tháng, nhưng lại thấp
hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Phạm Anh Hoa và
Nguyễn Quang Vinh ở thời điểm trước đây 10 năm [5].
Bệnh gặp ở nam nhiều hơn ở nữ, theo nghiên cứu
của Maibach tỉ lệ nam/nữ =326/215=1,52, nghiên cứu
của chúng tôi cũng gần giống với tác giả này và không
khác nhiều so với các tác giả khác [6], [5], [7].
Bệnh có thể gặp thiếu máu, tăng tiểu cầu. AFP
tăng cao trong phần lớn các trường hợp UNBG, chiếm
tỉ lệ khoảng 90-95%, đây là yếu tố giúp chẩn đoán cũng
như theo dõi và tiên lượng bệnh trong suốt quá trình
điều trị cả trước và sau phẫu thuật. Khi AFP không giảm
hoặc tăng cao trở lại là dấu hiệu u không đáp ứng tốt
với điều trị hoặc u tái phát, khi AFP thấp dưới 100ng/
ml hay trên 1 triệu ng/ml u được xếp vào nhóm nguy cơ
cao. Trong nghiên cứu của chúng tôi 100% các trường
hợp u có AFP tăng cao so với tuổi. Kết quả này tương
đối phù hợp với kết quả của Maibach [4] và các nghiên
cứu khác [5]. Không ghi nhận thấy trường hợp nào
dưới 100ng/ml, có 3 trường hợp trên 1 triệu ng/ml.
Giải phẫu bệnh chia UNBG làm hai thể là thể biểu
mô và thể hỗn hợp biểu mô và trung mô, trong đó thể biểu
mô thường gặp. Trong nghiên cứu của Suk-Bae Moon [6]
có 70,3% UNBG thể biểu mô, 29,7% thể hỗn hợp biểu mô
và trung mô, kết quả của chúng tôi cũng tương tự như tác
giả này và các tác giả khác [7], [8] với tỉ lệ u thể biểu mô là
77,6%, thể hỗn hợp biểu mô và trung mô là 22,4%.
2. Đặc điểm hình ảnh trên CLVT
Đa số các ca ở thể một khối (96%). Chủ yếu u có vị
trí ở thùy phải (71,4%), kết quả nghiên cứu của chúng
tôi cũng giống với kết quả nghiên cứu của các tác giả
khác trong và ngoài nước [6], [5], [8]. Tất cả 49 trường
hợp trong nghiên cứu đều có cấu trúc đặc, tỉ lệ u có
cấu trúc không đồng nhất trước và sau tiêm thuốc cản
quang chiếm đa số. Tỉ lệ có kích thước lớn trên 5cm
là 85,2%, kích thước trung bình là 8,4cm, kết quả này
cũng gần giống với kết quả của Nguyễn Quang Vinh
là 8,6cm, hơi cao hơn so với kết quả nghiên cứu của
Abraham.H [8] là 80mm.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 92,6% khối có
cấu trúc không đồng nhất sau tiêm, điều này hoàn toàn
phù hợp với bản chất của u trên giải phẫu bệnh về mặt
đại thể thường có kích thước lớn, bên trong có vách, hoại
tử, chảy máu và vôi hóa [9]. Có 17 trường hợp chiếm
tỉ lệ 31,5% các u có vôi hóa, kết quả này cũng tương tự
như kết quả của Abraham.H là 38,1% [8], không khác
biệt nhiều so với Susan King là 40% [3]. Đặc điểm vôi
hóa trong u đa dạng, trong số 17 trường hợp có vôi hóa
trong u có 8 trường hợp vôi hóa dạng nốt, 4 trường hợp
vôi hóa dạng chấm, 3 trường hợp vôi hóa dạng đám và
có 1 trường hợp vôi hóa dạng mảng. Như vậy vôi hóa
dạng nốt hay gặp nhất, kết quả này cũng giống với kết
quả nghiên cứu của Abraham.H có 4/8 trường hợp.
Trước tiêm thuốc cản quang, so với nhu mô gan
lành, đa số các u giảm tỉ trọng, sau tiêm u thường ngấm
thuốc mạnh thì động mạch, thì tĩnh mạch ngấm thuốc
kém hơn nhu mô gan xung quanh [9]. Trong nghiên cứu
của Abraham.H và Susan King thấy toàn bộ khác khối u
đều giảm tỉ trọng trước tiêm, tuy nhiên ở nghiên cứu của
chúng tôi có một tỉ lệ u đồng và tăng nhẹ tỉ trọng (16,7%),
điều này có thể lý giải do cỡ mẫu của chúng tôi lớn hơn
các tác giả khác nên có thể có sự đa dạng hơn. Chúng
tôi không tìm thấy các nghiên cứu chụp hai thì sau tiêm
trên CLVT. Theo Abraham H trong số 21 ca chụp sau
tiêm thuốc có 18 ca ngấm thuốc kém nhu mô gan xung
quanh chiếm tỉ lệ 85,7%. Nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy sau tiêm ở thì động mạch có 94,4% ngấm thuốc
mạnh, thì tĩnh mạch có 81,5% u giảm tỉ trọng so với nhu
mô gan lân cận. Chủ yếu các u giảm tỉ trọng so với nhu
mô gan xung quanh cả hai thì, chiếm tỉ lệ 63%. Có 14,8%
các khối u có kiểu ngấm thuốc mạnh thì động mạch và
thải thuốc nhanh thì tĩnh mạch, 18,5% còn lại có kiểu
ngấm thuốc mạnh thì động mạch và giữ thuốc thì tĩnh
mạch và 3,7% khối đồng tỉ trọng thì động mạch, giảm tỉ
trọng thì tĩnh mạch. Như vậy với kỹ thuật chụp 2 thì cho
thấy đặc điểm ngấm thuốc của UNBG cũng đa dạng, tuy
nhiên khác với ung thư biểu mô tế bào gan là loại ung
thư gan đứng hàng thứ 2 ở trẻ em thì UNBG thường gặp
ngấm thuốc kém cả hai thì, chỉ có 14,8% trường hợp có
biểu hiện thải thuốc giống ung thư biểu mô tế bào gan.
Dựa vào hình ảnh CLVT, UNBG được phân loại
PRETEXT theo SIOPEL 1990, theo đó PRETEXT I u
giới hạn ở một phân thùy, 3 phân thùy liền kề không
có u, PRETEXT II có 2 phân thùy liền kề không có u,
PRETEXT III có 1 phân thùy không có u, PRETEXT IV
u có ở cả 4 phân thùy. Tại thời điểm chẩn đoán theo
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/201524
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
nghiên cứu của chúng tôi u có PRETEXT II hay gặp
nhất, chiếm tỉ lệ 49%, tiếp đến là PRETEXT III chiếm
tỉ lệ 32,7%. Trong nghiên cứu của Suk-Bae Moon
u có PRETEXT III hay gặp hơn với tỉ lệ 48,1%, theo
Maibach là 38,8%. PRETEXT IV trong nghiên cứu gặp
ít nhất chiếm tỉ lệ 4,1%, tỉ lệ này gần giống với kết quả
nghiên cứu của Suk- Bae Moon là 3,8%. Tóm lại u có
PRETEXT II và III hay gặp nhất.
UNBG di căn phổi tại thời điểm chẩn đoán với tỉ lệ
khoảng 10-20%, trong nghiên cứu của Suk- Bae Moon
có 2 trong tổng số 27 ca di căn phổi, chiếm tỉ lệ 7,4%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 4 trường hợp, đây là
những ca tình cờ phát hiện di căn phổi trên các lát cắt
ngang qua vùng đáy phổi. Hiện nay nhiều tác giả có xu
hướng sử dụng cộng hưởng từ (CHT) trong chẩn đoán
UNBG do đây là phương pháp có thể chụp ở nhiều
hướng nên có thể đánh giá rất tốt vị trí u cũng như liên
quan, giúp đặt kế hoạch tốt cho phẫu thuật, CHT cũng
cho phép đánh giá tốt thành phần của u như hoại tử,
chảy máu và đặc biệt là vỏ và vách trong u. Tuy nhiên
CLVT lại là phương pháp có ưu thế vượt trội trong việc
đánh giá di căn phổi, do đó CLVT vẫn là phương pháp
được sử dụng phổ biến để đánh giá UNBG [10] .
Khác với ung thư biểu mô tế bào gan, UNBG ít di
căn hạch, trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường
hợp xác định là có hạch trên phim chụp CLVT tại thời
điểm chẩn đoán, tuy nhiên sau điều trị hóa chất các
hạch này đều không còn quan sát thấy và cũng không
có ghi nhận trường hợp nào di căn hạch trên GPB.
Huyết khối tĩnh mạch là một trong số các đặc điểm
được xếp vào nhóm UNBG có nguy cơ cao, nghiên cứu
của chúng tôi tại thời điểm chẩn đoán có 2 trường hợp
huyết khối TMC, trong đó một trường hợp không đáp
ứng với điều trị hóa chất nên xin về. Trường hợp còn lại
sau khi điều trị hóa chất u nhỏ lại, không còn thấy huyết
khối nên được phẫu thuật cắt u, tuy nhiên sau đó u tái
phát. Theo tác giả Derek [2] trong trường hợp không
quan sát thấy tĩnh mạch trên phim chụp CLVT không
thể phân biệt được nguyên nhân do u thâm nhiễm hay
chỉ do chèn ép đơn thuần, các tĩnh mạch cũng có thể bị
tắc và không quan sát được do u chèn ép mà hoàn toàn
không phải do thâm nhiễm. Trong những trường hợp
này cần thiết phải kết hợp thêm với các phương pháp
chẩn đoán hình ảnh khác như siêu âm, hay MRI. Siêu
âm là phương pháp đơn giản và hiệu quả, sẽ là “cái
nhìn thứ 2” giúp đánh giá lại tình trạng TMG hay TMC.
V. KẾT LUẬN
UNBG có vị trí thường gặp nhất là thùy phải
71,4%, đa số có bờ và ranh giới rõ 94,4%. Kích thước
trung bình là 84mm. 100% có cấu trúc đặc, 92,6% cấu
trúc không đồng nhất sau tiêm. Trước tiêm thuốc 83,3%
giảm tỉ trọng so với nhu mô gan xung quanh. 31,5% có
vôi hóa trong khối, đặc điểm vôi hóa đa dạng nhưng
chủ yếu gặp vôi hóa dạng nốt. U thường ngấm thuốc
mạnh thì động mạch 94,4%, thì tĩnh mạch 81,5% có tỉ
trọng thấp hơn nhu mô gan xung quanh. Kiểu ngấm
thuốc kém nhu mô gan xung quanh trên cả hai thì động
mạch và tĩnh mạch hay gặp nhất 63%. Tại thời điểm
chẩn đoán u có PRETEXT II hay gặp nhất 49%, tiếp
đến là PRETEXT II 32,7%, PRETEXT 4,1%. Có thể gặp
huyết khối TMC, hạch rốn gan, di căn phổi.
Hình ảnh minh họa:
Hình 1. Vôi hóa dạng đám ở bệnh nhân
Đỗ Uyên Nh, nữ, 55 tháng, MSBA 11109141.
Hình 2. Vôi hóa dạng nốt ở bệnh nhân
Phạm Đức M, nam, 10 tháng tuổi, MSBA 09284421.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/2015 25
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hình 3. Bệnh nhân Đặng Quang Th, nam,11 tháng,
MSBA 09280297, vôi hóa dạng mảng
Hình 4. Bệnh nhân Phan Lê Mai Ch, nữ, 15 tháng
tuổi, 13036033, vôi hóa dạng chấm
Hình 5. Kiểu ngấm thuốc kém hai thì ở bệnh nhân
Nguyễn Văn Ph, nam, 9 tháng tuổi, MSBA 10120073
Hình 6. Kiểu ngấm thuốc mạnh thì động mạch, giữ thuốc thì tĩnh mạch ở bệnh nhân
Nguyễn Xuân N, nam, 8 tháng tuổi, MSBA 10029815.
Hình 7. Kiểu ngấm thuốc mạnh thì động mạch, thải thuốc nhanh thì tĩnh mạch ở bệnh nhân
Phạm Đức M, nam, 10 tháng tuổi, MSBA 09284421
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/201526
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hình 8. Hoàng Minh Ph, nam, 71 tháng,
MSBA 12128022, PRETEXT I
Hình 9. Bệnh nhân Nguyễn Hà Ph, nữ, 2 tháng,
MSBA 11213273, PRETEXT II
Hình 10. Nguyễn Thị Th, 15 tháng tuổi, nữ,
MSBA 10288449, PRETEXT III
Hình 11. Trần Đỗ Minh H, nữ, 96 tháng,
MSBA 13070978, PRETEXT IV.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dhingra S Das C.J, Gupta A.K et al (2009),
“Imaging of pediatric liver tumors with pathological
correlation”, Clinical Radiology, 64, p.1015-1025.
2. Derek.J.Roebuck (2006), “Hepatoblastoma: an
oncological review”, Pediatr Radiol 36, p.176-186.
3. Susan J King el al (1993), “Value of CT in
determining the resectability of hepatoblastoma before
and after chemotherapy “, AJR, 160(April), p.793-798.
4. Rudolf Maibach et al (2012), “Prognostic
stratification for children with hepatoblastoma: The
SIOPEL experience”, European Journal of Cancer, 48,
p.1543-1549.
5. Nguyễn Quang Vinh (2006), “Nghiên cứu đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân loại u nguyên
bào gan ở trẻ em”, luận văn bác sĩ chuyên khoa 2.
Trường Đại Học Y Hà Nội.
6. Suk- Baemun et al (2011), “Hepatoblastoma:
15 years experience and role of surgical treatment”,
Journal of Korean Surgical Society, 81, p.134-140.
7. Trần Văn Hợp và cộng sự (2006), “Hình thái học
u nguyên bào gan”, Y học Việt Nam số đặc biệt, tháng
12, p.220-226.
8. Abraham H. Dachman el al (1987),
“Hepatoblastoma: radiologic- pathologic correlation in
50 cases”, Radiology, 164, p.15-19.
9. Ellen M.Chung (2011), “Pediatric liver mass:
Radiologic- Pathologic correlation Part 2”, Radiographics,
31, p.483-507
10. M.Beth Mc Carville and Derek J. Roebuck
(2012), “Diagnosis and Staging of Hepatoblastoma:
Imaging Aspects”, Pediatr Blood Cancer, 59, p.793-799
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 19 - 03/2015 27
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT
Mục đích: mô tả đặc điểm hình ảnh của u nguyên bào gan (UNBG) trẻ em trên phim chụp cắt lớp vi tính hai
dãy đầu thu.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 49 bệnh nhi dưới 15 tuổi được chụp cắt lớp vi tính (CLVT) hai dãy
đầu thu, có chẩn đoán giải phẫu bệnh là u nguyên bào gan, từ năm 2010 đến năm 2014.
Kết quả: tất cả các u có dạng đặc, kích thước trung bình 8,48cm, chủ yếu thể một khối; ở thùy phải, thường có
bờ thùy múi, cấu trúc không đồng nhất, 31,5% có vôi hóa, chủ yếu có cấu trúc không đồng nhất, ngấm thuốc mạnh
thì động mạch, kém so với nhu mô gan lành thì tĩnh mạch. PRETEXT II và III hay gặp nhất 81,7%, di căn phổi gặp
4 trường hợp, 2 trường hợp huyết khối tĩnh mạch, 4 trường hợp thâm nhiễm ngoài gan, 1 trường hợp u gan vỡ, 2
trường hợp có hạch rốn gan.
Kết luận: UNBG thường gặp thể một khối đặc không đồng nhất, bờ không đều, ranh giới rõ, giảm tỉ trọng trước
tiêm, sau tiêm ngấm thuốc mạnh thì động mạch, kém hơn nhu mô gan xung quanh thì tĩnh mạch. 31,5% có vôi hóa.
PRETEXT II và III hay gặp nhất. Có thể di căn phổi, huyết khối tĩnh mạch, vỡ u, hạch rốn gan.
Từ khóa: u nguyên bào gan, u gan trẻ em, hình ảnh u nguyên bào gan.
Người liên hệ: Nguyễn Đức Hạnh, Khoa CĐHA Bệnh viện Nhi Trung ương
Email: hanhrad@gmail.com
- Ngày nhận bài: 22/2/2015
- Ngày chấp nhận đăng: tháng 3/2015
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: PGS.TS. Lê Trọng Khoan
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_hinh_anh_cua_u_nguyen_bao_gan_tre_em_tren_phim_chup.pdf