Tỷ lệ các tính trạng trong nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu trước đã công bố của
Ngô Đắc Chứng và cs. (2012), kết quả này một lần nữa khẳng định mẫu nhông cát ở
VQG Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk là loài L. rubritaeniata chứ không phải loài L. reevesii.
Đáng chú ý các tỷ lệ có tính ổn định cao như HL/SVL và HW/HL.
Kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ giữa chiều dài thân và khối lượng cơ thể có ý
nghĩa thống kê (F1,9 = 14,711; P = 0,005). Giữa chiều dài đuôi và khối lượng cơ thể có ý
nghĩa thống kê (F1,9 = 7,49; P = 0,02). Tương tự giữa chiều dài thân với chiều dài đầu
(F1,9 = 22,82; P = 0,001) và chiều dài thân với chiều rộng đầu (F1,9 = 13,52; P = 0,006)
đều có sự sai khác ý nghĩa thống kê (Hình 2).
4. KẾT LUẬN
Nhông cát L. rubritaeniata là một loài có tính dị hình kích thước giới tính rõ ràng. Cá
thể đực trưởng thành có khối lượng cơ thể và các số đo hình thái lớn hơn cá thể cái
trưởng thành. Trung bình loài L. rubritaeniata có chiều dài thân 105,63 ± 9,4 mm tương
ứng với khối lượng 31,88 ± 10,68 g.
Con đực có đầu to, sau mắt có một vạch trắng dài khoảng 5 mm, 1/2 mạn sườn phía
trước có các vệt đen và đỏ cam xen kẽ, 1/2 mạn sườn phía sau có màu đỏ cam chạy
xuống tận háng, gốc đuôi to chiếm 1/3 chiều dài đuôi, lỗ đùi to và rõ. Con cái có đầu
nhỏ hơn, sau mắt có một vạch trắng ngắn hơn con đực (khoảng 3 mm), 1/2 mạn sườn
phía trước có các vạch đen trắng rõ ràng, 1/2 mạn sườn phía sau có màu đỏ cam nhưng
nhạt hơn nhiều so với con đực, phía trên hông có ba sọc khá rõ chạy thẳng lên phía đầu,
tứ chi mảnh, gốc đuôi thuôn chiếm 2/3 chiều dài đuôi.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm hình thái nhông cát leiolepis rubritaeniata (reptilia) ở vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
ISSN 1859-1612, Số 3(55)/2020: tr.93-99
Ngày nhận bài: 13/5/2020; Hoàn thành phản biện: 23/6/2020; Ngày nhận đăng: 26/6/2020
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NHÔNG CÁT Leiolepis rubritaeniata (Reptilia)
Ở VƯỜN QUỐC GIA YOK ĐÔN, TỈNH ĐĂK LĂK
NGÔ VĂN BÌNH1,*, PHAN THỊ THANH XUÂN1,
NGÔ ĐẮC CHỨNG1, TRƯƠNG BÁ PHONG2
1Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
2Trường Đại học Tây Nguyên, Buôn Ma Thuột, Việt Nam
*Email: ngovanbinh@dhsphue.edu.vn
Tóm tắt: Nhông cát Leiolepis rubritaeniata Mertens, 1961 có phạm vi phân
bố tương đối hẹp ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Những nghiên cứu về loài
này còn rất hạn chế. Các mẫu Nhông cát sử dụng trong nghiên cứu này được
thu thập ở Vườn Quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk từ tháng 2 đến tháng 3
năm 2020. Tổng số mẫu thu được là 10 mẫu (7 cá thể đực và 3 cá thể cái), tất
cả đã được phân tích các đặc điểm hình thái. Từ kết quả phân tích cho thấy
loài này có tính dị hình kích thước giới tính rõ ràng. Cá thể đực trưởng thành
có khối lượng cơ thể và các số đo hình thái lớn hơn cá thể cái trưởng thành
(con đực: BM = 28,68 ± 2,76 g tương ứng với chiều dài thân SVL = 110,32
± 7,03 mm; con cái: BM = 16,01 ± 1,69 g tương ứng với SVL = 94,71 ± 3,11
mm). Nghiên cứu này lần đầu tiên ghi nhận sự phân bố của loài Nhông cát L.
rubritaeniata Mertens, 1961 tại tỉnh Đăk Lăk.
Từ khóa: Leiolepis rubritaeniata, hình thái, nhông cát, Vườn Quốc gia Yok
Đôn.
1. MỞ ĐẦU
Nhông cát thuộc giống Leiolepis (Cuvier, 1892), ở Việt Nam hiện tại ghi nhận được 6
loài (L. guttata, L. reevesi, L. rubritaeniata, L. ngovantrii, L. guentherpetersi và L.
belliana; Nguyen và cs., 2009; Uetz và cs., 2020). Trong đó, loài L. rubritaeniata có
vùng phân bố rất hẹp ở Việt Nam, miền Đông Bắc Thái Lan, miền Nam Lào và
Campuchia (Peters, 1971; Darevsky và Nguyen, 2004; Hartmann và cs., 2012; Uetz và
cs., 2020). Theo các nghiên cứu trước thì ở Việt Nam, loài này chỉ ghi mới nhận phân
bố trên địa bàn huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (Hartmann và cs., 2012).
Những nghiên cứu về loài L. rubritaeniata chủ yếu được tiến hành bởi một số tác giả là
người nước ngoài: Về phân loại và phân bố (Peters, 1971; Uetz và cs., 2020; Hartmann
và cs., 2012); về đặc điểm di truyền (Srikulnath và cs., 2010). Tuy nhiên, những nghiên
cứu về loài L. rubritaeniata ở Việt Nam thì chưa có công trình nào được công bố. Đặc
điểm hình thái ngoài của ba loài: L. rubritaeniata, L. belliana và L. reevesii có nhiều nét
tương đồng. Theo Srikulnath và cs. (2010) cho thấy loài L. rubritaeniata có mối quan
hệ gần gũi với loài L. belliana hơn loài L. reevesii sau khi so sánh đặc điểm di truyền.
Do có mối quan hệ giữa L. rubritaeniata và L. reevesii nên đặc điểm hình thái ngoài
tương đối giống nhau, nhất là màu sắc và hoa văn trên cơ thể, sự nhầm lẫn giữa hai loài
94 NGÔ VĂN BÌNH và cs.
đã xảy ra (Ngô Đắc Chứng và cs., 2012). Vì vậy, việc mô tả chi tiết các đặc điểm hình
thái ngoài của loài L. rubritaeniata ở Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk là
rất cần thiết, góp phần hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu của loài, làm cơ sở khoa học cho các
nghiên cứu tiếp theo như sinh học, sinh thái và đa dạng di truyền.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp thu mẫu, bảo quản
Mẫu được thu thập bằng cách đào hang, bẫy thòng lọng, bẫy sập ở VQG Yok Đôn,
tỉnh Đăk Lăk vào tháng 2 và tháng 3 năm 2020. Tổng số có 10 mẫu đã được thu thập và
phân tích đặc điểm hình thái. Trong đó, có 7 cá thể đực và 3 cá thể cái.
Trong quá trình thu mẫu đồng thời điều tra nhanh các đặc điểm về giới tính, vi môi
trường sống, nhiệt độ, độ ẩm, tọa độ, thời gian, hoạt động của mẫu Sau đó cho vào
các túi lưới có ghi nhãn ký hiệu mẫu. Mẫu sau đó được đưa về phòng thí nghiệm để
phân tích các đặc điểm hình thái. Các mẫu L. rubritaeniata sau khi phân tích được đánh
dấu mẫu và bảo quản trong cồn 75o. Tất cả các mẫu được lưu giữ tại Phòng thí nghiệm
Động vật học, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.
2.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái
Các đặc điểm hình thái được đo bằng thước kẹp điện tử có sai số ± 0,01 mm. Sử dụng
thước dây để đo chiều dài đuôi (TL). Cân khối lượng (BM) của từng cá thể bằng cân
điện tử sai số ± 0,01 g. Các số đo hình thái khác bao gồm: dài thân (SVL), dài đầu (HL),
rộng đầu (HW), cao đầu (HH), rộng miệng (MW), chiều cao lỗ tai ngoài (HE), đường
kính lỗ tai ngoài (DE), đường kính mắt (DiE), khoảng cách giữa 2 mũi (DN), khoảng
cách giữa nách-háng (AG), dài chi trước (FL), dài cẳng tay (FA), dài chi sau (HB), dài
cẳng chân (TIB). Tính tỷ lệ các tính trạng: HL/SVL; HW/HL; FL/SVL; TIB/HB;
HB/SVL (Cao Thị Thanh Nguyên, 2018; Grismer & Grismer, 2012). Mô tả màu sắc cơ
thể mẫu ở mặt lưng, hai bên mạn sườn, đầu, đặc điểm lỗ đùi và đuôi.
2.3. Xử lý số liệu
Một vài số đo có giá trị phân loại hình thái cao như SVL, HL, HW, BM, TL... được sử
dụng để phân tích hồi quy tuyến tính hoặc không tuyến tính thông qua phần mềm
MINITAB 16.0. Sự sai khác ý nghĩa giữa hai số đo được phân tích bằng cách sử dụng
một yếu tố ANOVA (One-way analysis of variance) với mức ý nghĩa P < 0,05 được
xem là có ý nghĩa thống kê.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Loài này phân biệt giới tính rõ ràng và có thể quan sát thông qua đặc điểm hình thái
ngoài để nhận dạng. Con đực có đầu to, sau mắt có một vạch trắng dài khoảng 5 mm,
1/2 mạn sườn phía trước có các vệt đen và đỏ cam xen kẽ, 1/2 mạn sườn phía sau có
màu đỏ cam chạy xuống tận háng, gốc đuôi to chiếm 1/3 chiều dài đuôi, lỗ đùi to và rõ;
trong khi ở con cái có đầu nhỏ hơn, sau mắt có một vạch trắng ngắn hơn con đực
(khoảng 3 mm), 1/2 mạn sườn phía trước có các vạch đen trắng rõ ràng, 1/2 mạn sườn
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NHÔNG CÁT Leiolepis rubritaeniata (Reptilia) 95
phía sau có màu đỏ cam nhưng nhạt hơn nhiều so với con đực, phía trên hông có ba sọc
khá rõ chạy thẳng lên phía đầu (càng lên càng nhạt dần), tứ chi mảnh, gốc đuôi thuôn
chiếm 2/3 chiều dài đuôi (Hình 1A và 1B). Nhìn chung, các đặc điểm hình thái ngoài
của Nhông cát L. rubritaeniata trong nghiên cứu này phù hợp với mô tả gốc của
Mertens (1961) và Hartmann và cs. (2012).
Hình 1. Hình thái ngoài của hai loài nhông cát. (A) Con đực L. rubritaeniata; (B) Con cái L.
rubritaeniata; (C) Con đực L. reevesii; (D) Con cái L. reevesii
Theo công bố trước đây của Ngô Đắc Chứng và cs. (2012) đã xác định loài xuất hiện ở
VQG Yok Đôn là L. reevesii. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Hartmann và cs.
(2012) khi so sánh đặc điểm hình thái ngoài của loài L. reevesii và L. rubritaeniata nhận
thấy tất cả các mẫu được thu thập tại VQG Yok Đôn đều thuộc loài L. rubritaeniata. Để
xác minh loài phân bố ở vùng Tây Nguyên là loài L. rubritaeniata, chúng tôi đã phân
tích DNA ty thể (dữ liệu chưa công bố), kết quả cho thấy tất cả trình tự DNA ty thể của
mẫu nhông cát ở VQG Yok Đôn không phù hợp với dữ liệu đã công bố về trình tự DNA
ty thể của loài L. reevesii.
Kết quả phân tích cho thấy SVL trung bình ở con đực trưởng thành (110,32 ± 7,03 mm)
lớn hơn con cái trưởng thành (94,71 ± 3,11 mm) và sự sai khác có ý nghĩa thống kê (F1,9
= 10,91; P = 0,011). Trung bình, cá thể đực trưởng thành có khối lượng cơ thể và các số
đo hình thái lớn hơn cá thể cái trưởng thành (con đực: BM = 28,68 ± 2,76 g; con cái:
BM = 16,01 ± 1,69 g; F1,9 = 139,63; P < 0,0001) (Bảng 1).
96 NGÔ VĂN BÌNH và cs.
Bảng 1. Đặc điểm hình thái và khối lượng cơ thể của Nhông cát L. Rubritaeniata
ở VQG Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk
Đặc điểm
Kí
hiệu
Đơn
vị
Cá thể đực Cá thể cái Chung
TB ± SD
(Min - Max)
TB ± SD
(Min - Max)
TB ± SD
(Min - Max)
Dài thân SVL mm
110,32 ± 7,03
(100,03-122,03)
94,71 ± 3,11
(92,02-99,06)
105,63 ± 9,4
(92,02-122,03)
Dài đuôi TL mm
216,29 ± 15,88
(184-238)
153,67 ± 47,54
(88-199)
197,50 ± 40,96
(88-238)
Dài đầu HL mm
23,57 ± 1,27
(21,35-25,71)
19,58 ± 0,39
(19,07 - 20,01)
22,37 ± 2,13
(19,07-25,71)
Rộng đầu HW mm
17,91 ± 0,76
(16,83-19,05)
13,36 ± 0,37
(12,87-13,78)
16,55 ± 2,19
(12,87-19,05)
Cao đầu HH mm
13,26 ± 0,64
(12,12-14,13)
10,97 ± 0,26
(10,64-11,27)
12,57 ± 1,19
(10,64-14,13)
Rộng miệng MW mm
14,72 ± 0,99
(13,06-16,14)
12,28 ± 0,35
(12,01-12,77)
13,99 ± 1,41
(12,01-16,14)
Chiều cao lỗ
tai ngoài
HE mm
4,64 ± 0,42
(4,22-5,33)
3,57 ± 0,84
(2,39-4,29)
4,32 ± 0,76
(2,39-5,33)
Đường kính lỗ
tai ngoài
DE mm
3,36 ± 0,35
(2,92-3,99)
2,81 ± 0,30
(2,41-3,12)
3,18 ± 0,41
(2,41-3,99)
Đường kính
mắt
DiE mm
6,08 ± 0,26
(5,57-6,41)
5,25 ± 0,26
(5,01-5,61)
5,83 ± 0,46
(5,01-6,41)
Khoảng cách
giữa 2 mũi
DN mm
5,45 ± 0,41
(4,97-6,12)
5,05 ± 0,28
(4,73-5,41)
5,33 ± 0,41
(4,73 - 6,12)
Khoảng cách
nách-háng
AG mm
50,41 ± 4,43
(42,88-57,28)
40,71 ± 1,08
(39,36-41,01)
47,51 ± 5,82
(39,36-47,28)
Dài chi trước FL mm
22,47 ± 0,41
(18,49-25,64)
19,02 ± 0,33
(18,57-19,37)
21,43 ± 2,49
(18,49-25,64)
Dài cẳng tay FA mm
13,67 ± 0,95
(12,34-15,15)
11,07 ± 0,49
(10,83-11,6)
12,89 ± 1,46
(10,83-15.15)
Dài chi sau HB mm
36,09 ± 0,68
(35,39-37,31)
30,34 ± 1,64
(28,93-32,64)
34,37 ± 2,84
(28,93-37,31)
Dài cẳng chân TIB mm
23,94 ± 1,78
(21,85-25,02)
20,41 ± 0,61
(19,67-21,17)
22,91 ± 2,24
(19,67-25,02)
Khối lượng cơ
thể
BM gam
28,68 ± 2,76
(35,09-43,41)
16,01 ± 1,69
(14,74-18,41)
31,88 ± 10,68
(14,74-43,41)
Tỷ lệ các tính trạng trong nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu trước đã công bố của
Ngô Đắc Chứng và cs. (2012), kết quả này một lần nữa khẳng định mẫu nhông cát ở
VQG Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk là loài L. rubritaeniata chứ không phải loài L. reevesii.
Đáng chú ý các tỷ lệ có tính ổn định cao như HL/SVL và HW/HL.
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NHÔNG CÁT Leiolepis rubritaeniata (Reptilia) 97
Bảng 2. Một số tỷ lệ các số đo hình thái của cá thể đực và cá thể cái Nhông cát L. rubritaeniata
ở VQG Yok Đôn, tỉnh Đăk Lăk
Tỷ lệ
Nghiên cứu này Ngô Đắc Chứng và cs. (2012)
Đực Cái Đực Cái
HL/SVL
0,22 ± 0,18
0,20-0,23
0,21 ± 0,12
0,20-0,21
0,21 ± 0,01
0,20-0,23
0,21 ± 0,01
0,20-0,22
HW/HL
0,76 ± 0,60
0,71-0,84
0,68 ± 0,96
0,67-0,69
0,55 ± 0,01
0,53-0,57
0,58 ± 0,02
0,54-0,61
FL/SVL
0,20 ± 0,33
0,18-0,22
0,20 ± 0,11
0,19-0,21
0,15 ± 0,01
0,14-0,15
0,14 ± 0,01
0,13-0,15
TIB/HB
0,66 ± 2,60
0,61-0,74
0,67 ± 0,37
0,61-0,71
0,69 ± 0,02
0,66-0,71
0,32 ± 0,01
0,31-0,33
HB/SVL
0,33 ± 0,10
0,30-0,36
0,32 ± 0,53
0,31-0,33
0,18 ± 0,03
0,14-0,24
0,18 ± 0,03
0,15-0,24
Hình 2. Mối quan hệ giữa các số đo hình thái của L. rubritaeniata ở VQG Yok Đôn. (A) giữa
chiều dài thân và khối lượng cơ thể; (B) giữa chiều dài đuôi và khối lượng cơ thể; (C) giữa
chiều dài thân và chiều dài đầu; (D) giữa chiều dài thân và chiều rộng đầu
98 NGÔ VĂN BÌNH và cs.
Kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ giữa chiều dài thân và khối lượng cơ thể có ý
nghĩa thống kê (F1,9 = 14,711; P = 0,005). Giữa chiều dài đuôi và khối lượng cơ thể có ý
nghĩa thống kê (F1,9 = 7,49; P = 0,02). Tương tự giữa chiều dài thân với chiều dài đầu
(F1,9 = 22,82; P = 0,001) và chiều dài thân với chiều rộng đầu (F1,9 = 13,52; P = 0,006)
đều có sự sai khác ý nghĩa thống kê (Hình 2).
4. KẾT LUẬN
Nhông cát L. rubritaeniata là một loài có tính dị hình kích thước giới tính rõ ràng. Cá
thể đực trưởng thành có khối lượng cơ thể và các số đo hình thái lớn hơn cá thể cái
trưởng thành. Trung bình loài L. rubritaeniata có chiều dài thân 105,63 ± 9,4 mm tương
ứng với khối lượng 31,88 ± 10,68 g.
Con đực có đầu to, sau mắt có một vạch trắng dài khoảng 5 mm, 1/2 mạn sườn phía
trước có các vệt đen và đỏ cam xen kẽ, 1/2 mạn sườn phía sau có màu đỏ cam chạy
xuống tận háng, gốc đuôi to chiếm 1/3 chiều dài đuôi, lỗ đùi to và rõ. Con cái có đầu
nhỏ hơn, sau mắt có một vạch trắng ngắn hơn con đực (khoảng 3 mm), 1/2 mạn sườn
phía trước có các vạch đen trắng rõ ràng, 1/2 mạn sườn phía sau có màu đỏ cam nhưng
nhạt hơn nhiều so với con đực, phía trên hông có ba sọc khá rõ chạy thẳng lên phía đầu,
tứ chi mảnh, gốc đuôi thuôn chiếm 2/3 chiều dài đuôi.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này nhận được sự tài trợ kinh phí từ Bộ Giáo dục và Đào tạo
của Việt Nam (Mã số đề tài B2020-DHH-08). Xin cảm ơn sự hỗ trợ phân tích mẫu trong
phòng thí nghiệm của Đặng Ngọc Thanh Nhàn, Trần Thị Thu Hà, Dương Thị Lành,
Phùng Thị Hương Giang, Phạm Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Yến Nhi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ngô Đắc Chứng, Nguyễn Văn Lanh, Phan Vũ Nguyên (2012). Dẫn liệu về khu vực
phân bố và đặc điểm hình thái của loài Nhông cát Leiolepis reevesii (Gray, 1831) ở
vườn quốc gia Yok Đôn, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk. Hội thảo quốc gia về lưỡng
cư và bò sát ở Việt Nam, lần thứ 2, NXB Đại học Vinh, trang 82-89.
[2] Darevsky I. S. and Nguyen V. S. (2004). Leiolepis reevesii rubritaeniata. Geographic
distribution, Herpetol. Rev., 35(3), 288 pp.
[3] Grismer J. L. and Grismer L. L. (2010). Who’s your mommy? Identifying materal
ancestors of asexual species of Leiolepis Cuvier, 1829 and the description of a new
endemic species of asexual Leiolepis Cuvier, 1892 from Southern Vietnam, Zootaxa,
2433, pp. 47-61.
[4] Hartmann T., Sovath Sothanin, Markus Handschuh, and Wolfgang Böhme (2012). The
taxonomic status of the Red-banded Butterfly Lizard, Leiolepis rubritaeniata Mertens,
1961, with distributional and natural history notes, Russian Journal of Herpetology, Vol
19, No 2, pp. 108-114.
[5] Mertens R. (1961). Die Rassen der Schmetterlingsagame, Leiolepis belliana,
Senckenberg. Biol., 42, pp. 507-510.
[6] Cao Thị Thanh Nguyên (2018). Nghiên cứu mật độ, biến động số lượng và xác suất
phát hiện loài Nhông cát sọc (Leiolepis guentherpetersi) ở vùng cát ven biển huyện Phú
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI NHÔNG CÁT Leiolepis rubritaeniata (Reptilia) 99
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm, Đại
học Huế, 70 tr.
[7] Nguyen V. S., T. C. Ho, and Q. T. Nguyen (2009). Herpetofauna of Vietnam, Edition
Chimaira, Frankfurt am Main, Germany.
[8] Peters G. (1971). Die intragenerischen Gruppen und die Phylogenese der
Schmetterlingsagamen (Agamidae: Leiolepis), Zool, Jb Syst, 98, pp. 11-130.
[9] Srikulnath K., Matsubara K., Uno Y., Thongpan A., Suputtitada S., Nishda C., Matsuda
Y., and Apissitwanich A (2010). Genetic relationship of the three butterfly lizard
species (Leiolepis reevesii rubritaeniata, Leiolepis belliana belliana, Leiolepis boehmei,
Agamidae, Squamata) inferred from nuclear gene sequence analyses, Kasetsart J. Nat,
Sci 44(3), pp. 424-434.
[10] Uetz P., Freed P. & Hošek J (2020). The Reptile Database,
database.org, accessed April 14, 2020.
Title: MORPHOLOGICAL CHARACTERS OF THE REEVES’ BUTTERFLY LIZARD,
Leiolepis rubritaeniata (Reptilia), IN YOK DON NATIONAL PARK, DAK LAK PROVINCE
Abstract: The Reeves’ Butterfly Lizard (Leiolepis rubritaeniata Mertens, 1961) has a relatively
narrow distribution range in the Central Highlands of Vietnam. Studies on this species are very
limited. Used specimens (7 adult males and 3 adult females) in this study were collected from
Yok Don National Pak, Dak Lak Province from February to March 2020. Morphological
analysis results indicated that this species is sexual size dimorphism. Adult males have greater
body mass and morphological measurements than adult females (adult males: BM = 28.68 ±
2.76 g corresponding with SVL = 110.32 ± 7.03 mm; adult female: BM = 16.01 ± 1.69 g
corresponding with SVL = 94.71 ± 3.11 mm). This study was the first to record the distribution
of L. rubritaeniata Mertens, 1961 in Dak Lak Province.
Keywords: Leiolepis rubritaeniata; morphology; Yok Don National Park.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_hinh_thai_nhong_cat_leiolepis_rubritaeniata_reptili.pdf