F. solani là loài nấm gây bệnh có nguồn gốc
trong đất, tồn tại dưới dạng bào tử phân sinh,
bào tử hậu. pH đất có ảnh hưởng đến sự nảy
mầm của bào tử và sự phát triển của nấm.
Nghiên cứu về sự phát triển của nấm F. solani
ở các mức pH khác nhau trong điều kiện in
vitro đã bổ sung thêm thông tin nhằm hạn chế
sự phát triển của bệnh ngoài đồng ruộng
F.solani có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt
nhất trong khoảng pH từ 6-7 với đường kính
tản nấm đạt 90mm sau 7 ngày nuôi cấy. Kết
quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu
của Sood (1996).
4. KẾT LUẬN
Nấm gây bệnh thổi cổ rễ lạc tại Lương Tài,
Thuận Thành – Bắc Ninh được xác định là
Fusarium solani dựa vào các đặc điểm hình thái
và trình tự vùng rDNA – ITS. Nghiên cứu này lần
đầu phát hiện nấm F. solani gây bệnh thối cổ rễ
lạc và xuất hiện giai đoạn hữu tính ở điều kiện
đồng ruộng. Nấm F. solani phát triển tốt trên môi
trường PDA, PCA, nhiệt độ 25 - 30oC và pH 6–7.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm hình thái, sinh học và phân tử của nấm Fusarium Solani gây bệnh thối cổ rễ lạc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
38
0,09 mm, sải cánh 1,89 ± 0,09 mm; trưởng thành
đực có chiều dài cơ thể 0,84 ± 0,07 mm, sải cánh
1,58 ± 0,12 mm.
Ở điều kiện nhiệt độ trung bình 28,5
o
C và ẩm
độ trung bình 75,5% với thức ăn là lá giống dưa
lưới Taki thì vòng đời bọ phấn trắng dao động từ
16 đến 22 ngày trung bình là 18,86 ± 1,58 ngày.
Tỉ lệ trứng nở là 88%. Tuổi thọ trưởng thành đực
trung bình 19,76 ± 2,2 ngày và của trưởng thành
cái trung bình 24,46 ± 2,83 ngày. Trung bình mỗi
trưởng thành cái đẻ 79 ± 32,7 trứng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đàm Ngọc Hân, 2012. Nghiên cứu thành phần bọ
phấn hại cây trồng; đặc điểm sinh học, sinh thái của loài
Bemisia tabaci (Gennadius) hại đậu tương và hướng
phòng trừ ở vùng Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 142 trang.
2. Fekrat L. and P. Shishehbor, 2007, Some
Biologycal Features of Cotton Whitefly, Bemisia tabaci
(Homoptera: Aleyrodidae) on Various Host Plants”,
Pakistan Journal of Biological Sciences 18: 3180-
3184.2.
3. Lê Thị Tuyết Nhung, 2014. Nghiên cứu thành
phần loài họ bọ phấn Aleyrodidae (Homoptera) và đặc
điểm sinh học, sinh thái, biện pháp phòng trừ bọ phấn
thuốc lá Bemisia tabaci (Gennadius) hại cây họ cà ở
vùng Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội, 157 trang
3. Ronald F.L, Mau and Jayma L. Martin Kessing,
1992, Bemisia tabaci biological characteristics as
biology control agents, Department of Entomology,
Honolulu, Hawaii.
4. Viện Bảo vệ thực vật, 2000, Phương pháp
nghiên cứu Bảo vệ thực vật tập 3, Nhà xuất bản Nông
nghiệp. Tr 16-20
Phản biện: TS. Nguyễn Thị Thủy
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ PHÂN TỬ
CỦA NẤM Fusarium solani GÂY BỆNH THỐI CỔ RỄ LẠC
Morphological, Biological and Molecular Characteristics
of Fusarium solani Causing Collar Rot of Groundnut
Nguyễn Đức Huy
1
* và Nguyễn Thị Mai Anh
2
Ngày nhận bài: 25.05.2018 Ngày chấp nhận: 22.06.2018
Abstract
During a field survey in spring season of 2016 and 2017, 15 samples of collar rot were collected from
groundnut in Luong Tai, Thuan Thanh and Gia Binh districts of Bac Ninh province. The samples were then single
isolated using a technic of glass needle. DNA was extracted from fungal mycelium after seven days of culture on
PDA. The result of rDNA-ITS sequences showed that the two isolates were identical and shared highly
sequences with the Fusarium solani available in GenBank. The fungus produced macroconidia, microconidia,
chlammydospore and pycnidium on PDA and CLA. Fuethermore, the fungus grown well at 25-30
o
C, pH 6 – 7,
PDA and PCA, the diameter of fungal mycelium was 90mm after 5 days of culter. Based on morphological and
molercular characteristis, the fungus was identified as F.
solani and the first time for detection of F. solani causing
collar rot of groundnut.
Keywords: F. solani causing collar rot of
groundnut, Luong Tai, Thuan Thanh and Gia Binh
districts of Bac Ninh.
1. Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam
2. Học viên lớp cao học K24BVTVB, Khoa Nông
học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
39
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) có nguồn gốc
từ Nam Mỹ, hiện nay cây lạc được trồng ở trên
100 quốc gia thuộc 6 Châu lục. Ở Việt Nam, lạc
được trồng phổ biến ở nhiều tỉnh với những vùng
sản xuất lạc lớn như Nghệ An, Thanh Hóa,...đem
lại hiệu quả kinh tế cao nhờ khả năng cải tạo,
nâng cao độ phì của đất và tăng năng suất cây
trồng khác. Tuy nhiên, trong quá trình sinh
trưởng phát triển của cây lạc, một số loài nấm
gây hại vùng rễ như Sclerotium rolfsii,
Rhizoctonia solani, Aspergillus niger,...đã làm
giảm năng suất cây cây lạc.
Trên thế giới ngoài các bệnh nấm có nguồn
gốc trong đất hại lạc phổ biến như héo rũ gốc
mốc trắng (S. rolfsii), lở cỗ rễ (R. solani) và héo
rũ gốc mốc đen (A. niger). Bệnh thối nâu rễ trên
lạc do nấm Fusarium solani thuộc chi Fusarium
cũng đã được phát hiện ở Argentina (Federico et
al., 2007). Chi Fusarium đã xác định được hơn
70 loài và phân bố rộng khắp các vùng đất canh
tác ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới (Leslie and
Summerell, 2006) và gây thiệt hại có ý nghĩa kinh
tế cho ngành sản xuất rau màu và hoa trên thế
giới (Agrios, 2005). Trong chi Fusarium, 3 loài
F. oxysporum, F. solani và F. moniliforme được
xem là quan trọng nhất do phạm vi phân bố rộng
và mức độ gây thiệt hại cho cây trồng (Agrios,
2005). Ở Việt Nam, cả 3 loài này đều đã được
ghi nhận, trong đó F. oxysporum gây bệnh héo
vàng trên cà chua, khoai tây và chuối,
F. moniliforme gây các bệnh lúa von trên lúa,
mốc hồng trên ngô.
F. solani phân bố ở nhiều nước trên thế giới.
Trong đó, F. solani gây bệnh thối thân lạc được
phát hiện lần đầu tiên tại Cordoba vào năm 1992,
sau đó xuất hiện phổ biến ở các vùng trồng lạc
của Argentina (Federico et al., 2007). Bệnh thối
thân cũng đã được báo cáo ở Indonesia,
Pakistan, Ai Cập và Úc (Widodo and Budiarti,
2009; Zaman and Ahmed, 2012).
Hiện nay, ở Việt Nam nấm hại có nguồn gốc
trong đất rất đa dạng như bệnh héo rũ gốc mốc
trắng, lở cổ rễ, héo vàng, héo rũ gốc mốc đen.
Những nghiên cứu về các bệnh này đã tập trung
vào điều tra tỷ lệ bệnh, phân lập và giám định
nấm gây bệnh cũng như thử nghiệm phòng trừ
bệnh trong điều kiện in vitro, in vivo và điều kiện
đồng ruộng (Đỗ Tấn Dũng, 2006; Trần Thị Thu
Hà và Phạm Thanh Hòa, 2012; Nguyễn Văn Viên
và cộng sự, 2012). Tuy nhiên, thối cổ rễ do
F. solani chưa được ghi nhận. Nghiên cứu này
nhằm i) xác định tác nhân gây bệnh thối cổ rễ lạc
tại Bắc Ninh trong vụ lạc xuân 2016 và 2017 dựa
trên đặc điểm hình thái và phân tử và ii) nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học của nấm gây bệnh
thối cổ rễ lạc.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thu thập mẫu bệnh và phân lập nấm
gây bệnh
Trong nghiên cứu này, 15 mẫu bệnh thối cổ
rễ lạc điển hình, các mẫu bệnh được thu thập từ
giống lạc Sen lai tại 3 huyện Lương Tài, Thuận
Thành và Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh. Các mẫu
bệnh được rửa sạch dưới vòi nước, sau đó lại
bằng nước cất và khử trùng bằng cồn 95%. Nấm
gây bệnh được phân lập theo 2 phương pháp i)
đặt ẩm mẫu bệnh trên giấy thấm trong đĩa petri,
sau khi sợi nấm phát triển và hình thành bào tử
phân sinh được sử dụng kỹ thuật cấy đơn bào tử
bằng kim thủy tinh với sự hỗ trợ của kính hiển vi
quang học và ii) cấy trực tiếp mô bệnh vào môi
trường WA (water agar), khi sợi nấm mọc ra từ
mô bệnh, tiến hành cắt đỉnh sinh trưởng và cấy
chuyển sang môi trường PDA. Nguồn nấm thuần
được sử dụng để kiểm tra lại triệu chứng và
nguyên nhân gây bệnh theo qui tắc Koch với
giống lạc Sen lai.
2.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của nấm
Nguồn nấm thuần được cấy trên môi trường
PDA và nuôi cấy trong tủ định ôn với 12 giờ
sáng/12 giờ tối ở 25
o
C. Đặc điểm phát triển của
tản nấm, sự hình hình và kích thước của các loại
bào tử của nấm gây bệnh được theo dõi và quan
sát sau các ngày nuôi cấy.
2.3 Tách chiết DNA, PCR và giải trình tự
vùng rDNA-ITS
Nguồn nấm thuần được nuôi cấy trên môi
trường PDA ở nhiệt độ 25
o
C trong 7 ngày. DNA
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
40
của nấm được tách chiết theo phương pháp đun
sôi và CTAB.
* Phương pháp đun sôi
Cạo sợi nấm (kích thước khoảng đầu que
diêm) cho vào 0,1 ml nước cất vô trùng trong ống
0,5ml, ủ ở nhiệt độ 65
o
C trong 15-20 phút (máy
đun nước nhiệt độ ổn định). DNA thu được sử
dụng làm khuôn cho phản ứng PCR.
* Phương pháp CTAB (Cetyltrimethylammonium
bromide) của Doyle & Doyle (1990)
DNA của nấm được chiết bằng đẹm CTAB
với Chlorofom isoamyl (24:1) và isopropanol. Kết
tủa DNA được rửa 2 lần với cồn 70%. Để khô
trong không khí hoặc buồng cấy vi sinh vật trong
30 phút. DNA được hòa tan trong 50 µl đệm TE
và giữ ở -20
o
C làm khuôn cho phản ứng PCR.
* PCR và giải trình tự
Phản ứng PCR nhân vùng rDNA-ITS của nấm
được thực hiện với cặp mồi ITS4 (5’-
TCCTCCGCTTATTGATATGC-3’) và ITS5(5’-
GGAAGTAAAGTCGTAACAAGG-3’) của White
et al. (1990). Thành phần phản ứng PCR với
tổng thể tích là 20µl trong đó 8,5 µl H2O, 10 µl
GoTaq Mix, 0,5 µl mồi ITS4, 0,5 µl mồi ITS5 và
0,5 µl DNA khuôn. Sản phẩm PCR được điện di
bằng 0,7 % Agarose gel sử dụng đệm TAE trong
thời gian 30 phút. DNA được tinh sạch từ
Agarose gel sử dụng Kit chiết thương mại theo
hướng dẫn của nhà sản xuất. DNA sau tinh sạch
từ Agarose gel được sử dụng để giải trình tự với
mồi ITS5 (5,0 µl mồi và 5,0 µl DNA). Phản ứng
giải trình tự được thực hiện tại Trường Đại học
Shimane, Nhật Bản.
* Xác định nấm gây bệnh dựa vào trình tự
vùng ITS
Từ trình tự vùng gene ITS với kích thước 500
bp, rõ nét, chất lượng tốt được so sánh và tìm
kiếm chuỗi tường đồng bằng sử dụng phần mềm
BLAST trực tuyến trên NCBI (National Centerfor
Biotechnology Information).
2.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của nấm
2.4.1. Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng
đến sự phát triển của nấm gây bệnh
Sự phát triển của nấm gây bệnh thối cổ rễ lạc
được thử nghiệm trên các môi trường PDA,
PCA, PSA và WA ở nhiệt độ nuôi cấy 25
o
C. Mỗi
công thức nhắc lại 3 lần. Theo dõi sự phát triển
của nấm sau các ngày nuôi cấy.
2.4.2. Ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đến sự
phát triển của nấm
Tương tự, sự phát triển của nấm cũng được
thử nghiệm ở các nhiệt độ 15
o
C, 20
o
C, 25
o
C, 30
o
C
và pH 4, 5, 6, 7 và 8. Mỗi ngưỡng nhiệt độ và pH
nhắc lại 3 lần. Sử dụng HCl và NaOH để điều
chỉnh pH. Sự phát triển của nấm gây bệnh ở các
nhiệt độ và pH khác nhau được theo dõi bằng đo
đường kính tản nấm ở các ngày nuôi cấy.
Trong nghiên cứu này, các thí nghiệm trong
phòng về hình thái, chiết tách DNA và PCR, ảnh
hưởng của môi trường nuôi cấy, nhiệt độ và pH
đến sự phát triển của nấm gây bệnh lở cổ rễ lạc
được tiến hành năm 2016 và 2017 tại Bộ môn
Bệnh cây, Khoa Nông học, Học viện Nông
nghiệp Việt Nam.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái của nấm gây bệnh
thối cổ rễ lạc
Kết quả điều tra bệnh hại lạc ở vụ lạc xuân năm
2016-2017, tỷ lệ nhiễm bệnh thối cổ rễ lạc khá cao
từ 15% đến 20%. 15 mẫu bệnh thối cổ rễ có triệu
chứng điển hình được thu thập từ giống lạc Sen
lai. (bảng 1). Triệu chứng điển hình của các cây lạc
bị bệnh là cổ rễ bị thối mủn (hình 1a).
Bảng 1. Kết quả thu thập các mẫu thối cổ rễ cây lạc tại Bắc Ninh và đặc điểm
tản nấm phân lập trên môi trƣờng PDA
Địa điểm Loại đất
Bộ phận
bị hại
Số mẫu
thu
Đặc điểm tản nấm phân lập trên
môi trường PDA
Lương Tài Đất cát pha cổ rễ 5
Tản nấm màu trắng kem, xốp. Đường kính
tản nấm sau 5 ngày nuôi cấy là 90 mm.
Gia Bình Đất cát pha cổ rễ 5
Tản nấm màu trắng kem, xốp. Đường kính
tản nấm sau 5 ngày nuôi cấy là 90 mm.
Thuận Thành Đất thịt nhẹ cổ rễ 5
Tản nấm màu trắng kem, bông xốp. Đường
kính tản nấm sau 5 ngày nuôi cấy là 90 mm.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
41
Các mẫu bệnh được đặt trên giấy thấm giữ
ẩm trong đĩa petri và quan sát sau 5-7 ngày.
Trên bề mặt vế bệnh xuất hiện lớp nấm trắng
xốp và đôi khi quan sát được nhiều quả thể mở
hình cầu, mầu cam (hình 1b-c).
a)
b)
c)
Hình 1. Triệu chứng thổi cổ rễ cây lạc tại huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh
(a). Sợi nấm trắng, xốp và các quả thể mở màu cam hình thành trên phần cổ rễ khi đặt ẩm trên giấy
thấm sau 3-5 ngày (b). Quả thể mở mầu cam hình thành trên bề mặt vết bệnh (c).
Quan sát mẫu bệnh dưới kính hiển vi quang
học ở vật kính x10 và x40 đã quan sát được các
bào tử lớn, hình lưỡi liềm, hai đầu hơi nhọn và
chủ yếu có 3 vách ngăn. Bào tử nhỏ thường hình
ovan, trứng và không có vách ngăn hoặc có 1
vách ngăn. Bọc giả (chuỗi bào tử nhỏ) có cuống
dài. Căn cứ vào đặc điểm hình thái thu được,
nấm gây bệnh thối cổ rễ lạc tại Bắc Ninh bước
đầu được xác định là Fusarium solani (F. solani).
Nấm gây bệnh được phân lập đơn bào tử để tạo
ra nguồn nấm thuần. Môi trường WA được sử
dụng để cấy đơn bào tử. Sau 3 ngày, đỉnh sinh
trưởng sợi nấm mới mọc được cắt và cấy truyền
sang môi trường PDA để theo dõi đặc điểm hình
thái và cấu trúc của nấm gây bệnh (bảng 2). Nấm
phát triển nhanh trên môi trường PDA, đường
kính tản nấm là 90 mm sau 5 ngày nuôi cấy, tản
nấm bông, xốp và màu trắng kem (hình 2a).
Bảng 2. Đặc điểm hình thái nấm gây bệnh thối cổ rễ lạc
Chỉ tiêu
hình thái
Kích thước ( )
Đặc điểm
Dài Rộng
Quả thể 100 - 130 95 - 130 Hình cầu, màu cam, có lỗ mở
Túi bào tử 65- 112,5 7,5 - 15,0 Thon dài, chứa 8 bào tử túi
Bào tử túi 7,5 – 15,0 7,0 - 12,5 Hình ovan, màu đậm, 2 tế bào
Bào tử lớn 25,0 - 37,5 5,0 - 6,3
Bào tử cong hình liềm, hai đầu nhọn, chủ
yếu có 3 vách ngăn, không màu
Bào tử nhỏ 5,0 - 12,5 3,8 - 5,0
Hình ovan, đơn bào đôi khi có 1 vách
ngăn, không màu
Bào tử hậu 9,0 – 10,0 9,0 – 10,0 Hình cầu, vách dày, đậm
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
42
a)
b)
c)
Hình 2. Tản nấm gây bệnh thối cổ rễ lạc trên môi trƣờng PDA trắng và xốp
(a). Bào tử phân sinh lớn hình lưỡi liềm và chủ yếu có 3 vách ngăn ngang được hình thành
trên môi trường PDA sau 12-15 ngày nuôi cấy (b). Quả thể mở hình cầu, mầu cam hình thành
trên môi trường CLA (Carnation Leaf Agar) (c).
Giai đoạn hữu tính của nấm gây bệnh thối cổ
rễ lạc được quan sát thấy trực tiếp trên đồng
ruộng, khi đặt ẩm mẫu bệnh trên giấy thấm, hoặc
nuôi cấy trên môi trường CLA (sinh sản hữu tính
đồng tản). Bào tử lớn không màu có từ 3-5 vách
ngăn nhưng chủ yếu là 3 vách ngăn, bào tử cong
hình lưỡi liềm, bào tử nhỏ có hình ovan, đơn bào
tử đôi khi có một vách ngăn. Kích thước của
từng loại bào tử được môt tả chi tiết trong bảng
2. Khi nuôi cấy nấm gây bệnh ở nhiệt độ từ 30-
35
o
C trên môi trường PDA sau 2-3 tuần có sự
xuất hiện của bào tử hậu, bào tử hậu hình cầu và
có vách dày (bảng 1). Các đặc điểm hình thái
này đặc trưng so với các đặc điểm hình thái của
nấm F. solani (Leslie and Summerell, 2006).
3.2 Đặc điểm phân tử của nấm gây bệnh
thối cổ rễ lạc
Kỹ thuật giải trình tự gene vùng rDNA-ITS của
nấm gây bệnh được sử dụng để làm căn cứ xác
định chính xác tên nấm gây bệnh thối cổ rễ lạc.
Trọng phạm vi nghiên cứu này 02 mẫu Fu1
(Lương Tài) và Fu2 (Thuận Thành) được sử
dụng để giải trình tự vùng rDNA-ITS (bảng 3).
DNA được tách chiết từ các mẫu nấm sau 7
ngày nuôi cấy trên môi trường PDA ở nhiệt độ
25
o
C và thực hiện phản ứng PCR với cặp mồi
chung ITS. Sản phẩm khuếch đại có kích thước
khoảng 600 bp.
Bảng 3. Kết quả xác định nấm gây bệnh dựa trên trình tự vùng rDNA-ITS
Ký hiệu
trình tự
Chất lượng
trình tự
Đoạn đọc
được (bp)
Loài xác định
Mức độ tương
đồng (%)
Mẫu đồng nhất
trình tự
Fu1 Tốt ~ 500 Fusarium solani 99,0
KR812232,
JN006816
Fu2 Tốt ~ 500 Fusarium solani 99,0
KR812232,
JN006816
Kết quả giải trình tự gene của 2 mẫu Fu1 và
Fu2 (bảng 3) đều thu được chất lượng trình tự
tốt, rõ nét với kích thước đọc được là 500 bp.
Tìm kiếm và so sánh với các chuỗi tương đồng
có sẵn trên ngân hàng gene (Genbank) cho thấy
nấm gây bệnh thối thân ở Bắc Ninh là do
F. solani với mức đồng nhất trình tự là 99,0%.
Như vậy, nấm gây bệnh thối cổ rễ lạc tại Bắc
Ninh được xác định là do F. solani dựa trên cả đặc
điểm hình thái học và đặc điểm phân tử. Các kết
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
43
quả nghiên cứu trước đây, đa số cho thấy bệnh hại
vùng rễ và gốc thân cây lạc là do các nấm
Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Aspergillus
niger gây ra. Nghiên cứu này đã ghi nhận triệu
chứng thối cổ rễ lạc còn do F. solani gây ra
3.3 Đặc điểm sinh học của nấm Fusarium solani
Đặc điểm sinh học của nấm bao gồm ảnh
hưởng của môi trường, pH và nhiệt độ môi
trường nuôi cấy đến sự phát triển của nấm được
nghiên cứu (bảng 4, 5 và 6). Nghiên cứu này
nhằm góp phần cải thiện pH đất cũng như môi
trường đất góp phần tạo ra điều kiện không
thuận lợi cho nấm gây bệnh phát sinh, phát triển.
Nấm F. solani phát triển được ở các môi
trường WA, PDA, PCA và PSA. Tuy nhiên,
nấm F. solani phát triển tốt nhất trên môi
trường PCA và PDA, đường kính tản nấm là 90
mm sau 5 ngày nuôi cấy (bảng 4). Kết quả
nghiên cứu này cũng phù với với nghiên cứu
của Leslie and Summerell (2006) nấm F. solani
phát triển tốt trên môi trường PDA. Đây cũng là
môi trường thuận lợi cho rất nhiều loài nấm
khác như Rhizoctonia solani, Sclerotium
rolfsii,phát triển.
Hình 3. Tản nấm Fusarium solani nuôi cấy ở
các môi trƣờng khác nhau. Từ trái qua phải,
từ trên xuống dƣới (PSA, PDA, PCA và WA)
Bảng 4. Ảnh hƣởng của môi trƣờng nuôi cấy đến sự phát triển
của nấm Fusarium solani
Ngày
nuôi cấy
Đường kính tản nấm sau các ngày nuôi cấy (mm) trên các môi trường
khác nhau LSD0.5
WA PDA PCA PSA
1 12,67
b
13,50
ab
14.33
a
12,00
b
1,57
2 27,67
d
48,67
b
51,33
a
40,67
c
1,66
3 53,33
d
72,33
a
69,67
b
62,67
c
2,18
4 75,67
d
89,00
a
83,67
b
78,33
c
1,49
5 83,33
d
90,00
a
90,00
a
86,67
b
2,56
6 90,00
a
90,00
a
90,00
a
90,00
a
0,00
Bảng 5. Ảnh hƣởng của nhiệt độ đến sự phát triển của nấm Fusarium solani
trên môi trƣờng PDA
Nhiệt độ (
o
C)
Đường kính tản nấm (mm) sau các ngày nuôi cấy
1 2 3 4 5 6 7
15 6,00
d
11,33
d
19,83
d
23,33
d
29.67
e
35,33
e
41,33
d
20 9,00
c
25,17
b
35,17
c
47,83
b
57,83
c
64,83
c
76,83
b
25 18,17
a
55,00
a
76,83
a
81,00
a
90,00
a
90,00
a
90,00
a
30 10,83
b
25,00
b
38,33
b
48,50
b
62,83
b
78,17
b
90,00
a
35 6,33
d
13,67
c
20,00
d
28,67
c
37,17
d
43,50
d
51,83
c
LSD0.5 1,47 1,57 1,70 1,00 1,11 1,29 0,59
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
44
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến sự phát triển, hình thành và khả
năng nảy mầm của bào tử nấm F. solani. Kết quả
khảo sát khả năng sinh trưởng và phát triển ở
các ngưỡng nhiệt độ khác nhau cho thấy F.
solani phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ 25
o
C –
30
o
C. Ở nhiệt độ thấp hơn hoặc cao hơn nấm F.
solani vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển
nhưng tốc độ kém hơn. Cụ thể sau 5 ngày nuôi
cấy chỉ đạt 29,67 mm ở 15
o
C, 57,83mm ở 20
o
C,
37,17mm ở 35
o
C (bảng 4). Kết quả này phù hợp
với kết quả nghiên cứu trước đây (Agrios, 2005).
Bảng 6. Ảnh hƣởng của pH đến phát triển của nấm Fusarium solani trên môi trƣờng PDA
pH
Đường kính tản nấm sau các ngày nuôi cấy (mm)
1 ngày 2 ngày 3 ngày 4 ngày 5 ngày 6 ngày 7 ngày
4 8,17
d
15,33
c
22,33
d
28,67
d
34,83
e
45,17
d
50,00
d
5 8,83
c
19,33
b
31,50
c
43,00
c
52,30
c
67,33
c
74,33
b
6 11,33
b
25,00
a
37,33
b
48,83
b
62,83
b
78,83
b
90
a
7 12,33
a
25,33
a
40,67
a
53,83
a
70,00
a
85,50
a
90
a
8 6,00
e
15,83
c
21,67
d
31,00
d
38,17
d
47,83
d
57,50
c
LSD0.5 0.64 1,38 1,45 3,46 2,90 3,56 2,63
F. solani là loài nấm gây bệnh có nguồn gốc
trong đất, tồn tại dưới dạng bào tử phân sinh,
bào tử hậu. pH đất có ảnh hưởng đến sự nảy
mầm của bào tử và sự phát triển của nấm.
Nghiên cứu về sự phát triển của nấm F. solani
ở các mức pH khác nhau trong điều kiện in
vitro đã bổ sung thêm thông tin nhằm hạn chế
sự phát triển của bệnh ngoài đồng ruộng
F.solani có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt
nhất trong khoảng pH từ 6-7 với đường kính
tản nấm đạt 90mm sau 7 ngày nuôi cấy. Kết
quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu
của Sood (1996).
4. KẾT LUẬN
Nấm gây bệnh thổi cổ rễ lạc tại Lương Tài,
Thuận Thành – Bắc Ninh được xác định là
Fusarium solani dựa vào các đặc điểm hình thái
và trình tự vùng rDNA – ITS. Nghiên cứu này lần
đầu phát hiện nấm F. solani gây bệnh thối cổ rễ
lạc và xuất hiện giai đoạn hữu tính ở điều kiện
đồng ruộng. Nấm F. solani phát triển tốt trên môi
trường PDA, PCA, nhiệt độ 25 - 30
o
C và pH 6–7.
Lời cảm ơn
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TS.
Makoto Ueno, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại
học Shimane, Nhật Bản đã hỗ trợ giải trình tự
gene 02 mẫu nấm Fu1 và Fu2.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Tấn Dũng, 2006. Nghiên cứu bệnh héo rũ
gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii Sacc.) hại một số cây
trồng cạn vùng Hà Nội và phụ cận năm 2005-2006,
Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 4: tr. 19-24.
2. Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Thị Tú và Bùi
Văn Công, 2012. Nghiên cứu sản xuất và sử dụng
chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma viride
phòng trừ một số bệnh nấm hại vùng rễ cây khoai
tây, lạc, đậu tương. Tạp chí Khoa học và Phát
triển, số 1: tr. 95 - 102.
3. Trần Thị Thu Hà và Phạm Thanh Hòa, 2012.
Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma với nấm
bệnh hại cây trồng Sclerotium rolfsii Sacc. trong
điều kiện in vitro. Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số
6: tr .75.
4. Agrios G.N. , 2005. Plant pathology;
Deparment of plant pathology; University of Florida,
5th edition, San Diego, California. Elsevier
Academic Press, pp. 922.
5. Doyle J.J. and Doyle J.L. , 1990. A rapid DNA
isolation procedure for small quantities of fresh leaf
tissue. Phytochem Bull., 19: pp. 11–15.
6. Federico G.R., Maria M.R., Marcela F., Sofía
N.C. and Adriana M.T., 2007. Biological control
by Trichoderma species of Fusarium solani causing
peanut brown root rot under field conditions. Crop
Protection, 26(4): pp. 549-555.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_hinh_thai_sinh_hoc_va_phan_tu_cua_nam_fusarium_sola.pdf