Kết luận
Loài N. indica ở đầm Cầu Hai có sự dao động
khá lớn về các số đo hình thái: chiều cao cây, chiều
dài lóng, chiều dài lá và đường kính thân cây. Loài
phân bố khá rộng từ giữa đầm hướng vào bờ phía
Tây. Độ phủ và sinh khối của N. indica đạt cao nhất
ở các điểm khảo sát ven bờ phía Tây – Bắc của đầm.
Tại những khu vực có nguồn nước ngọt đổ vào
đầm (CH4, CH11, CH12 và CH18), loài phát triển
mạnh, hình thành nên các thảm cỏ với độ phủ và
sinh khối cao. Đặc biệt, ở CH4 và CH11, thảm cỏ
dày đặc nhất với độ phủ lần lượt là 63,25 ± 13,99%
và 55,04 ± 16,05%; và sinh khối tương ứng là 72,35
± 23,99 g/m² và 79,5 ± 31,5 g/m²; ở 6 trạm còn lại, N.
indica phân bố với độ phủ và sinh khối thấp.
Độ phủ và sinh khối N. indica có sự khác biệt
ở các tháng khảo sát. Loài duy trì độ phủ cao trong
khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 11 và đạt
đỉnh vào tháng 9, trong khi sinh khối đạt cực đại
vào tháng 7 và bắt đầu suy giảm vào tháng 9 năm
2018.
Sự biến động phân bố của N. indica ở đầm
Cầu Hai chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
như độ mặn của nước và nhiệt độ không khí. Độ
phủ và sinh khối của N. indica có mối tương quan
yếu với độ mặn trong khi sinh khối của loài có mối
tương quan chặt chẽ với nhiệt độ không khí.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm hình thái và phân bố của loài rong cám najas indica (wild) cham ở đầm Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 107–114, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5638 107
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ PHÂN BỐ CỦA LOÀI RONG CÁM NAJAS
INDICA (WILD.) CHAM. Ở ĐẦM CẦU HAI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Đặng Thị Lệ Xuân¹*, Trương Thị Hiếu Thảo¹, Hoàng Lê Thuỳ Lan¹, Trần Thị Thu Sang²,
Tôn Thất Pháp², Phan Thị Thuý Hằng², Lương Quang Đốc²
¹ Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 34 Lê Lợi, Huế, Việt Nam
² Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Đặng Thị Lệ Xuân
(Ngày nhận bài: 31-12-2019; Ngày chấp nhận đăng: 07-04-2020)
Tóm tắt. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái và phân bố của loài rong cám Najas
indica ở đầm Cầu Hai trong khoảng thời gian từ tháng 3/2018 đến 3/2019. N. indica có phân bố khá rộng
ở đầm Cầu Hai, từ khu vực giữa đầm hướng vào bờ phía Tây, có mặt ở 10/21 điểm khảo sát. Độ phủ và
sinh khối của N. indica có sự khác biệt ở các tháng khảo sát. Độ phủ và sinh khối của rong bắt đầu gia
tăng từ tháng 4. Độ phủ cao nhất đạt được trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến 11 (49,33 ± 15,05%÷52,60
± 12,28%) và sinh khối đạt cực đại vào tháng 7 (93,61 ± 35,60 g/m²); sau đó giảm dần. Độ mặn và nhiệt
độ không khí thể hiện sự ảnh hưởng đến biến động phân bố của N. indica ở đầm Cầu Hai, trong đó, nhiệt
độ không khí có mối tương quan chặt với sinh khối còn độ mặn chỉ thể hiện tương quan yếu với sinh
khối và độ phủ của loài.
Từ khóa: Najas indica, thực vật thủy sinh sống chìm, Đầm Cầu Hai, đầm phá
Morphological characteristics and distribution of Najas indica (Wild.)
Cham. in Cau Hai lagoon, Thua Thien Hue province
Dang Thi Le Xuan¹*, Truong Thi Hieu Thao¹, Hoang Le Thuy Lan¹, Tran Thi Thu Sang²,
Ton That Phap², Phan Thi Thuy Hang², Luong Quang Doc²
1 University of Education, Hue University, 34 Le Loi St., Hue, Vietnam
2 University of Sciences, Hue University, 77 Nguyen Hue St., Hue, Vietnam
* Correspondence to Dang Le Xuan
(Received: 31 December 2019; Accepted: 07 April 2020)
Abstract. The paper reports the morphological characteristics and distribution of Najas indica in the Cau
Hai lagoon from March 2018 to March 2019. N. indica has a fairly wide distribution area in the Cau Hai
lagoon, from the center towards the western bank, and exists in 10/21 surveyed sites. The coverage and
biomass of N. indica differ significantly in the surveyed months. The species starts to increase its coverage
and biomass in April, and the highest value of coverage is recorded from July to November (49.33 ±
15.05%÷52.60 ± 12.28%), while the biomass peak occurs in July (93,61 ± 35,60 g/m²). The distribution of
N. indica partly depends on air temperature and salinity. The results demonstrate that air temperature
variation is strongly correlated with biomass; whereas, water salinity shows a relatively weak correlation
with the species’ biomass and coverage.
Đặng Thị Lệ Xuân và CS.
108
Keywords: Najas indica, submerged aquatic vegetation, Cau Hai lagoon, lagoon
1 Đặt vấn đề
Thực vật thủy sinh sống chìm là những thực
vật sống ngập chìm hoàn toàn trong nước, chúng
phân bố ở cả môi trường nước ngọt, nước lợ và
nước mặn [1, 2]. Các thảm thực vật thủy sinh sống
chìm đóng vai trò quan trọng trong các thuỷ vực
nước ngọt cũng như các hệ sinh thái ven biển như
hệ sinh thái cửa sông, đầm phá và biển ven bờ,
cung cấp nguồn thức ăn, nơi ẩn nấp và ương nuôi
con non của hầu hết các loài động vật thủy sinh [1,
3, 4].
Rong cám Najas indica (Wild.) Cham. (thuộc
họ Najadaceae) là một trong những loài cỏ thuỷ
sinh sống chìm nước ngọt, thường gặp ở các ruộng
lúa, sông và ao hồ, nhưng loài cũng phân bố ở cả
các vùng cửa sông và đầm phá nước lợ [5, 6, 7]. Các
thảm cỏ N. indica là nguồn cung cấp thức ăn và là
nơi sống lý tưởng của nhiều loài động vật dưới
nước. Ngoài ra, N. indica còn có khả năng cải thiện
chất lượng môi trường nước thuỷ vực nhờ việc hấp
thụ và tích lũy một lượng lớn các kim loài nặng
như chì (Pb) [8], hay còn được sử dụng làm phân
bón.
Mặc dù là một loài thực vật thủy sinh sống
chìm phân bố khá phổ biến ở Việt Nam, nhưng N.
indica lại ít được các nhà nghiên cứu trong nước
quan tâm. Phạm Hoàng Hộ [5] là người đầu tiên
mô tả N. indica. Những nghiên cứu tiếp theo về loài
chỉ dừng lại ở phân loại và ghi nhận sự xuất hiện
của loài ở các khu vực phân bố. N. indica đã được
ghi nhận phân bố khá phổ biến ở các đầm phá miền
Trung Việt Nam, đặc biệt ở đầm phá Tam Giang –
Cầu Hai [6, 7, 9-12]. Những hiểu biết về biến động
phân bố theo thời gian trong mối quan hệ với các
yếu tố môi trường là thực sự cần thiết cho công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển thảm cỏ N. indica. Mục
tiêu của nghiên cứu này là đánh giá biến động
phân bố của loài N. indica và kiểm tra sự ảnh hưởng
của độ mặn và một số yếu tố thời tiết (nhiệt độ và
lượng mưa) lên phân bố của N. indica trong môi
trường đầm Cầu Hai.
2 Đối tượng, phạm vi và phương
pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Loài Rong cám Najas indica (Wild.) Cham.
2.2 Phạm vi
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2018
đến tháng 3/2019 ở đầm Cầu Hai (16°19'22' N,
107°50'59'' E), thuộc hệ đầm phá Tam Giang – Cầu
Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế, với 8 đợt thu mẫu vào
các tháng 3, 4, 5, 7, 9, 11 năm 2018 và các tháng 1, 3
năm 2019. Việc thu mẫu N. indica được thực hiện
tại 21 điểm (Hình 1). Khu vực gần cửa Tư Hiền
thường xuyên có độ mặn cao, chỉ có các loài cỏ biển
phân bố [7, 10], nên không thiết lập các điểm khảo
sát.
2.3 Phương pháp
Tại mỗi điểm thu mẫu, tiến hành thu thập
toàn bộ sinh khối (rễ, thân, lá) N. indica với 3 ô tiêu
chuẩn (0,5 × 0,5 m) được bố trí một cách ngẫu nhiên
bên trong thảm cỏ. Mẫu được rửa sạch bằng nước
trong đầm và cho vào túi nilon kèm nhãn ghi
không thấm nước, bảo quản trong thùng mát và
mang về phòng thí nghiệm. Độ phủ của cỏ tại mỗi
điểm được xác định ngay tại hiện trường bằng
phương pháp ô tiêu chuẩn. Tỉ lệ phần trăm độ phủ
của cỏ bên trong ô tiêu chuẩn được xác định dựa
theo hướng dẫn của McKenzie [13] và Campbell
[14]. Tọa độ của các điểm thu mẫu được xác định
bằng máy định vị Garmin GPSMAP®78. Độ mặn
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 107–114, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5638 109
môi trường nước được đo bằng máy HORIBA U-
50; các thông số nhiệt độ không khí và lượng mưa
trung bình ở các tháng trong thời gian thu mẫu do
Trung tâm Khí tượng – Thuỷ văn Thừa Thiên Huế
cung cấp. Tại phòng thí nghiệm, N. indica được rửa
lại nhằm loại bỏ các hạt trầm tích, tảo và các thực
vật phụ sinh. Từ các mẫu cỏ thu được ở mỗi ô tiêu
chuẩn sẽ tiến hành chọn ngẫu nhiên 30 thân đứng
để xác định các thông số hình thái gồm chiều cao
cây, chiều dài lóng (lóng dài nhất), chiều dài lá (lá
dài nhất) và đường kính thân [15]. Mẫu N. indica
sau khi rửa sạch được đem sấy ở 60 °C cho đến khối
lượng không đổi, sau đó lấy ra để nguội và tiến
hành cân để xác định sinh khối khô (g/m2) [15].
Hình 1. Bản đồ các điểm khảo sát thu mẫu N. indica ở đầm Cầu Hai
Số liệu được xử lý và phân tích bằng các
phần mềm thống kê SPSS 20 và Statistica 8.0. Trước
khi phân tích, các biến được kiểm tra điều kiện
phân phối chuẩn bằng kiểm định Shapiro-Wilk. So
sánh sự khác biệt của các thông số theo không gian
và thời gian bằng phương pháp ANOVA Friedman
(vì biến không tuân theo phân phối chuẩn). Mối
tương quan giữa các biến được kiểm tra bằng
phương pháp Pearson hay Spearman dựa vào
phân phối chuẩn hay không chuẩn của các biến,
với mức ý nghĩa được chọn α = 0,05.
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Đặc điểm hình thái của Najas indica ở
đầm Cầu Hai
Najas indica (Wild.) Cham. phân bố ở đầm
cầu Hai có thân cây cao tới 156 cm, đường kính
thân từ 0,2 đến 0,72 mm, phân nhánh nhiều, thân
gồm nhiều lóng, các lóng có chiều dài từ 0,2 đến
81,1 mm. Lá mọc đối, cứng và giòn, mép lá có răng
cưa; chiều dài lá từ 8,74 đến 34,25 mm (Hình 2,
Bảng 1). Rễ của N. indica thuộc loại rễ chùm. N.
indica là loài đơn tính có hoa đực và hoa cái riêng
biệt nằm ở nách lá. Hoa đực nhỏ, nằm trong mo với
vòi nhị dài, bên trong hoa có một bao phấn. Hoa
cái có kích thước lớn hơn nằm trong bẹ lá, có một
vòi nhụy; vòi nhụy ở tận cùng phía trên chẻ ra
thành 2–3 nhánh; bên trong bầu nhụy có một noãn.
Quả hình bầu dục dài, bên trong có một hạt; hạt
được bao bởi hai mảnh vỏ dễ tách nhau ra khi hạt
nảy mầm. Hạt hình hạt lúa, vỏ hạt có màu nâu đậm
và các vân hình lục giác. Những đặc điểm hình thái
của loài N. indica ở đầm Cầu Hai giống với các mô
tả của Phạm Hoàng Hộ [5]. Tuy nhiên, Tôn Thất
Pháp và cs. ghi nhận N. indica có đường kính thân
khá lớn (2 mm) và chiều dài lóng ngắn hơn đáng
kể (1–4 cm) [6].
Đặng Thị Lệ Xuân và CS.
110
Hình 2. Najas indica ở đầm Cầu Hai (a, b); hoa đực (c); hoa cái (d); hạt (e); chóp lá và mép lá có răng cưa (f, g)
Bảng 1. Các đặc điểm hình thái của N. indica ở đầm Cầu Hai (n = 145)
Đặc điểm Trung bình ± SD Khoảng dao động
Chiều cao cây (cm) 44,64 ± 34,75 2,11–156
Chiều dài lá (mm) 21,16 ± 3,93 8,74–34,25
Chiều dài lóng (mm) 36,99 ± 20,34 0,2–81,1
Đường kính thân (mm) 0,56 ± 0,09 0,2–0,72
3.2 Đặc điểm phân bố của Najas indica ở đầm
Cầu Hai
Ở đầm Cầu Hai, N. indica phân bố khá rộng.
Tám đợt thu mẫu từ tháng 3/2018 đến tháng 3/2019
đã ghi nhận sự xuất hiện của loài tại 10/21 điểm
khảo sát. N. indica có xu hướng phân bố tập trung
ở khu vực từ trung tâm đầm hướng vào phía đất
liền phía Tây đầm (Hình 3a). N. indica ở các trạm
khảo sát có sự khác biệt ý nghĩa về độ phủ
(Friedman test, χ2(9df, N = 8) = 23,2 ; p = 0,006) và sinh
khối (χ2(9df, N = 8) = 24,2 ; p = 0,004). Tại 4 điểm (CH4,
CH11, CH12, và CH18) trong tổng số 10 điểm, N.
indica phát triển mạnh, hình thành nên các thảm
đơn loài dày đặc với độ phủ trung bình cao lần lượt
là 63,25 ± 13,99%; 55,04 ± 16,05%; 36,70 ± 17,7%; 33,5
± 15,09%, và sinh khối tương ứng là 72,35 ± 23,99
g/m²; 79,5 ± 31,5 g/m²; 75,13 ± 41,14 g/m²; 37,57 ±
18,6 g/m²; tại 6 điểm còn lại, N. indica phân bố cùng
với loài cỏ biển Halophila beccarii với độ phủ và sinh
khối thấp (thấp nhất ở điểm CH19 với sinh khối
2,58 g/m² và độ phủ 3,25%) (Hình 3b, c).
Phân bố của N. indica có biến động đáng kể
theo thời gian. Khu vực phân bố của loài mở rộng
dần với số điểm phân bố tăng dần lên từ tháng
4/2018 (1 điểm) đến tháng 9/2018 (8 điểm), sau đó
giảm xuống 7 điểm vào tháng 11/2018 và 3 điểm
vào tháng 1/2019. Đến đợt khảo sát vào tháng
3/2019, loài lại mở rộng phân bố lên lại 6 điểm
(Hình 3d).
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 107–114, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5638 111
Hình 3. Bản đồ các điểm phân bố của N. indica ở đầm Cầu Hai (a); Sinh khối (b) và độ phủ (c) của N. indica ở các
điểm (trung bình, SE); Số điểm phân bố của N. indica ở các tháng khảo sát (d)
Tương ứng theo đó, độ phủ và sinh khối của
N. indica cũng có sự biến động giữa các tháng (FA,
χ2 (9df, N = 10) = 30,36; p < 0.0001). Độ phủ có xu hướng
tăng dần từ tháng 5/2018 (23,33 ± 12,47%), tháng
7/2018 (49,33 ± 15,05%), đạt cực đại vào tháng
9/2018 (52,60 ± 12,28%) và duy trì độ phủ cao ở
tháng 11/2018 (51,47 ± 14,46%). Vào tháng 1/2019,
độ phủ của N. indica giảm mạnh (6,67 ± 3,64%), sau
đó tăng lên vào tháng 3/2019 (36,83 ± 14,43%) (Hình
4a). Sinh khối của N. indica cũng có sự khác biệt ở
các tháng khảo sát (FA, χ2(7df, N=10) = 30,67; p < 0,0001),
từ 3,02 ± 3,02 g/m² vào tháng 4 sinh khối loài tăng
dần và đạt cực đại vào tháng 7/2018 (93,61 ± 35,60
g/m²), sau đó giảm dần ở các tháng tiếp theo và
thấp nhất vào tháng 1/2019 (5,47 ± 2,95 g/m²). Mặc
dù rong cám vẫn duy trì độ phủ cao vào các tháng
7, 9 và 11 năm 2018, nhưng sinh khối của loài đã
giảm dần từ tháng 9 đến tháng 11 (Hình 4 a, b).
Hình 4. Độ phủ (a) và sinh khối (b) của N. indica ở các đợt khảo sát
Đặng Thị Lệ Xuân và CS.
112
N. indica là loài cỏ thủy sinh nước ngọt [16].
Do sống trong môi trường đầm phá nên loài dần
thích nghi theo hướng lợ nhạt. Ở phá Tam Giang –
Cầu Hai, loài phân bố phổ biến ở cửa sông Truồi,
sông Đại Giang, sông Cống Quan và khu vực ven
bờ phá nơi có nguồn nước ngọt thường xuyên chảy
ra từ các con kênh với độ mặn dưới 10‰ [9, 10]. Ở
khu bảo vệ thủy sản Cồn Chìm – phá Tam Giang,
Trần Nguyễn Quỳnh Anh và cs. đã nhận thấy N.
indica phát triển mạnh vào tháng 4; bắt đầu tàn lụi
vào tháng 5 và mất hẳn vào tháng 7. Độ mặn được
xem là yếu tố có ảnh hưởng đến phân bố của thảm
thực vật ở Cồn Chìm [12]. Trong nghiên cứu của
Phan Thị Thúy Hằng và cs. về cỏ thuỷ sinh sống
chìm ở đầm Cầu Hai trong mùa sinh trưởng (tháng
3–9/2015), sinh khối N. indica tăng dần từ tháng 3
đến tháng 7; loài bắt đầu tàn lụi vào tháng 9 [10].
Trong nghiên cứu này, mở rộng thời gian khảo sát
quanh năm (tháng 3/2018–3/2019), chúng tôi nhận
thấy thời gian phân bố của N. indica ở đầm Cầu Hai
có thể kéo dài quanh năm, nhưng loài chỉ duy trì
sinh khối và độ phủ cao trong các tháng giữa mùa
khô tới đầu mùa mưa.
3.3 Ảnh hưởng của độ mặn và nhiệt độ tới biến
động phân bố của N. indica ở đầm Cầu Hai
Đầm Cầu Hai nhận nguồn nước mặn từ biển
Đông thông qua cửa Tư Hiền ở phía Đông và nhận
nguồn nước lợ từ đầm Thuỷ Tú và nguồn nước
ngọt từ các con sông, suối, kênh rạch tập trung ở
phía Tây. Tại 21 điểm thu mẫu ở đầm Cầu Hai
trong thời gian từ tháng 3/2018 đến 3/2019, độ mặn
của nước đầm phá dao động từ 0,1‰ đến 20,6‰
(trung bình 9,82 ± 4,31‰; n = 168). Vào các tháng
7/2018 và tháng 9/2018, đầm có độ mặn trung bình
cao nhất lần lượt là 14,35 ± 2,68‰ và 14,81 ± 2,01‰.
Vào các tháng mùa mưa, đầm được cung cấp
nguồn nước ngọt dồi dào từ các con sông, kênh đổ
ra làm cho đầm có độ mặn thấp; tháng 1/2019 có độ
mặn thấp nhất (1,46 ± 0,81 ‰; n = 21). Tuy nhiên,
khu vực N. indica phân bố có độ mặn dưới 15‰
(Hình 5).
Hình 5. Biểu đồ phân bố sinh khối của N. indica theo độ
mặn
Xét tương quan giữa độ mặn với độ phủ và
sinh khối của N. indica cho thấy độ mặn có tương
quan yếu với độ phủ và sinh khối của loài (r = 0,27;
p < 0,05; n = 80). Trong khoảng độ mặn của khu vực
phân bố N. indica ở đầm Cầu Hai dưới 15‰, sinh
khối và độ phủ của loài có xu hướng tăng khi độ
mặn tăng: sinh khối và độ phủ cao trong khoảng
độ mặn từ 4 đến 15‰, nhưng mối tương quan này
chỉ ở mức độ yếu (Hình 5, Bảng 2). Mặc dù vậy,
mối quan hệ này phần nào giải thích cho sự sinh
trưởng mạnh của N. indica vào các tháng mùa khô
– thời kỳ có độ mặn cao ở đầm phá. Tuy nhiên, N.
indica chỉ xuất hiện ở các vùng có độ mặn dưới
15‰, tương ứng với khu vực phân bố của loài là
vùng trung tâm đầm hướng về đất liền phía Tây.
Kết quả cho thấy, đầm Cầu Hai có giới hạn độ mặn
phân bố của N. indica thấp hơn so với một số vùng
nghiên cứu khác như ở vùng đầm Sam – Chuồn
(<21‰) [12], hay ở đầm Chilka – Ấn Độ (<20‰)
[16].
Bảng 2. Hệ số tương quan giữa độ phủ và sinh khối của
N. indica với các yếu tố môi trường
Độ phủ Sinh khối
Độ mặn
0,30 (Spearman,
p < 0,05; n = 80)
0,31 (Spearman,
p < 0,05; n = 80)
Nhiệt độ
không khí
0,69 (Pearson,
p = 0,056; n = 8)
0,71 (Pearson,
p = 0,046; n = 8)
Lượng
mưa
0,41 (Spearman,
p = 0,3; n = 8)
0,28 (Spearman,
p = 0,49; n = 8)
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 107–114, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5638 113
Sinh khối và độ phủ của N. indica có sự biến
động theo thời gian theo mùa trong năm, vì vậy,
chúng tôi cũng xem xét mối tương quan giữa sinh
khối và độ phủ của loài với các yếu tố thời tiết
(nhiệt độ không khí, lượng mưa). Kết quả cho thấy
sinh khối có tương quan chặt chẽ với nhiệt độ
không khí (r = 0,71; p = 0,046); nghĩa là sinh khối
Rong cám tăng khi nhiệt độ tăng (Bảng 2). Kết quả
này giúp lý giải thời điểm bắt đầu phát triển và kéo
dài phân bố của Rong cám sẽ thay đổi và phụ thuộc
vào thời tiết (nhiệt độ) của năm. Cụ thể ở nghiên
cứu này, năm 2018 vào tháng 3 (nhiệt độ 23 °C),
Rong cám chưa xuất hiện và chỉ bắt đầu phát triển
vào tháng 5 (28,3 °C), nhưng vào năm 2019 loài đã
phát triển mạnh từ tháng 3 (25,5 °C) sau quá trình
tàn lụi vào tháng 1. Sự ấm lên của thời tiết có thể
đã thúc đẩy quá trình nảy mầm và phát triển của
loài.
4 Kết luận
Loài N. indica ở đầm Cầu Hai có sự dao động
khá lớn về các số đo hình thái: chiều cao cây, chiều
dài lóng, chiều dài lá và đường kính thân cây. Loài
phân bố khá rộng từ giữa đầm hướng vào bờ phía
Tây. Độ phủ và sinh khối của N. indica đạt cao nhất
ở các điểm khảo sát ven bờ phía Tây – Bắc của đầm.
Tại những khu vực có nguồn nước ngọt đổ vào
đầm (CH4, CH11, CH12 và CH18), loài phát triển
mạnh, hình thành nên các thảm cỏ với độ phủ và
sinh khối cao. Đặc biệt, ở CH4 và CH11, thảm cỏ
dày đặc nhất với độ phủ lần lượt là 63,25 ± 13,99%
và 55,04 ± 16,05%; và sinh khối tương ứng là 72,35
± 23,99 g/m² và 79,5 ± 31,5 g/m²; ở 6 trạm còn lại, N.
indica phân bố với độ phủ và sinh khối thấp.
Độ phủ và sinh khối N. indica có sự khác biệt
ở các tháng khảo sát. Loài duy trì độ phủ cao trong
khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 11 và đạt
đỉnh vào tháng 9, trong khi sinh khối đạt cực đại
vào tháng 7 và bắt đầu suy giảm vào tháng 9 năm
2018.
Sự biến động phân bố của N. indica ở đầm
Cầu Hai chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
như độ mặn của nước và nhiệt độ không khí. Độ
phủ và sinh khối của N. indica có mối tương quan
yếu với độ mặn trong khi sinh khối của loài có mối
tương quan chặt chẽ với nhiệt độ không khí.
Tài liệu tham khảo
1. Tiến NV. Cỏ thủy sinh đầm phá Thừa Thiên Huế –
Báo cáo chuyên đề đề tài: Điều tra khảo sát các bãi
giống, bãi đẻ của các loài thủy sản kinh tế hệ đầm
phá Thừa Thiên Huế và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Thừa Thiên Huế (VN): Sở Khoa học Công Nghệ và
môi trường Thừa Thiên Huế; 2000.
2. Tien NV. Seagrass in the South China Sea – National
report. Bangkok (Thai): UNEP/GEF; 2008.
3. Polidoro B, Brooks T, Carpenter K, Edgar G,
Henderson S, Sanciangco J, et al. Patterns of
extinction risk and threat for marine vertebrates and
habitat-forming species in the Tropical Eastern
Pacific. Marine Ecology Progress Series. 2012;448:93-
104.
4. Short FT, Polidoro B, Livingstone SR, Carpenter KE,
Bandeira S, Bujang JS, et al. Extinction risk
assessment of the world’s seagrass species.
Biological Conservation. 2011;144(7):1961-1971.
5. Hộ PH. Cây cỏ Việt Nam – Tập III. Hồ Chí Minh:
Nxb Trẻ – tp Hồ Chí Minh; 2001.
6. Pháp TT. Đa dạng sinh học phá Tam Giang – Cầu
Hai, Thừa Thiên Huế. Huế: Nxb Đại học Huế; 2009.
7. Pháp TT, Đốc LQ, Tuấn LQ. Phân bố cỏ thủy sinh
bậc cao ở phá Tam Giang–Cầu Hai. Tạp chí Khoa
học & Công Nghệ, sở Khoa học, Công nghệ và Môi
trường, Thừa Thiên Huế. 2001;2(32):45-51.
8. Tripathi RD, Singh R, Tripathi P, Dwivedi S,
Chauhan R, Adhikari B, et al. Arsenic accumulation
and tolerance in rootless macrophyte Najas indica
are mediated through antioxidants, amino acids and
phytochelatins. Aquatic Toxicology. 2014;157:70-80.
9. Hằng PTT, Hương NTT, Đốc LQ, Pháp TT. Thành
phần loài cỏ thủy sinh sống chìm ở đầm Cầu Hai ,
tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Khoa học & Công
Nghệ, Trường Đại học Khoa học, Đại Học Huế.
2016;5(1):87-94.
10. Phan TTH. Submerged Aquatic Vegetation in a
Tropical Coastal Lagoon Environment Dynamics
Đặng Thị Lệ Xuân và CS.
114
and Resilience Strategy [dissertation]. Brussel: Vrije
Universiteit Brussel; 2018. 193 p.
11. Pháp TT. Nghiên cứu thực vật thủy sinh ở phá Tam
Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế [luận án]. Hà Nội:
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; 1993.
12. Anh TNQ, Lương Quang Đốc LQ. Hiện trạng cỏ
thủy sinh ở khu bảo vệ thủy sản cồn Chìm, phá Tam
Giang–Cầu Hai. Tạp chí Khoa học Đại học Huế.
2013;73(4).
13. McKenzie LJ, Campbell SJ. Seagrass-watch: Manual
for community (citizen) monitoring of seagrass
habitat. Queensland (AU): Western Pacific Edition
(QFS, NFC, Cairns); 2002. 43 p.
14. McKenzie LJ. Guidelines for the rapid assessment
and mapping of tropical seagrass habitats.
Queensland (AU): Department of Primary
Industries. The State of Queensland; 2003. 46 p.
15. Short FT, Coles RG. Global Seagrass Research
Methods. Amsterdam : Elsevier Science B.V; 2001.
16. Tripathi RD, Singh R, Tripathi P, Dwivedi S,
Chauhan R, Adhikari B. Arsenic accumulation and
tolerance in rootless macrophyte Najas indica are
mediated through antioxidants, amino acids and
phytochelatins. Aquat Toxicol. 2014;157:70-80.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_hinh_thai_va_phan_bo_cua_loai_rong_cam_najas_indica.pdf