Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát
triển của vi sinh vật. Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ
nuôi cấy đến sinh trưởng phát triển của chủng vi khuẩn B.
altitudinis T1008 có khả năng chịu NaCl 1%, có hoạt tính
sinh học (phân giải lân, tổng hợp IAA) trên môi trường PVK
được thực hiện tại 25, 30, 35 và 40oC. Kết quả thí nghiệm
cho thấy, chủng vi khuẩn B. altitudinis T1008 sinh trưởng
phát triển bình thường ở dải nhiệt độ 25-40oC. Tại ngưỡng
nhiệt độ 25oC vòng phân giải lân Ca3(PO4)2 rõ nhất, ở 40oC,
vòng phân giải lân vẫn rõ, thậm chí khuẩn lạc dày đặc hơn
(hình 4). So sánh với kết quả của Kumar và cs (2011) [4], vi
khuẩn B. altitudinis sinh trưởng, phát triển ở ngưỡng nhiệt
độ 8-45oC.Kết luận
Chủng vi khuẩn T1008 được phân lập từ các mẫu đất bị
nhiễm mặn tại tỉnh Bến Tre trên môi trường Pikovskaya,
Luria-Bertani có bổ sung NaCl 1%, khuẩn lạc có dạng tròn
không đều, màu trắng đến vàng nhạt, tế bào có hình que
ngắn, di động, gram dương, tạo bào tử và có khả năng chịu
được nồng độ NaCl 5%, có hoạt tính phân giải lân vô cơ và
tổng hợp IAA trong điều kiện in vitro, có thể sinh trưởng
phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ 25-40oC. Kết quả định
danh cho thấy, chủng T1008 thuộc Bacillus altitudinis, đây
là chủng vi khuẩn lần đầu tiên được công bố có tiềm năng
tạo chế phẩm vi sinh ứng dụng trong trồng trọt trên vùng đất
bị nhiễm mặn.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm sinh học và định danh chủng vi khuẩn Bacillus altitudinis T1008 phân lập từ đất nhiễm mặn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
2862(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
Đặt vấn đề
Tính đến đầu tháng 3/2020 đã có 5 tỉnh (Kiên Giang,
Bến Tre, Tiền Giang, Cà Mau, Long An) thuộc vùng Đồng
bằng sông Cửu Long công bố tình huống khẩn cấp về hạn
hán và xâm nhập mặn. Mặc dù các địa phương đã rút kinh
nghiệm từ những đợt hạn hán và xâm nhập mặn trước đây
nhưng vẫn không tránh được thiệt hại. Tỉnh Bến Tre là địa
phương chịu ảnh hưởng sớm nhất của xâm nhập mặn. Đợt
hạn mặn 2015-2016 được xem là kỷ lục, 100 năm mới lặp
lại thì mùa khô năm 2020 đã phá vỡ mọi kỷ lục được xác
lập trước đó.
Nhiều loài vi khuẩn như các loài thuộc chi Bacillus khi
lây nhiễm lên cây trồng giúp cho cây trồng tăng khả năng
chống khô hạn, chịu được độ mặn trong đất hoặc trong nước
tưới, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thẩm thấu và
tạo điều kiện cho sự hấp thụ nước có nồng độ muối cao hơn
[1, 2]. Bên cạnh đó, các loài vi khuẩn này cũng đóng vai trò
trực tiếp hoặc gián tiếp giúp tăng sức đề kháng, khả năng
chống chịu bệnh, đồng thời tăng khả năng hấp thụ chất dinh
dưỡng trong đất. Loài vi khuẩn B. altitudinis đã được nghiên
cứu ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, phân bố rộng rãi
trong khí quyển, đất, nước và cây trồng dưới dạng nội sinh
[3]. Vi khuẩn B. altitudinis đã được nghiên cứu có nhiều
hoạt tính sinh học như có khả năng phân giải lân vô cơ, kali,
HCN, tổng hợp IAA, phân giải lông vũ và đối kháng với tác
nhân gây bệnh cây như vi khuẩn và nấm bệnh [4-9].
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập, xác định
được các chủng vi khuẩn B. altitudinis có khả năng chịu
NaCl và có hoạt tính sinh học trong việc tạo ra chế phẩm vi
sinh vật cho sản xuất cây ăn quả (bưởi Da xanh, sầu riêng)
tại tỉnh Bến Tre nói riêng, Đồng bằng sông Cửu Long nói
chung.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu
Mẫu đất trồng cây sầu riêng, cây bưởi Da xanh nhiễm
mặn thu thập ở tỉnh Bến Tre.
Thí nghiệm phân lập, định danh, đánh giá hoạt tính, đặc
điểm sinh học của chủng vi khuẩn B. altitudinis T1008 được
thực hiện tại Bộ môn Công nghệ vi sinh, Viện Di truyền
Nông nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Môi trường nuôi cấy:
Môi trường Pikovskaya (PVK) dùng để phân lập vi
khuẩn có khả năng phân giải lân khó tan, chứa nguồn lân
vô cơ là Ca
3
(PO
4
)
2
, gồm: glucose (10,0 g), Ca
3
(PO
4
)
2
(5,0
g), (NH
4
)
2
SO
4
(0,5 g), KCl (0,2 g), MgSO
4
.7H
2
O (0,1 g),
MnSO
4
(0,002 g), FeSO
4
(0,002 g), cao nấm men (0,5 g),
Đặc điểm sinh học và định danh
chủng vi khuẩn Bacillus altitudinis T1008
phân lập từ đất nhiễm mặn
Nguyễn Đức Thành1*, Nguyễn Thế Quyết1, Hà Viết Cường2, Đỗ Tấn Dũng2,
Đào Thị Thu Hằng1, Phạm Thị Lý Thu1, Phạm Xuân Hội1
1Viện Di truyền Nông nghiệp
2Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Ngày nhận bài 15/6/2020; ngày chuyển phản biện 18/6/2020; ngày nhận phản biện 20/7/2020; ngày chấp nhận đăng 29/7/2020
Tóm tắt:
Chủng vi khuẩn T1008 được phân lập từ các mẫu đất bị nhiễm mặn thu thập tại tỉnh Bến Tre trên môi trường
Pikovskaya, Luria-Bertani có bổ sung NaCl 1% đã được nghiên cứu và định danh tên loài. Kết quả cho thấy, khuẩn
lạc của chủng vi khuẩn có dạng tròn không đều, màu trắng đến vàng nhạt, tế bào có hình que ngắn, di động, gram
dương, tạo bào tử và chịu được nồng độ NaCl 5%, có hoạt tính phân giải lân vô cơ và tổng hợp indole acetic acid
(IAA) trong điều kiện in vitro, có thể sinh trưởng phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 25-40oC. Vùng gen 16S ARN
ribosome có mức tương đồng 100% với loài vi khuẩn Bacillus altitudinis. Đây là chủng vi khuẩn lần đầu tiên được
công bố có tiềm năng tạo chế phẩm vi sinh ứng dụng trong trồng trọt trên vùng đất bị nhiễm mặn.
Từ khóa: Bacillus altitudinis, đất nhiễm mặn, IAA, lân vô cơ, tạo bào tử.
Chỉ số phân loại: 1.6
* Tác giả liên hệ: Email: thanhfnguyen.at@gmail.com
2962(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
agar (20,0 g) và nước cất 1.000 ml.
Môi trường Luria-Bertani (LB) dùng để phân lập vi
khuẩn có khả năng tổng hợp chất kích thích sinh trưởng
thực vật, gồm: tryptone (10,0 g), cao nấm men (5,0 g), NaCl
(10,0 g), agar (20,0 g) và nước cất 1.000 ml.
Phương pháp thu thập mẫu: thu thập mẫu đất trồng cây
sầu riêng, bưởi Da xanh tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
đã bị nhiễm mặn. Mẫu đất được lấy ở độ sâu tầng đất 0-30
cm, 0,5 kg đất/mẫu, cho vào lọ nhựa sạch, ghi thông tin mẫu
thu thập.
Phương pháp phân lập: cân 10 g mẫu đất thu thập,
nghiền nhỏ rồi cho vào bình tam giác loại 250 ml có chứa
100 ml nước cất vô trùng, lắc trên máy (100 vòng/phút trong
20 phút). Tiếp tục pha loãng mẫu theo dãy thập phân liên
tiếp cho đến khi dung dịch mẫu có nồng độ pha loãng 10-6.
Ở mỗi một nồng độ pha loãng, dùng pipet hút lấy 0,1 ml
dung dịch sang đĩa petri chứa môi trường đặc hiệu PVK có
bổ sung thêm NaCl 1%. Dùng que cấy vô trùng chang đều,
sau đó đặt đĩa nuôi cấy ở điều kiện nhiệt độ 30°C trong 4-7
ngày. Chủng vi khuẩn có đặc điểm hình thái đặc trưng được
cấy chuyển sang các đĩa petri chứa môi trường mới để làm
thuần.
Phương pháp xác định một số đặc điểm hình thái: hình
thái khuẩn lạc và tế bào, nhuộm gram, khả năng di động của
mẫu phân lập được tiến hành phân tích theo phương pháp
mô tả của Nguyễn Xuân Thành và cs (2007) [10].
Phương pháp xác định khả năng phân giải lân vô cơ:
chủng vi khuẩn có hoạt tính phân giải lân hình thành vòng
phân giải (hay vòng tròn trong suốt) bao quanh khuẩn lạc
trên môi trường PVK. Đường kính vòng phân giải lân
Ca
3
(PO
4
)
2
được xác định theo công thức:
k = D - d (cm)
Trong đó: k là hệ số phân giải; D là đường kính vòng
phân giải (cm); d là đường kính lỗ đục (cm).
Phương pháp xác định khả năng sinh IAA: chủng vi
khuẩn sau khi làm thuần được nuôi cấy trên môi trường
LB lỏng có bổ sung 0,1% tryptophan ở 28oC, tốc độ lắc
200 vòng/phút trên máy lắc ổn nhiệt trong thời gian 2 ngày.
Sau 2 ngày nuôi cấy, ly tâm ống nghiệm nuôi dịch vi khuẩn
ở tốc độ 5.000 vòng/phút trong 10 phút. Loại bỏ cặn, thu
dịch trên tủa để kiểm tra khả năng sinh tổng hợp IAA bằng
thuốc thử Salkowski theo theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN
10784:2015 [11]. Nếu thấy dịch thử nghiệm chuyển sang
màu đỏ, hồng, hoặc hồng nhạt thì chứng tỏ có IAA thô đã
được sinh ra trong môi trường nuôi cấy.
Phương pháp xác định danh tính vi khuẩn bằng PCR và
giải trình tự:
Tách chiết ADN tổng số: ADN tổng số của vi khuẩn
được chiết bằng NaOH có cải tiến theo phương pháp của
Wang và cs (1993) [12]. Khuẩn lạc thuần (30 mg) trên môi
trường PVK được cho vào ống eppendorf loại 2,0 ml có
chứa 50 µl NaOH 0,5 M, nghiền mẫu bằng đầu típ xanh.
ADN tổng số được hòa trong 50 µl đệm Tris 0,1 M, pH 8,0
và được bảo quản ở điều kiện -20oC cho đến khi sử dụng.
Phản ứng PCR và giải trình tự: sử dụng cặp mồi 27F
(5’-AGAGTTTGATCMTGGCTCAG-3’)vvàv1525R
(5’-AAGGAGGTGATCCAGCC-3’) [13] để nhân vùng
gen 16S ARN ribosome của vi khuẩn. Cho vào mỗi tuýp
PCR loại 0,5 ml với tổng thể tích phản ứng là 25 µl, trong đó
có chứa 2,5 µl đệm PCR, 0,5 µl dNTPs, 1 µl mỗi loại mồi, 1
Identification and biological characteristics
of Bacillus altitudinis strain T1008
isolated from affected saline soils
Duc Thanh Nguyen1*, The Quyet Nguyen 1,
Viet Cuong Ha2, Tan Dung Do2, Thi Thu Hang Dao1,
Thi Ly Thu Pham1, Xuan Hoi Pham1
1Agricultural Genetics Institute
2Department of Agronomy, Vietnam National University
of Agriculture
Received 15 June 2020; accepted 29 July 2020
Abstract:
Bacillus altitudinis T1008 strain was isolated from
saline soil samples collected in Ben Tre province using
Pikovskaya and Luria-Bertani medium containing
sodium chloride 1% was determined and identified to
level species. The results showed that the colonies were
irregularly round, white to pale yellow; the cell was short
rod-shaped, and motile. This strain was a gram-positive,
spore-forming bacterium and resistant to sodium
chloride 5% level; hydrolysed the inorganic phosphate
compounds, synthesised indole acetic acid under in vitro
conditions, and grew and developed well at temperature
between 25-40oC. The result of the 16S ribosomal RNA
sequence analysis indicated that this strain showed a
similarity of 100% to Bacillus altitudinis species, Bacillus
genus. This is the first report of B. altitudinis T1008 strain
as a potential microbial inoculant for crop production in
affected saline soils.
Keywords: affected saline soil, B. altitudinis, IAA,
inorganic phosphate, spore-forming.
Classification number: 1.6
3062(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
µl ADN tổng số và 18,8 µl nước cất vô trùng, khử ion. Sản
phẩm PCR được điện di trên gel agarose 1% trong đệm TAE
1X với thời gian 20 phút. Sản phẩm PCR được tinh sạch
bằng PureLink Quick Gel Extraction Kit (Invitrogen) theo
hướng dẫn của nhà sản xuất. Giải trình tự trực tiếp 2 chiều
với bộ mồi dùng trong phản ứng PCR của Hãng Macrogen
(Hàn Quốc).
Phân tích phả hệ: dựa vào trình tự nucleotide thu được,
tìm kiếm các trình tự gần gũi bằng chương trình trực
tuyến BLAST search tại NCBI (bảng 1). Chủng vi khuẩn
Pseudomonas boreopolis được sử dụng làm đối chứng.
Phương pháp phân tích trình tự và phả hệ được thực hiện
với các phần mềm ClustalW2 [14] và MEGA 6.0 [15].
Bảng 1. Các loài vi khuẩn Bacillus spp. dùng trong phân tích phả
hệ vùng gen 16S ARN ribosome.
Tên loài Mẫu phân lập
Mã truy cập
Ngân hàng gen
Quốc gia
Bacillus altitudinis 41KF2bT NR_042337 Singapore
Bacillus altitudinis Cr2-1T CP031774 Belarus
Bacillus altitudinis IHB B1644 MT328683 Ấn Độ
Bacillus atrophaeus JCM 9070T NR_024689 Nhật Bản
Bacillus atrophaeus GLPB6 HF545325 Ấn Độ
Bacillus cereus ATCC 14579T NR_074540 Pháp
Bacillus halodurans DSM 497T NR_025446 Đức
Bacillus halodurans 38C-2-1 AB274919 Nhật Bản
Bacillus velezensis FZB42T NR_075005 Đức
Bacillus velezensis BB06 MN818627 Đức
Pseudomonas boreopolis ATCC 33662T NR_040801 -
Ghi chú: T: mẫu chuẩn của loài (type species).
Kết quả và thảo luận
Một số đặc điểm hình thái
Mẫu phân lập T1008 được đánh giá sơ bộ có hoạt tính
tốt, như khả năng chịu được NaCl 1%, có hoạt tính phân giải
lân vô cơ, mang các đặc điểm hình thái cơ bản của loài vi
khuẩn thuộc chi Bacillus. Do đó, mẫu phân lập này đã được
lựa chọn để định danh tên loài và xác định một số đặc điểm
sinh học trong nghiên cứu này. Đặc điểm hình thái của mẫu
phân lập T1008 được trình bày ở bảng 2.
Khuẩn lạc mẫu phân lập T1008 có mép hình răng cưa,
bề mặt lồi, bóng mịn trên môi trường PVK và LB. Tế bào
hình que ngắn, có khả năng di động, tạo bào tử, nhuộm gram
dương, hình thành đường kính vòng phân giải lân trên môi
trường PVK. Một số đặc điểm hình thái của mẫu T1008
cũng tương tự như các báo cáo đã công bố, có khả năng
thuộc chi Bacillus.
Đánh giá một số đặc tính hóa sinh trong thí nghiệm này
đã cho biết rằng, mẫu phân lập T1008 có khả năng sử dụng
nguồn mannitol, glucose, thủy phân tinh bột. Kết quả này
cũng giống với mô tả của Jin và cs (2012) [8], Lu và cs
(2017) [9].
Xác định khả năng sinh IAA bằng thuốc thử Salkowski
Mẫu phân lập T1008 sau khi làm thuần được nuôi cấy
trên môi trường LB lỏng, có bổ sung 0,1% tryptophan ở
28oC, tốc độ lắc 200 vòng/phút trên máy ổn nhiệt trong thời
gian 2 ngày. Sau nuôi lắc, loại bỏ cặn, thu dịch trên tủa
để kiểm tra khả năng sinh tổng hợp IAA bằng thuốc thử
Salkowski. Kết quả định tính cho thấy, dịch nuôi cấy mẫu
T1008 chuyển sang màu hồng sau khi nhuộm với thuốc thử
Salkowski. Điều này chứng tỏ có IAA thô đã được sinh ra
trong dịch nuôi cấy mẫu T1008 (hình 1).
Hình 1. Đánh giá hoạt tính tổng hợp chất kích thích sinh trưởng
thực vật bằng thuốc thử Salkowski. (A) đối chứng dương; (B) đối
chứng âm; (C) mẫu thử T1008.
Định danh vi khuẩn bằng PCR và giải trình tự
Nhằm xác định đến loài phân lập T1008, phản ứng PCR
Bảng 2. Đặc điểm hình thái của mẫu phân lập T1008.
Chỉ tiêu theo dõi Môi trường PVK Môi trường LB
Hình thái khuẩn lạc
Mép khuẩn lạc có
hình răng cưa, tròn, bề
mặt lồi, bóng mịn, tạo
vòng vô khuẩn trên
môi trường PVK
Mép khuẩn lạc có
hình răng cưa, tròn,
bề mặt lồi, bóng
mịn, không sinh tiết
sắc tố
Hình thái tế bào
Hình que ngắn, đứng
riêng rẽ hoặc có nối
đôi hay nối từng chuỗi
Hình que ngắn,
đứng riêng rẽ hoặc
có nối đôi hay nối
từng chuỗi
Nhuộm gram Gram (+) Gram (+)
Khả năng di động Có Có
Sinh tiết sắc tố trên môi
trường
Không Không
Đường kính vòng phân
giải lân Ca
3
(PO
4
)
2
2,8±0,13 cm 0,0
Ghi chú: đo kích thước sau 7 ngày nuôi cấy, nhiệt độ 30oC.
3162(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
được dùng với cặp mồi 27F và 1525R [13] đã khuếch đại
vạch băng với kích thước khoảng 1.500 bp tương ứng với
kích thước cặp mồi sử dụng trong phản ứng PCR (hình
không đưa ra). Tiếp theo, sản phẩm PCR từ các mẫu này
được tinh sạch bằng kít tách chiết theo hướng dẫn của nhà
sản xuất và được giải trình tự 2 chiều dùng cặp mồi giống
như trong phản ứng PCR. Sau khi cắt bỏ các đoạn nhiễu, thu
được trình tự nucleotide của mẫu T1008 là 1.446 bp được
đăng ký lên Ngân hàng gen với mã truy cập MN272333.
Tiến hành tìm kiếm các chuỗi nucleotide gần gũi với
trình tự của các mẫu phân tích T1008 bằng công cụ trực
tuyến (BLAST search) trên Ngân hàng gen (bảng 3).
Bảng 3. Các trình tự gần trên Ngân hàng gen của mẫu phân tích
T1008.
TT Tên loài gần nhất*
Mẫu
phân lập
Mã
truy cập
Phần trăm
đoạn so sánh
Mức đồng nhất
trình tự (%)
1 Bacillus altitudinis IHB
B1614
MT328638 100 100
2 Bacillus altitudinis SCU11 CP038517 100 100
3 Bacillus altitudinis Cr2-1 CP031774 100 100
Ghi chú: *: chỉ trình bày 3 trình tự nucleotide.
Kết quả phân tích cho thấy, trình tự nucleotide tìm được
đều là các chuỗi mã hóa gen 16S ARN ribosome của vi
khuẩn, trong đó mẫu T1008 (100% đoạn so sánh có mức
đồng nhất trình tự 100%) gần nhất với các mẫu phân lập
thuộc loài B. altitudinis đã được công bố trên Ngân hàng
gen. Trong đó, loài vi khuẩn B. altitudinis lần đầu được
phân lập trên khí quyển [3].
Quan hệ của mẫu T1008 được so sánh với đại diện các
mẫu vi khuẩn chuẩn của loài. Kết quả được trình bày ở hình 2.
Hình 2. Cây phả hệ dựa trên vùng gen 16S ARN ribosome của các
mẫu vi khuẩn Bacillus spp. Chủng vi khuẩn T1008 phân lập tại Việt
Nam (in chữ đậm) và các mẫu vi khuẩn sẵn có trên Ngân hàng gen;
T: mẫu chuẩn của loài. Thanh bar trình bày khoảng cách di truyền. Giá
trị ở các nốt là giá trị thống kê bootstrap dưới dạng % (1.000 lần lặp).
Dựa trên kết quả phân tích phả hệ cho thấy, mẫu phân lập
T1008 nằm cùng nhánh với các loài B. altitudinis, trong đó
có mẫu chuẩn của loài là 41KF2b (mã truy cập NR_042337).
Kết quả phân tích trình tự từ giải trình tự vùng gen 16S ARN
ribosome, phân tích phả hệ đã xác định được chính xác tên
loài từ mẫu phân lập T1008 là loài B. altitudinis.
Khả năng chịu NaCl
Để đánh giá khả năng chịu NaCl từ 1 đến 5% của chủng
vi khuẩn B. altitudinis T1008 trên môi trường PVK trong
đĩa petri, chúng tôi thí nghiệm mỗi lần 3 đĩa, với 3 lần nhắc
lại. Kết quả cho thấy, chủng vi khuẩn B. altitudinis T1008
chịu được nồng độ NaCl 1-5%, tuy nhiên khuẩn lạc vi khuẩn
phát triển tốt nhất ở nồng độ NaCl 1%, ngược lại phát triển
chậm và thưa hơn cả ở nồng độ NaCl 5% (hình 3). Khả năng
chịu NaCl của chủng vi khuẩn B. altitudinis T1008 trong
nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả của tác giả Jin và cs
(2012) [8], chủng vi khuẩn B. altitudinis ZJ 186 chịu được
NaCl 8-10%.
Hình 3. Khả năng chịu muối NaCl của chủng vi khuẩn B. altitudinis
T1008 trên môi trường PVK. (A) NaCl 1%; (B) NaCl 3%; (C) NaCl
5%.
Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát
triển của vi sinh vật. Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ
nuôi cấy đến sinh trưởng phát triển của chủng vi khuẩn B.
altitudinis T1008 có khả năng chịu NaCl 1%, có hoạt tính
sinh học (phân giải lân, tổng hợp IAA) trên môi trường PVK
được thực hiện tại 25, 30, 35 và 40oC. Kết quả thí nghiệm
cho thấy, chủng vi khuẩn B. altitudinis T1008 sinh trưởng
phát triển bình thường ở dải nhiệt độ 25-40oC. Tại ngưỡng
nhiệt độ 25oC vòng phân giải lân Ca
3
(PO
4
)
2
rõ nhất, ở 40oC,
vòng phân giải lân vẫn rõ, thậm chí khuẩn lạc dày đặc hơn
(hình 4). So sánh với kết quả của Kumar và cs (2011) [4], vi
khuẩn B. altitudinis sinh trưởng, phát triển ở ngưỡng nhiệt
độ 8-45oC.
Hình 4. Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy đến sinh trưởng phát
triển của chủng vi khuẩn B. altitudinis T1008 trên môi trường
PVK. (A) 25oC, (B) 30oC, (C) 35oC, (D) 40oC.
3262(11) 11.2020
Khoa học Tự nhiên
Kết luận
Chủng vi khuẩn T1008 được phân lập từ các mẫu đất bị
nhiễm mặn tại tỉnh Bến Tre trên môi trường Pikovskaya,
Luria-Bertani có bổ sung NaCl 1%, khuẩn lạc có dạng tròn
không đều, màu trắng đến vàng nhạt, tế bào có hình que
ngắn, di động, gram dương, tạo bào tử và có khả năng chịu
được nồng độ NaCl 5%, có hoạt tính phân giải lân vô cơ và
tổng hợp IAA trong điều kiện in vitro, có thể sinh trưởng
phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ 25-40oC. Kết quả định
danh cho thấy, chủng T1008 thuộc Bacillus altitudinis, đây
là chủng vi khuẩn lần đầu tiên được công bố có tiềm năng
tạo chế phẩm vi sinh ứng dụng trong trồng trọt trên vùng đất
bị nhiễm mặn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] M.S. Khan, et al. (2007), “Role of phosphate-solubilizing
microorganisms in sustainable agriculture: a review”, Agronomy for
Sustainable Development, 27(1), pp.29-43.
[2] D.K. Maheshwari (2013), Bacteria in agrobiology: disease
management, Springer Science and Business Media.
[3] S. Shivaji, et al. (2006), “Bacillus aerius sp. nov., Bacillus aerophilus
sp. nov., Bacillus stratosphericus sp. nov. and Bacillus altitudinis sp.
nov., isolated from cryogenic tubes used for collecting air samples from
high altitudes”, International Journal of Systematic and Evolutionary
Microbiology, 56, pp.1-9.
[4] E.V. Kumar, et al. (2011), “A novel serine alkaline protease
from Bacillus altitudinis GVC11 and its application as a dehairing
agent”, Bioprocess and Biosystems Engineering, 34(4), pp.403-409.
[5] Nguyễn Thị Dơn, Nguyễn Thị Kiều Diễm, Cao Ngọc Điệp (2012),
“Phân lập và nhận diện vi khuẩn hòa tan lân và kali từ mẫu vật liệu phong hóa
đá hoa cương núi Sập, tỉnh An Giang”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học An
Giang, 24a, tr.179-186.
[6] D.N. Adhyaru, et al. (2014), “Enhanced production of
cellulase-free, thermo-alkali-solvent-stable xylanase from Bacillus
altitudinis DHN8, its characterization and application in sorghum straw
saccharification”, Biocatalysis and Agricultural Biotechnology, 3(2), pp.182-
190.
[7] P. Mehta, et al. (2015), “Functional diversity of phosphate solubilizing
plant growth promoting rhizobacteria isolated from apple trees in the trans
Himalayan region of Himachal Pradesh, India”, Biological Agriculture and
Horticulture, 31(4), pp.265-288.
[8] X.B. Jin, et al. (2012), “Isolation and identification of Bacillus
altitudinis ZJ 186 from marine soil samples and its antifungal activity against
Magnaporthe oryzae”, Current Research in Bacteriology, 5(1), pp.13-23.
[9] X. Lu, et al. (2017), “Isolation and characterization of Bacillus
altitudinis JSCX-1 as a new potential biocontrol agent against Phytophthora
sojae in soybean [Glycine max (L.) Merr.]”, Plant and Soil, 416(1-2), pp.53-
66.
[10] Nguyễn Xuân Thành, Vũ Thị Hoàn, Nguyễn Thế Bình, Đinh Hồng
Duyên (2007), Thực tập vi sinh vật chuyên ngành, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
[11] Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Tiêu chuẩn quốc gia TCVN
10784:2015: Vi sinh vật - Khả năng sinh tổng hợp axit 3-indol-axetic (IAA).
[12] H. Wang, et al. (1993), “A simple method of preparing plant samples
for PCR”, Nucleic Acids Research, 21(17), pp.41-53.
[13] W.G. Weisburg, et al. (1991), “16S ribosomal DNA amplification for
phylogenetic study”, Journal of Bacteriology, 173(2), pp.697-703.
[14] H.W. McWilliam, et al. (2013), “Analysis tool web services from the
EMBL-EBI”, Nucleic Acids Research, 41, pp.597-600.
[15] K. Tamura, et al. (2013), “MEGA 6: molecular evolutionary genetics
analysis version 6.0”, Molecular Biology and Evolution, 30(12), pp.2725-
2729.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_sinh_hoc_va_dinh_danh_chung_vi_khuan_bacillus_altit.pdf