KẾT LUẬN
Ở điều kiện ổn định (nhiệt độ: 25oC, 30oC; ẩm
độ: 80%; chế độ chiếu sáng 16giờ/ngày đêm) với
thức ăn là lá cây đu đủ giống Đài Loan, rệp sáp
giả đu đủ có hai kiểu biến thái: biến thái không
hoàn toàn (đối với giới tính cái) và biến thái
không hoàn toàn thừa hay hypermorphosis (đối
với giới tính đực). Trƣởng thành đực phát triển
qua các giai đoạn trứng, rệp sáp non (2 tuổi), tiền
nhộng, nhộng với thời gian tƣơng ứng là 6,13-
7,42; 8,36-11,53; 1,20-2,51; 1,83-3,16 ngày.
Trƣởng thành cái phát triển qua các giai đoạn
trứng, rệp sáp non (3 tuổi) với thời gian tƣơng
ứng là 6,1-7,33; 13,93-16,22 ngày. Thời gian
phát triển từ trứng đến trƣởng thành đực, từ
trứng đến trƣởng thành cái (tƣơng ứng) kéo dài
17,8-24,63 và 20,03-23,56 ngày. Thời gian trƣớc
đẻ trứng của trƣởng thành cái là 5,69-7,06 ngày.
Thời gian vòng đời của rệp sáp giả đu đủ là
25,56-30,31 ngày. Trƣởng thành cái có thể sống
trung bình đƣợc 14,42-21,15 ngày. Trƣởng thành
đực có tuổi thọ rất ngắn, trung bình chỉ sống
đƣợc 1,77-1,88 ngày. Thời gian đời của trƣởng
thành đực là 19,57-26,18 ngày. Chỉ tiêu này ở
trƣởng thành cái là 34,38-44,42 ngày. Trong
nghiên cứu này, rệp sáp giả đu đủ sinh sản đơn
tính, mặc dù trƣởng thành đực xuất hiện nhiều
hơn trƣởng thành cái và chiếm tỷ lệ 61,0-61,1%
trong quần thể. Sức đẻ trứng của trƣởng thành
cái biến động từ 233,53-462,2 trứng/cái.
Với 80% ẩm độ, sự gia tăng nhiệt độ thí
nghiệm từ 25oC đến 30oC đã làm rút ngắn thời
gian phát triển của tất cả các pha/giai đoạn, thời
gian vòng đời, tuổi thọ trƣởng thành, thời gian
đời của rệp sáp giả đu đủ, làm giảm sức đẻ trứng
và thời gian đẻ trứng của trƣởng thành cái.
Nghĩa là nhiệt độ tối thuận cho sự phát triển và
sinh sản của rệp sáp giả đu đủ nằm ở mức thấp
hơn 30oC.
Tại ngoại thành Hà Nội, trong các năm 2015-
2017 đã ghi nhận đƣợc 13 loài cây thuộc 11 họ
thực vật trong hệ sinh thái nông nghiệp là cây
thức ăn của rệp sáp giả đu đủ. Phần lớn các cây
đã ghi nhận rệp sáp giả đu đủ có độ bắt gặp thấp
và trung bình. Có 4 loài cây, gồm đu đủ, sắn, cọc
rào, mành mành đã ghi nhận rệp sáp giả đu đủ
có độ bắt gặp cao.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của rệp sáp giả đu đủ paracoccus marginatus williams and granara de willink (homoptera: pseudococcidae) ở trong phòng thí nghiệm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
3
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CỦA RỆP SÁP GIẢ ĐU ĐỦ
Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink
(Homoptera: Pseudococcidae) Ở TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Bio-ecological Characteristics of The Papaya Mealybug, Paracoccus
marginatus Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae)
under Laboratory Conditions
Đoàn Thị Lƣơng
1
, Lê Thị Tuyết Nhung
2
, Nguyễn Hồng Sơn
3
và Phạm Văn Lầm
4
Ngày gửi bài: 03.7.2018 Ngày chấp nhận: 16.8.2018
Abstract
Bio-ecological characteristics of the papaya mealybug, Paracoccus marginatus Williams and Granara de
Willink (Hom.: Pseudococcidae) was studied under laboratory conditions at constant temperatures of 25°C, and
30°C, 80% RH and a photoperiod of 16:8 h L:D using leaves of papaya (Carica papaya L.) as food. Papaya
mealybug had 2 types of metamorphisms: complete and incomplete metamorphism. In complete metamorphic
type, papaya mealybug passed through stages of egg, nymph (3 instars) and female adult. Meanwhile, in
incomplete metamorphic (hypermorphosis) type, they passed through the stages of egg, nymph (2 instars), pre-
pupa, pupa and male adult. To develop from the egg to the male adult, they needed 24.63 days at 25
o
C and 17.8
days at 30
o
C. Similarly, to develop from the egg to female adult, they needed 23.56 days at 25
o
C and 20.03 days
at 30
o
C. Their life cycle was completed in 30.31 days at 25
o
C and in 25.56 days at 30
o
C. In this study, papaya
mealybug was parthenogenesis, though adult males presented on their population. Fecundity of a female varied
from 233.53
eggs/female at 30
o
C to 462.2 eggs/female at 25
o
C. Female adults could live in on average of 14.42-
21.15 days at 30
o
C and 25
o
C, respectively. Male adults had a short longevity, on average only of 1.77-1.88 days.
Papaya mealybug was found on 13 species of host plants belonging to 11 families around the suburb of Ha Noi
between 2015 and 2017. Heavy infestations of this mealybug were observed on Carica papaya, Manihot
esculenta, Jatropha curcas and Cissus verticillata.
Key words: Bio-ecological characteristics, papaya, papaya mealy bug, Paracoccus marginatus
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Rệp sáp giả đu đủ Paracoccus marginatus
Williams and Granara de Willink (Homoptera:
Pseudococcidae) có nguồn gốc phát sinh ở
Mexico và Trung Mỹ (Krishnan et al., 2016; Miller
et al., 1999; Williams and Willink, 1992;...). Rệp
sáp giả đu đủ Paracoccus marginatus bắt đầu
xâm lấn ra khỏi khu phân bố tự nhiên từ sau năm
1992 và nhanh chóng trở thành loài ngoại lai xâm
lấn ở khoảng 50 quốc gia trên thế giới. Rệp sáp
giả đu đủ đƣợc ghi nhận xuất hiện ở Nam Á và
Đông Nam Á vào khoảng năm 2008-2009
(Krishnan et al., 2016; Mani et al., 2012; Nisha
and Kennedy, 2014; Tanwar et al., 2010;).
Tại Việt Nam, đến năm 2013, trong các danh
lục điều tra cơ bản về sâu hại cây trồng cũng
nhƣ các báo cáo công bố kết quả nghiên cứu
hàng năm về thành phần sâu hại trên các cây
1.
NCS Viện KHNN Việt Nam
2. Viện Bảo vệ thực vật
3. Viện KHNN Việt Nam
4. Hội Côn trùng học Việt Nam
trồng đều chƣa ghi nhận loài rệp sáp giả đu đủ
(Phạm Văn Lầm, 2013). Đến năm 2014, khi
nghiên cứu sâu hại trên cây sắn đã ghi nhận đƣợc
loài rệp sáp đu đủ (Lê Thị Tuyết Nhung và nnk.,
2014). Nhƣ vậy, đến năm 2014, loài rệp sáp giả
đu đủ P. marginatus mới chính thức đƣợc ghi
nhận có sự hiện diện trong khu hệ rệp sáp giả ở
Việt Nam, nhƣng ở trên cây sắn (Manihot
esculenta), không phải ở trên cây đu đủ. Trên thế
giới, đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm sinh vật
học, sinh thái học của rệp sáp giả đu đủ. Tại Việt
Nam, hầu nhƣ chƣa có nghiên cứu về rệp sáp giả
đu đủ. Bài viết này cung cấp kết quả nghiên cứu
trong phòng thí nghiệm về đặc điểm sinh vật học,
sinh thái học của rệp sáp giả đu đủ.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguồn rệp sáp giả đu đủ dùng trong nghiên
cứu này đƣợc thu trong vƣờn cây đu đủ ở ngoại
ô thành phố Hà Nội. Thức ăn dùng nuôi rệp sáp
giả đu đủ trong thí nghiệm là lá non của cây đu đủ
giống Đài Loan đƣợc trồng cách ly trong nhà lƣới
và không đƣợc phun bất kỳ loại thuốc bảo vệ
thực vật nào.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
4
Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật
học, sinh thái học của rệp sáp giả đu đủ chủ yếu
dựa theo phƣơng pháp của Amarasekare et al.
(2008a) có sự cải tiến cho phù hợp điều kiện thí
nghiệm. Rệp sáp giả đu đủ đƣợc nuôi trong tủ
sinh thái côn trùng (nhãn hiệu RGX-400E) ở hai
nhiệt độ 25ºC, 30ºC với cùng 80% ẩm độ và chế
độ chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm. Các ổ trứng của
rệp sáp giả đu đủ mới đẻ (trong vòng 24 giờ)
đƣợc chuyển lên đĩa lá đu đủ đặt trong điều kiện
thí nghiệm đã nêu trên để theo dõi sự phát triển
của pha trứng. Khi rệp sáp non tuổi 1 nở từ trứng
thì dùng bút lông chuyển lên các đĩa lá đu đủ
trong hộp petri (đƣờng kính 6 cm) có bông thấm
nƣớc giữ ẩm để nuôi theo phƣơng pháp cá thể.
Thức ăn (lá non của cây đu đủ) hai ngày thay
một lần. Số lƣợng rệp sáp non tuổi 1 đƣợc nuôi
đủ lớn sao cho đến cuối từng tuổi/từng giai đoạn
phát triển cá thể phải có ít nhất 30 cá thể trong
mỗi nhiệt độ thí nghiệm. Hàng ngày vào thời gian
nhất định quan sát, theo dõi tập tính hoạt động
sống ở các pha phát triển của rệp sáp giả đu đủ,
ghi nhận thời điểm trứng nở, lột xác chuyển tuổi
của rệp sáp non, thời điểm xuất hiện pha trƣởng
thành. Khi có trƣởng thành xuất hiện thì tiến
hành theo dõi các chỉ tiêu liên quan đến sinh sản,
tuổi thọ của chúng. Ít nhất phải theo dõi đƣợc 15
cá thể trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ trong
mỗi nhiệt độ thí nghiệm.
Tiến hành thu thập rệp sáp giả đu đủ trên các
cây trồng khác xung quanh các khu ruộng/vƣờn
trồng cây đu đủ ở ngoại ô TP. Hà Nội để xác định
phổ cây thức ăn của rệp sáp giả đu đủ.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tập tính sống
Rệp sáp giả đu đủ P. marginatus sống trên tất
cả các bộ phận trên mặt đất của cây cây đu đủ
(lá, chồi, hoa, quả, phần non của thân). Trên lá
đu đủ đã mở, rệp sáp giả đu đủ chủ yếu sống ở
mặt dƣới, phía gần cuống lá, cạnh gân chính của
lá. Trƣởng thành cái của rệp sáp giả đu đủ không
có cánh, di chuyển chỉ bằng cách bò trong
khoảng cách ngắn hoặc bị mang theo gió.
Trƣởng thành cái đẻ trứng lên chồi non, giữa các
gân của lá non và quả. Trứng đƣợc đẻ trong túi
trứng, túi trứng đƣợc bao phủ hoàn toàn bởi lớp
sáp màu trắng và ở phía dƣới cơ thể trƣởng
thành cái. Rệp sáp non tuổi 1 hoạt động rất tích
cực tìm vị trí thích hợp trên cây thức ăn để định
vị dinh dƣỡng. Rệp sáp non tuổi 1 dễ dàng phát
tán nhờ gió, quần áo và dụng cụ của ngƣời lao
động. Rệp sáp non tuổi 1 đóng vai trò rất quan
trọng trong lây lan của rệp sáp giả đu đủ ở trên
đồng ruộng. Rệp sáp non các tuổi khác bất động.
Trên cơ thể rệp sáp non và trƣởng thành luôn
đƣợc bao phủ bởi một lớp sáp bột màu trắng
nhƣ bông. Những quan sát này về tập tính sống
của rệp sáp giả đu đủ khá tƣơng đồng với kết
quả nghiên cứu của nhiều tác giả (Seni and
Chongtham, 2013; Tanwar et al., 2010;).
3.2 Đặc điểm biến thái
Nuôi bằng lá non của cây đu đủ ở 25ºC, 30ºC
cùng 80% ẩm độ, chế độ chiếu sáng 16 giờ/ngày
đêm, rệp sáp giả đu đủ P. marginatus có hai kiểu
biến thái phụ thuộc vào giới tính: trƣởng thành
cái có kiểu biến thái không hoàn toàn gồm pha
trứng, rệp sáp non và trƣởng thành; trƣởng
thành đực có kiểu biến thái không hoàn toàn
thừa hay biến thái quá đ (hypermorphosis) gồm
pha trứng, rệp sáp non, tiền nhộng, nhộng và
trƣởng thành. Rệp sáp non phát triển thành
trƣởng thành cái (rệp sáp non giới tính cái) có 3
tuổi và rệp sáp non phát triển thành trƣởng thành
đực (rệp sáp non giới tính đực) có 2 tuổi (bảng 1).
Kiểu biến thái, số tuổi rệp sáp non của rệp sáp
giả đu đủ trong nghiên cứu này tƣơng tự nhƣ kết
quả nghiên cứu về rệp sáp giả đu đủ của của Al-
Helal et al. (2012), Amarasekare et al. (2008a),
ManiChellappan và Ranjith (2013). Tuy nhiên,
giai đoạn tiền nhộng và pha nhộng trong phát
triển của giới tính đực còn đƣợc các tác giả này
gọi (tƣơng ứng) là rệp sáp non tuổi 3 và rệp sáp
non tuổi 4. Trong khi đó, nghiên cứu tại Ấn-Độ lại
chỉ ra rằng rệp sáp non phát triển thành trƣởng
thành đực có 3 tuổi, không kể giai đoạn tiền
nhộng và nhộng (Kumar et al., 2014). Đặc điểm
biến thái của rệp sáp giả đu đủ đã quan sát đƣợc
trong nghiên cứu này giống với nhiều loài rệp
sáp giả khác nhƣ Dysmicoccus brevipes, Ferrisa
virgata, Phenacoccus herreni, P. gossypii,
Planococcus citri, Planococcus kraunhiae, Đây
là kiểu biến thái đặc trƣng của côn trùng họ rệp
sáp giả Pseudococcidae (Борxceниуc, 1963;
Kosztarab and Kozar, 1988).
3.3 Thời gian phát triển cá thể
Thời gian phát triển của rệp sáp non
Ở nhiệt độ 25
o
C với 80% ẩm độ, thời gian
phát triển rệp sáp non giới tính đực tuổi 1, tuổi 2
tƣơng ứng là 7,19 và 4,35 ngày. Các chỉ tiêu này
rút ngắn hơn, tƣơng ứng đạt 4,8 và 3,83 ngày ở
30
o
C với 80% ẩm độ. Sự sai khác về thời gian
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
5
phát triển ở hai nhiệt độ thí nghiệm của rệp sáp
non giới tính đực tuổi 1 có ý nghĩa thống kê với
độ tin cậy P<0,05, nhƣng ở tuổi 2 không có ý
nghĩa thống kê. Ở cùng nhiệt độ và ẩm độ thí
nghiệm, thời gian phát triển của rệp sáp non giới
tính đực ở tuổi 1 dài hơn so với ở tuổi 2 (bảng 1).
Điều này cũng ghi nhận đƣợc trong nghiên cứu
của ManiChellappan và Ranjith (2013) khi nuôi
rệp sáp giả đu đủ trên các cây đu đủ (Carica
papaya), dâu tằm (Morus alba), cọc rào
(Jatropha curcas).
Thời gian phát triển rệp sáp non giới tính cái
tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 tƣơng ứng kéo dài 6,58; 4,64
và 5,0 ngày ở nhiệt độ 25
o
C với 80% ẩm độ. Các
chỉ tiêu này đƣợc rút ngắn hơn ở 30
o
C với 80%
ẩm độ, tƣơng ứng là 5,4; 4,17 và 4,47 ngày. Thời
gian phát triển của rệp sáp non giới tính cái các
tuổi ở hai nhiệt độ thí nghiệm đều sai khác ở mức
có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy P<0,05. Ở cùng
nhiệt độ và ẩm độ thí nghiệm, rệp sáp non giới
tính cái tuổi 1 có thời gian phát triển dài nhất, rệp
sáp non giới tính cái tuổi 2 có thời gian phát triển
ngắn nhất (bảng 1). Rệp sáp non giới tính cái tuổi
1 (ở cùng nhiệt độ và ẩm độ) có thời gian phát
triển dài nhất trong các tuổi cũng quan sát đƣợc
trong thí nghiệm của Amarasekare et al. (2008a).
Bảng 1. Thời gian phát triển rệp sáp non các tuổi của rệp sáp giả đu đủ
ở thí nghiệm trong phòng
Các tuổi
rệp sáp
non
Thời gian phát triển (ngày) của rệp sáp non
Rệp sáp non phát triển thành ♂ Rệp sáp non phát triển thành ♀
25
o
C, 80% ẩm độ 30
o
C, 80% ẩm độ 25
o
C, 80% ẩm độ 30
o
C, 80% ẩm độ
Tuổi 1
7,19±0,18
a
(5-10)
4,80±0,20
b
(3-8)
6,58±0,17
a
(4-9)
5,40±0,21
b
(4-8)
Tuổi 2
4,35±0,18
a
(2-7)
3,83±0,20
a
(2-7)
4,64±0,17
a
(3-8)
4,17±0,16
b
(3-6)
Tuổi 3 - -
5,0±0,18
a
(4-8)
4,47±0,13
b
(3-6)
Ghi chú: n=30; số trong ngoặc đơn là phạm vi biến đ ng của các giá trị; đối với từng nhóm rệp sáp
non theo giới tính, trong c ng hàng, các giá trị kèm chữ cái khác nhau chỉ sự khác nhau có ý nghĩa
thống kê ở đ tin cậy P<0,05
Rệp sáp non giới tính đực tuổi 1 ở 25
o
C với
80% ẩm độ trong nghiên cứu này có thời gian
phát triển dài hơn hẳn so với kết quả nghiên cứu
của Amarasekare et al. (2008a, 2008b),
ManiChellappan và Ranjith (2013). Theo các tác
giả này, rệp sáp non giới tính đực tuổi 1 có thời
gian phát triển là 3,56-6,6 ngày. Rệp sáp non giới
tính đực tuổi 2 trong nghiên cứu này có thời gian
phát triển gần tƣơng tự nhƣ trong kết quả nghiên
cứu của ManiChellappan và Ranjith (2013),
nhƣng ngắn hơn rõ ràng so với trong kết quả
nghiên cứu của Amarasekare et al. (2008a,
2008b). Theo ManiChellappan và Ranjith (2013),
rệp sáp non giới tính đực tuổi 2 có thời gian phát
triển là 3,6-4,7 ngày khi nuôi trên các cây đu đủ,
dâu tằm và cọc rào. Còn theo Amarasekare et al.
(2008a, 2008b), chỉ tiêu này là 5,6-9,6 ngày. Rệp
sáp non giới tính cái tuổi 1 và tuổi 3 trong nghiên
cứu này có thời gian phát triển gần tƣơng tự, còn
ở tuổi 2 thì hơi ngắn hơn so với kết quả của
Amarasekare et al. (2008a). Theo các tác giả
này, thời gian phát triển của rệp sáp non giới tính
cái tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 tƣơng ứng là 6,1-6,5; 5,5-
5,7 và 4,4-5,2 ngày.
Thời gian vòng đời của rệp sáp giả đu đủ
Đối với giới tính đực, ở cùng 80% ẩm độ, thời
gian phát triển của pha trứng, rệp sáp non, tiền
nhộng, nhộng tƣơng ứng đạt 7,42; 11,53; 2,51;
3,16 ngày ở 25
o
C và các chỉ tiêu này rút ngắn
hơn rõ ràng ở 30
o
C, tƣơng ứng chỉ là 6,13; 8,63;
1,2; 1,83 ngày. Đối với giới tính cái, ở cùng 80%
ẩm độ, thời gian phát triển của pha trứng, rệp
sáp non, thời gian trƣớc đẻ trứng tƣơng ứng là
7,33; 16,22; 7,06 ngày ở 25
o
C và đƣợc rút ngắn
hơn ở 30
o
C, tƣơng ứng là 6,1; 13,93; 5,69 ngày.
Thời gian phát triển từ trứng đến trƣởng thành
đực kéo dài 24,63 ngày ở 25
o
C rút ngắn còn
17,80 ngày ở 30
o
C. Chỉ tiêu này đối với trƣởng
thành cái kéo là 23,56 ngày ở 25
o
C và 20,03
ngày ở 30
o
C (bảng 2). Nhƣ vậy, ở 25
o
C với 80%
ẩm độ, thời gian phát triển trƣởng của thành đực
kéo dài hơn so với của trƣởng thành cái. Ngƣợc
lại, ở 30
o
C với 80% ẩm độ, trƣởng thành đực có
thời gian phát triển ngắn hơn so với trƣởng
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
6
thành cái. Ở cùng 80% ẩm độ, rệp sáp giả đu đủ
có thời gian vòng đời kéo dài 30,31 ngày ở 25
o
C,
nhƣng rút ngắn còn 25,56 ngày ở 30
o
C. Sự khác
nhau về thời gian phát triển các pha/giai đoạn
của quá trình phát triển trƣởng thành đực,
trƣởng thành cái và thời gian vòng đời của rệp
sáp giả đu đủ ở hai nhiệt độ thí nghiệm đều có ý
nghĩa thống kê với độ tin cậy P<0,05 (bảng 2).
Bảng 2. Thời gian phát triển các pha và thời gian vòng đời của rệp sáp giả đu đủ
P. marginatus ở thí nghiệm trong phòng
Các pha/giai đoạn
phát triển
Thời gian phát triển các pha, thời gian vòng đời (ngày)
Đối với giới tính đực Đối với giới tính cái
25
o
C, 80% ẩm độ 30oC, 80% ẩm độ 25oC, 80% ẩm độ 30oC, 80% ẩm độ
Trứng 7,42±0,08 a
(7-8)
6,13±0,06 b
(6-7)
7,33±0,08 a
(7-8)
6,10±0,06 b
(6-7)
Rệp sáp non 11,53±0,22 a
(10-15)
8,63±0,33 b
(6-15)
16,22±0,32 a
(13-22)
13,93±0,30 b
(11-17)
Tiền nhộng 2,51±0,16 a
(1-6)
1,20±0,09 b
(1-3)
- -
Nhộng 3,16±0,20 a
(2-7)
1,83±0,08 b
(1-3)
- -
Thời gian trƣớc đẻ
trứng
- - 7,06±0,33 a
(5-10)
5,69±0,20 b
(4-7)
Thời gian từ trứng
đến trƣởng thành
24,63±0,28 a
(22-29)
17,80±0,35 b
(14-24)
23,56±0,33 a
(20-29)
20,03±0,31 c
(17-23)
Thời gian vòng đời - - 30,31±0,52 a
(25-36)
25,56±0,48 b
(22-29)
Ghi chú: n=30; số trong ngoặc đơn là phạm vi biến đ ng của các giá trị; đối với từng nhóm rệp sáp
non theo giới tính, trong c ng hàng, các giá trị kèm chữ cái khác nhau chỉ sự khác nhau có ý nghĩa
thống kê ở đ tin cậy P<0,05
Trong nghiên cứu này, thời gian phát triển
của pha trứng, rệp sáp non, tiền nhộng, thời gian
từ trứng đến trƣởng thành gần tƣơng tự, còn
thời gian nhộng thì ngắn hơn và thời gian trƣớc
đẻ trứng thì dài hơn so với kết quả nghiên cứu
của ManiChellappan và Ranjith (2013). Theo các
tác giả này, thời gian phát triển pha trứng, rệp
sáp non giới tính đực, rệp sáp non giới tính cái,
tiền nhộng, nhộng, thời gian từ trứng đến trƣởng
thành đực và trƣởng thành cái, thời gian trƣớc
đẻ trứng của rệp sáp giả đu đủ tƣơng ứng là
5,11-8,5; 7,8-10,6; 12,7-16,4; 2,3-2,6; 4,2-4,78;
19,0-22,4; 20,67-23,9 và 3,3-5,67 ngày. Ngƣợc
lại, trong nghiên cứu này, thời gian phát triển các
pha/giai đoạn phát triển (trừ thời gian trƣớc đẻ
trứng) của rệp sáp giả đu đủ đều ngắn hơn so
với kết quả của Amarasekare et al. (2008a,
2008b). Theo các tác giả này, thời gian phát triển
pha trứng, rệp sáp non giới tính đực, rệp sáp non
giới tính cái, tiền nhộng, nhộng, thời gian từ
trứng đến trƣởng thành đực và trƣởng thành cái,
thời gian trƣớc đẻ trứng của rệp sáp giả đu đủ
tƣơng ứng là 7,3-8,7; 11,4-16,2; 15,7-17,2; 2,3-
4,4; 2,6-4,5; 24,9-30,0; 23,2-25,9; 6,3 ngày.
Trong nghiên cứu này ở 25
o
C với 80% ẩm độ ghi
nhận thời gian phát triển của trƣởng thành đực
kéo dài hơn so với của trƣởng thành cái. Trƣởng
thành đực phát triển chậm hơn trƣởng thành cái
cũng ghi nhận đƣợc ở 25
o
C với 65% ẩm độ trong
nghiên cứu của Amarasekare et al. (2008a,
2008b), Mani et al. (2012), ManiChellappan và
Ranjith (2013), Tanwar et al. (2010). Theo các
tác giả này, thời gian phát triển trƣởng của thành
đực, trƣởng thành cái tƣơng ứng lả 20,67-30,0
ngày hay 27-30 ngày và 19,0-25,9 ngày hay 24-
26 ngày. Trong nghiên cứu này ở 25
o
C với 80%
ẩm độ, thời gian vòng đời của rệp sáp giả đu đủ
kéo dài hơn hẳn so với trong kết quả nuôi trên
các cây đu đủ, dâu tằm, cọc rào, khoai tây; còn ở
30
o
C với 80% ẩm độ thì chỉ tiêu này hơi ngắn
hơn so với kết quả nuôi trên các cây đu đủ, dâu
tằm nhƣng hơi dài hơn so với kết quả nuôi trên
cây cọc rào, khoai tây trong nghiên cứu của
ManiChellappan và Ranjith (2013). Theo các tác
giả này, thời gian vòng đời của rệp sáp giả đu đủ
đƣợc nuôi trên các cây đu đủ, dâu tằm, cọc rào,
khoai tây (Solanum tuberosum) tƣơng ứng là
26,5; 26,2; 23,2 24,67 ngày.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
7
3.3 Sinh sản và thời gian sống của rệp sáp
giả đu đủ
Trong nghiên cứu này (nuôi bằng lá đu đủ ở
25
o
C và 30
o
C với 80% ẩm độ) đã ghi nhận có sự
xuất hiện của trƣởng thành đực rệp sáp giả đu
đủ. Trƣởng thành đực xuất hiện nhiều hơn
trƣởng thành cái và chiếm tỷ lệ 61,0-61,1% trong
quần thể. Tỷ lệ trƣởng thành đực trong nghiên
cứu này gần tƣơng tự hoặc tƣơng tự nhƣ nuôi
trên cây dâu tằm và cây cọc rào (với tỷ lệ đực:cái
đạt 1,63-2,03:1) ở nghiên cứu của
ManiChellappan và Ranjith (2013). Ngƣợc lại, tỷ
lệ trƣởng thành đực trong nghiên cứu này lại cao
hơn đáng kể so với nghiên cứu của
Amarasekare et al. (2008a). Theo các tác giả
này, khi nuôi bằng lá cây dâm bụt Hibiscus rosa-
sinensis, tỷ lệ trƣởng thành đực chiếm khoảng
28,9-57,4% trong quần thể.
Trong nghiên cứu này tất cả trƣởng thành cái
rệp sáp giả đu đủ không giao phối vẫn đẻ trứng
và trứng đều nở rệp sáp non, tức là có khả năng
sinh sản đơn tính (parthenogenetic). Điều này
phù hợp với ý kiến cho rằng rệp sáp giả đu đủ có
thể sinh sản cả hữu tính và đơn tính (CABI,
2001). Nhƣng, theo Amarasekare et al. (2008b),
trƣởng thành cái không đƣợc giao phối thì không
đẻ trứng.
Với 80% ẩm độ, ở 25
o
C trƣởng thành cái rệp
sáp giả đu đủ có thời gian đẻ trứng dài hơn so
với ở 30
o
C, tƣơng ứng là 12,07 và 8,0 ngày. Sức
đẻ trứng của của trƣởng thành cái rệp sáp giả đu
đủ biến động khá lớn, từ 52 đến 932 trứng/cái ở
25
o
C và từ 124 đến 475 trứng/cái ở 30
o
C. Sức
đẻ trứng trung bình của trƣởng thành cái ở 25
o
C
(là 462,2 trứng/cái) cao gần gấp 2 lần so với ở
30
o
C (là 233,53 trứng/cái). Ở hai điều kiện thí
nghiệm, thời gian đẻ trứng sai khác không có ý
nghĩa thống kê, còn sự khác nhau về sức đẻ
trứng thì có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy
P<0,05 (bảng 3).
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về sinh sản và thời gian sống của trƣởng thành rệp sáp giả đu đủ
P. marginatus ở thí nghiệm trong phòng
Các chỉ tiêu theo
dõi
Đối với trƣởng thành đực Đối với trƣởng thành cái
25
o
C, 80% ẩm độ 30oC, 80% ẩm độ 25oC, 80% ẩm độ 30oC, 80% ẩm độ
Thời gian đẻ trứng
(ngày)
- - 12,07±1,01 a
(4-23)
8,0±0,70 a
(4-14)
Sức đẻ trứng
(trứng/cái)
- - 462,2
a±72,49 (52-
932)
233,53
b±21,38
(124-475)
Tuổi thọ của trƣởng
thành (ngày)
1,88±0,18 a
(1-5)
1,77±0,12 a
(1-3)
21,15±1,28 a
(8-37)
14,42±0,86 b
(7-25)
Thời gian đời (ngày) 26,18±0,28 a (24-32) 19,57±0,37 b
(15-26)
44,42±1,22 a
(33-60)
34,38±1,0 b (26-44)
Ghi chú: n=30; trong c ng hàng, các giá trị kèm chữ cái khác nhau chỉ sự khác nhau có ý nghĩa
thống kê ở đ tin cậy P<0,05.
Trong nghiên cứu này, thời gian đẻ trứng của
trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ ở 25
o
C gần
tƣơng tự, còn ở 30
o
C thì ngắn hơn rõ ràng so với
kết quả ở cùng nhiệt độ trong nghiên cứu của
Amarasekare et al. (2008a). Theo các tác giả này,
thời gian đẻ trứng của trƣởng thành cái rệp sáp
giả đu đủ là 11,4 ngày ở 25
o
C và là 11,6 ngày ở
30
o
C. Trong nghiên cứu này, thời gian đẻ trứng
của trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ ở 25
o
C
kéo dài hơn đáng kể, còn ở 30
o
C thì gần tƣơng tự
nhƣ trong nghiên cứu của ManiChellappan và
Ranjith (2013). Các tác giả này nuôi rệp sáp giả
đu đủ các cây đu đủ, dâu tằm, cọc rào, khoai tây
đã ghi nhận trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ có
thời gian đẻ trứng là 6,4-7,8 ngày.
Trong nghiên cứu này ghi nhận sự tăng nhiệt
độ từ 25
o
C đến 30
o
C dẫn đến làm giảm sức đẻ
trứng của trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ.
Hiện tƣợng này cũng ghi nhận đƣợc trong
nghiên cứu của Amarasekare et al. (2008a).
Theo các tác giả này, sức đẻ trứng của trƣởng
thành cái rệp sáp giả đu đủ từ 300,2 trứng/cái ở
25
o
C đã giảm còn 82,0 trứng/cái ở 30
o
C. Sức đẻ
trứng của của trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ
trong nghiên cứu này ở 25
o
C đạt cao hơn sức đẻ
trứng của của trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ
trong nghiên cứu của Amarasekare et al. (2008a,
2008b), ManiChellappan và Ranjith (2013). Theo
các tác giả này, phụ thuộc vào nhiệt độ và cây
thức ăn, sức đẻ trứng của của trƣởng thành cái
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
8
rệp sáp giả đu đủ đạt 82,0-442,6 trứng/cái. Sức
đẻ trứng của của trƣởng thành cái rệp sáp giả đu
đủ trong nghiên cứu này ở 30
o
C tƣơng tự nhƣ
sức đẻ trứng của của trƣởng thành cái rệp sáp
giả đu đủ nuôi trên các cây Acalypha wilkesiana,
Hibiscus rosa-sinensis, Parthenium
hysterophorus (230,2-244,4 trứng/cái), nhƣng
cao hơn đáng kể so với nuôi trên cây Plumeria
rubra (186,3 trứng/cái) và cây dâm bụt Hibiscus
rosa-sinensis (82,0 trứng/cái) trong nghiên cứu
của Amarasekare et al. (2008a, 2008b). Ở 30
o
C
rệp sáp giả đu đủ có thời gian phát triển ngắn
hơn so với ở 25
o
C, nhƣng sức đẻ trứng của
trƣởng thành cái lại thấp hơn rất đáng kể so với
ở 25
o
C. Điều này cho thấy nhiệt độ tối thuận cho
sự phát triển và sinh sản của rệp sáp giả đu đủ
nằm ở mức thấp hơn 30
o
C.
Sức đẻ trứng trong 1 ngày của trƣởng thành
cái rệp sáp giả đu đủ ở nhiệt độ 25
o
C nhìn chung
cao hơn so với ở 30
o
C, trung bình tƣơng ứng đạt
24,9 trứng/cái/ngày (8,0-77,93 trứng/cái/ngày) và
21,8 trứng/cái/ngày (9,0-45,13 trứng/cái/ngày).
Sức đẻ trứng trong 1 ngày của trƣởng thành cái
rệp sáp giả đu đủ ở nghiên cứu này đạt cao nhất
là 77,93 trứng/cái/ngày vào ngày thứ 9 sau vũ
hóa ở 25
o
C và là 45,13 trứng/cái/ngày vào ngày
thứ 7 sau vũ hóa ở 30
o
C (hình 1).
Nhịp điệu đẻ trứng của trƣởng thành cái rệp
sáp giả đu đủ thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ.
Thời điểm bắt đầu đẻ trứng, thời gian có sức đẻ
trứng cao, thời gian kết thúc đẻ trứng ở các nhiệt
độ thí nghiệm khác nhau (25
o
C, 30
o
C) hoàn toàn
không giống nhau. Ở nhiệt độ 25
o
C trƣởng thành
cái bắt đầu đẻ trứng từ ngày thứ 5 sau hóa
trƣởng thành với sức đẻ trứng đạt 8,07
trứng/cái/ngày. Những ngày đầu của thời gian đẻ
trứng (từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 11 sau hóa
trƣởng thành), trƣởng thành cái có sức đẻ trứng
cao hơn cả (38,53-49,57 trứng/cái/ngày). Sức đẻ
trứng đạt cao nhất vào ngày thứ 9 sau hóa
trƣởng thành với trung bình 49,57
trứng/cái/ngày. Từ ngày 13 sau hóa trƣởng
thành, sức đẻ trứng của trƣởng thành cái giảm
rất mạnh. Đến ngày 29 sau hóa trƣởng thành thì
trƣởng thành cái ngừng đẻ trứng. Đƣờng biểu
diễn nhịp điệu đẻ trứng của trƣởng thành cái rệp
sáp giả đu đủ ở nhiệt độ 25
o
C bắt đầu gia tăng
nhanh và đạt đỉnh cao ngay ngày thứ 9 sau hóa
trƣởng thành (ngày đẻ trứng thứ 5). Sau đỉnh
cao, đƣờng biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng với xu
hƣớng đi xuống hơi dốc trong khoảng từ ngày
thứ 10 đến ngày thứ 12 sau hóa trƣởng thành.
Từ ngày thứ 13 sau hóa trƣởng thành, đƣờng
biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng biến động đi ngang
theo hƣớng xiên xuống trục hoành. Ở nhiệt độ
30
o
C, trƣởng thành cái đẻ trứng sớm hơn, bắt
đầu từ ngày thứ 4 sau hóa trƣởng thành với sức
đẻ trứng khá cao so với ở 25
o
C (23,0
trứng/cái/ngày) và sức đẻ trứng đạt đỉnh cao với
49,86 trứng/cái/ngày vào ngày thứ 7 sau hóa
trƣởng thành (ngày đẻ trứng thứ 4). Sau đó, sức
đẻ trứng của trƣởng thành cái giảm dần, từ ngày
thứ 8 đến ngày thứ 11 sau hóa trƣởng thành,
sức đẻ trứng duy trì ở mức 22,21-36,4
trứng/cái/ngày. Đến ngày thứ 12 sau hóa trƣởng
thành sức đẻ trứng giảm mạnh và trƣởng thành
cái ngừng đẻ trứng vào ngày thứ 20 sau vũ hóa.
Đƣờng biểu diễn nhịp điệu đẻ trứng sau đỉnh cao
đi theo hƣớng xiên xuống trục hoành (hình 1).
Hình 1. Nhịp điệu đẻ trứng của trƣởng thành
cái rệp sáp giả đu đủ nuôi bằng lá cây đu đủ
ở nhiệt độ khác nhau (cùng ẩm độ)
Trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ có tuổi
thọ khá dài, có thể sống trung bình đƣợc 21,15
ngày ở 25
o
C và 14,42 ngày ở 30
o
C. Nhiệt độ thí
nghiệm tăng từ 25
o
C lên 30
o
C đã làm giảm tuổi
thọ của trƣởng thành cái rệp sáp giả đu đủ.
Trƣởng thành đực có tuổi thọ rất ngắn, trong
nghiên cứu này chỉ sống đƣợc 1,77-1,88 ngày.
Rệp sáp giả đu đủ có thời gian đời kéo dài từ
19,57-26,18 ngày đối với giới tính đực đến
34,38-44,42 ngày đối với giới tính cái. Nhiệt độ
thí nghiệm tăng từ 25
o
C lên 30
o
C đã làm rút ngắn
thời gian đời của rệp sáp giả đu đủ. Sự khác
nhau về tuổi thọ và thời gian đời ở hai nhiệt độ
thí nghiệm đối với rệp sáp giả đu đủ đều ở mức
có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy P<0,05 (bảng 3).
Tuổi thọ của trƣởng thành đực trong nghiên cứu
này gần tƣợng tự nhƣ trong nghiên cứu của
Kumar et al. (2014), Seni và Sahoo (2014). Tuổi
thọ của trƣởng thành cái trong nghiên cứu này
cũng tƣơng tự nhƣ trong nghiên cứu của Seni và
Sahoo (2014), nhƣng lại ngắn hơn đáng kể so
với kết quả nghiên cứu của Kumar et al. (2014).
Theo Kumar et al. (2014), tuổi thọ của trƣởng
thành đực, trƣởng thành cái tƣơng ứng là 2,2 và
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
9
29,44 ngày. Các chỉ tiêu này trong nghiên cứu
của Seni và Sahoo (2014) tƣơng ứng là 1,67 và
20,33 ngày.
3.4 Phổ cây thức ăn của rệp sáp giả đu đủ
Rệp sáp giả đu đủ là loài côn trùng rất đa
thực. Đến nay, trên thế giới đã ghi nhận hơn 200
loài thực vật là cây thức ăn của rệp sáp giả đu
đủ. Nhƣng số loài thực vật là cây thức ăn của rệp
sáp giả đu đủ đã phát hiện đƣợc ở các quốc gia
không giống nhau, biến động từ 8 loài đến 84 loài
(Mastoi et al., 2014; Selvaraju and Sakthivel,
2011; Tanwar et al., 2010;). Tại ngoại thành Hà
Nội, trong thời gian nghiên cứu đã ghi nhận đƣợc
13 loài cây thuộc 11 họ thực vật trong hệ sinh
thái nông nghiệp là cây thức ăn của rệp sáp giả
đu đủ. Độ bắt gặp của của rệp sáp giả đu đủ trên
các cây thức ăn rất khác nhau. Rệp sáp giả đu
đủ có độ bắt gặp ở mức thấp (đến dƣới 25%)
trên các cây cau lùn Areca catechu, xƣơng xông
Blumea lanceolaria, khoai lang Ipomoea batatas,
đậu cô ve vàng Phaseolus vulgaris, dâu tằm
Morus alba, cà tím Solanum melongena, quất
hồng bì Clausena lansium. Rệp sáp giả đu đủ có
độ bắt gặp ở mức trung bình (6-50%) trên cây
vông Erythrina variegata và dâm bụt Hibiscus
rosa-sinensis. Rệp sáp giả đu đủ có độ bắt gặp
cao (6% đến trên 50%) trên các cây đu đủ Carica
papaya, sắn Manihot esculenta, cọc rào Jatropha
curcas và mành mành Cissus verticillata.
4. KẾT LUẬN
Ở điều kiện ổn định (nhiệt độ: 25
o
C, 30
o
C; ẩm
độ: 80%; chế độ chiếu sáng 16giờ/ngày đêm) với
thức ăn là lá cây đu đủ giống Đài Loan, rệp sáp
giả đu đủ có hai kiểu biến thái: biến thái không
hoàn toàn (đối với giới tính cái) và biến thái
không hoàn toàn thừa hay hypermorphosis (đối
với giới tính đực). Trƣởng thành đực phát triển
qua các giai đoạn trứng, rệp sáp non (2 tuổi), tiền
nhộng, nhộng với thời gian tƣơng ứng là 6,13-
7,42; 8,36-11,53; 1,20-2,51; 1,83-3,16 ngày.
Trƣởng thành cái phát triển qua các giai đoạn
trứng, rệp sáp non (3 tuổi) với thời gian tƣơng
ứng là 6,1-7,33; 13,93-16,22 ngày. Thời gian
phát triển từ trứng đến trƣởng thành đực, từ
trứng đến trƣởng thành cái (tƣơng ứng) kéo dài
17,8-24,63 và 20,03-23,56 ngày. Thời gian trƣớc
đẻ trứng của trƣởng thành cái là 5,69-7,06 ngày.
Thời gian vòng đời của rệp sáp giả đu đủ là
25,56-30,31 ngày. Trƣởng thành cái có thể sống
trung bình đƣợc 14,42-21,15 ngày. Trƣởng thành
đực có tuổi thọ rất ngắn, trung bình chỉ sống
đƣợc 1,77-1,88 ngày. Thời gian đời của trƣởng
thành đực là 19,57-26,18 ngày. Chỉ tiêu này ở
trƣởng thành cái là 34,38-44,42 ngày. Trong
nghiên cứu này, rệp sáp giả đu đủ sinh sản đơn
tính, mặc dù trƣởng thành đực xuất hiện nhiều
hơn trƣởng thành cái và chiếm tỷ lệ 61,0-61,1%
trong quần thể. Sức đẻ trứng của trƣởng thành
cái biến động từ 233,53-462,2 trứng/cái.
Với 80% ẩm độ, sự gia tăng nhiệt độ thí
nghiệm từ 25
o
C đến 30
o
C đã làm rút ngắn thời
gian phát triển của tất cả các pha/giai đoạn, thời
gian vòng đời, tuổi thọ trƣởng thành, thời gian
đời của rệp sáp giả đu đủ, làm giảm sức đẻ trứng
và thời gian đẻ trứng của trƣởng thành cái.
Nghĩa là nhiệt độ tối thuận cho sự phát triển và
sinh sản của rệp sáp giả đu đủ nằm ở mức thấp
hơn 30
o
C.
Tại ngoại thành Hà Nội, trong các năm 2015-
2017 đã ghi nhận đƣợc 13 loài cây thuộc 11 họ
thực vật trong hệ sinh thái nông nghiệp là cây
thức ăn của rệp sáp giả đu đủ. Phần lớn các cây
đã ghi nhận rệp sáp giả đu đủ có độ bắt gặp thấp
và trung bình. Có 4 loài cây, gồm đu đủ, sắn, cọc
rào, mành mành đã ghi nhận rệp sáp giả đu đủ
có độ bắt gặp cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Al-Helal M.A., K.N. Ahmed, N.E.P. Khanom, S.
Bulbul, 2012. The Journal of Plant Protection
Sciences, 4(2): 8-15.
2. Amarasekare K.G., J.H. Chong, N.D. Epsky,
C.M. Mannion, 2008a. Econ. Entomol., 6: 1798-1804.
3. Amarasekare K.G., C.M. Mannion, L.S.
Osborne, N.D. Epsky, 2008b. Enviromental
Entomolology, 37: 630-635.
4. Борxceниуc Н.С., 1963. Прaктичеcкий
определитель кокцид (Coccoidea) культурных
растений и лесных пород СССР. Издательство АН
СССР, Москва- Ленинград, 54-66 c.
5. CABI, 2001. Crop Protection Compendium. UK.
6. Kosztarab M., F. Kozar, 1988. Scale insects of
Central Europe. Akademiai Kiado, Budapest, 19-20.
7. Krishnan J.U., M. George, G. Ajesh, J.R.
Jithine, N.R. Lekshmi, M.I. Deepasree, 2016. Journal
of Entomolgy and Zoology Studies, 4(1): 528-533.
8. Kumar V., S.C. Topagi, B.S.R. Prasad,
Revanasida, K.B. Tharini, C.T.A. Kumar, 2014. Journal
of Applied and Natural Science, 6(2): 770-778.
9. Phạm Văn Lầm, 2013 Các loài côn tr ng và
nhện nhỏ g y hại c y trồng phát hiện ở Việt Nam.
Quyển I. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
10. Mani M., C. Shivaraju, A.N. Shylesha, 2012.
Journal of Biological Control, 26(3): 201–216.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_diem_sinh_vat_hoc_va_sinh_thai_hoc_cua_rep_sap_gia_du_du.pdf