Đặc điểm và phân bố chi sa nhân ở Nghệ An

Sa nhân tím - Amomum longiligulare T. L. Wu - Đặc điểm: Cây cao 1,5-2m. Phiến lá cỡ 20- 30x3-5cm, nhẵn cả 2 mặt, cuống lá dài 5-7mm, lưỡi lá dài 3,5 -5cm, nguyên. Cụm hoa dạng bông. Các lá bắc hình mũi mác, dài 2-2,5x0,8- 1,1cm, lá bắc con dài 1-1,5cm, xẻ làm hai. Ống đài dài 1,7-2,2cm, phía trên chia thành 3 răng ngắn. Ống tràng dài hơn đài, các thùy cỡ 1,3- 1,5x0,5-0,6cm. Cánh môi dạng thìa tròn cỡ 1,6- 2x1,8-2cm, màu trắng, gân giữa vàng, có 2 sọc đỏ 2 bên. Chỉ nhị dài 7-10mm, dài hơn bao phấn, mào chia 3 thùy rõ. Bầu hình bầu dục hay gần tròn, vòi nhụy lép dài 3-4mm. Quả hình trứng hay hình bầu dục rộng, cỡ 1,7- 2,2x0,8-1,2cm, khi non màu nâu đỏ, khi chín màu tím nâu, vỏ quả có gai mềm, nhọn bao phủ. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-6, mùa quả tháng 6-8. Cây ưa bóng, mọc hoang dưới tán rừng ẩm, ở độ cao khoảng 700m. - Phân bố: Mọc hoang dại ở nhiều tỉnh miền bắc và miền Trung Việt Nam. Còn có ở Trung Quốc. - Giá trị sử dụng: Quả hạt dùng làm thuốc, gia vị, chế rượu, cho tinh dầu. 4.10. Sa nhân - Amomum sp. - Đặc điểm: Cây cao từ 0,5-1m, không lông, gốc thân phình to màu đỏ hồng. Phiến lá có kích thước 20- 40 x7-10cm, không lông cả 2 mặt, trừ 2 mép phiến lá, cuống lá dài từ 3-5,5cm, các bẹ lá ôm lấy thân tạo thành thân giả, lưỡi lá dài đến 1cm, nguyên hoặc xẻ nông làm hai. Cụm hoa mọc gần gốc dài từ 7-40cm, quả màu tím hình cầu dẹt, có màu trắng khi bị lá phủ lên, chia làm nhiều khía cạnh, các quả cùng mọc trên đầu cụm. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa quả tháng 6-9. Cây ưa bóng, mọc hoang dưới tán rừng ẩm, ở độ cao khoảng từ 300-1.200m. - Giá trị sử dụng: Cây cho tinh dầu

pdf5 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm và phân bố chi sa nhân ở Nghệ An, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [19] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI I. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu được thu theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [6]. Mẫu thực vật được thu theo phương pháp mở rộng bán kính chạy qua tất cả các sinh cảnh đặc trưng của thảm thực vật ở các vùng nghiên cứu được xác định trên bản đồ. Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản, kích cỡ phải đạt 29x41cm có thể tỉa bớt cành, lá, hoa và quả nếu cần thiết. Sau khi thu mẫu đánh số hiệu vào mẫu. Đối với mẫu cùng cây đánh cùng một số hiệu. Đặc biệt, phải ghi ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên vào phiếu ghi thực địa vì những đặc điểm này dễ bị mất khi mẫu khô: nhựa mủ, màu sắc, hoa, quả, lá... Khi thu và ghi nhãn xong gắn nhãn vào mẫu, cho vào bao ni lông bỏ vào bao tải buộc lại mới đem về nhà xử lý. Sau khi mẫu được xử lý sơ bộ ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng Bảo tàng thực vật của trường Đại học Vinh. Hơn 100 mẫu vật được thu trong thời gian từ tháng 1/2014-8/2015, chủ yếu ở các sinh cảnh khác nhau của khu vực miền Tây Nghệ An (Vườn Quốc gia Pù Mát, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Pù Hoạt, Khu vực núi cao Puxailaileng...). Định loại bằng phương pháp hình thái so sánh để phân tích các mẫu vật và các tài liệu chuyên khảo của các tác giả trong, ngoài nước [1], [3], [5]. Đánh giá giá trị sử dụng của các loài theo các tài liệu liên quan [2], [7], [8] và sử dụng phương pháp phỏng vấn có sự tham gia (PRA) tại nơi thu mẫu trong các chuyến thực địa. II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Đa dạng về chi Sa nhân Qua điều tra, thu thập mẫu của chi Sa nhân ở Nghệ An, đã xác định được 10 loài, bổ sung 4 loài cho Nghệ An (bảng 1). ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN BỐ CHI SA NHÂN n Lê Thị Hương Khoa Sinh học, Đại học Vinh Ở NGHỆ AN Chi Sa nhân (Amomum Roxb.) là chi lớn của họ Gừng (Zingiberaceae), trên thế giới có khoảng 150 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, Úc [5]. Ở Việt Nam, chi Sa nhân hiện biết có 21 loài [1], được trồng hoặc sống dưới tán rừng, khe suối, nơi ẩm ướt... Nhiều loài trong chi này có thể sử dụng làm thuốc, làm gia vị hoặc tinh dầu chiết xuất được ứng dụng trong các lĩnh vực y học, dược phẩm, công nghệ thực phẩm...[2], [7]. Bài báo này là kết quả nghiên cứu, đánh giá về chi Sa nhân phân bố ở Nghệ An làm cơ sở khoa học cho công tác khai thác và bảo tồn. Sa nhân Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [20] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI Qua bảng 2 cho thấy, thành phần loài của chi Sa nhân thuộc họ Gừng ở Nghệ An cũng khá đa dạng với 10 loài so với 21 loài (chiếm 47,62%). Như vậy, trên một diện tích nhỏ của Nghệ An với địa hình đặc trưng của khu vực Bắc Trường Sơn thì chi Sa nhân được nghiên cứu có tính đa dạng khá cao. 2. Đa dạng về môi trường sống Trong quá trình điều tra chi Sa nhân ở Nghệ An, các loài sinh sống trong 5 môi trường chủ yếu như: dưới tán rừng, ven suối, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh và trảng cây bụi. Dưới tán rừng với 10 loài chiếm 100%; Ven suối với 5 loài chiếm 50%; Rừng thứ sinh với 9 loài chiếm 90%; Rừng nguyên sinh với 4 loài chiếm 40%; Trảng cây bụi với 2 loài chiếm 20%. Như vậy, các loài trong chi Sa nhân sống chủ yếu sống dưới tán rừng và rừng thứ sinh là hoàn toàn hợp lý bởi vì chúng là những loài ưa ẩm. 3. Đa dạng về giá trị sử dụng Tất cả các loài trong chi Sa nhân đều có giá trị sử dụng, trong đó 1 loài có thể cho từ 1 hoặc 2 giá trị sử dụng trở lên (chiếm 100% tổng số loài của chi này phân bố ở Nghệ An) thuộc 3 nhóm giá trị sử dụng khác nhau. Trong đó, nhóm cây cho tinh dầu chiếm tỷ lệ lớn nhất với 10 loài (100%); tiếp theo là nhóm làm thuốc với 7 loài (70%); nhóm cây làm gia vị với 4 loài (40%). 4. Đặc điểm của các loài 4.1. Sa nhân cựa - Amomum aculeatum Roxb.; Syn: Amomum ciliatum Blume, Amomum aurantiacum Ridl, Cardomomum aculeatum (Roxb.) Kuntze - Đặc điểm: Cây cao 3-4m. Phiến lá cỡ 30-42x5- 9cm, gân giữa mặt dưới có lông ngắn, cuống lá dài 4- 5mm, lưỡi lá dài 7-10mm. Cụm hoa tròn, các lá bắc cỡ 3-4x1,2-1,5cm, lá bắc con dài 1,5-1,8cm. Ống đài dài 1,7-1,9cm, phía trên chia thành 3 thùy nông. Ống tràng dài bằng đài, trên chia 3 thùy, thùy giữa cỡ 2,2- 2,5x1,3-1,5cm, 2 thùy bên hẹp hơn. Cánh môi gần tròn, dài 2,5-2,8cm, màu vàng cam, có các dải và nhiều đốm màu đỏ, đầu chia thành 3 thùy không rõ. Chỉ nhị bằng bao phấn, dài đến 1cm. Mào trung đới nguyên, cỡ 4mm x 1cm. Nhị lép bên dài đến 3,3mm. Bầu có lông, quả hình bầu dục cỡ 3,2-3,5x1,8-2cm, vỏ quả có gai mềm dài đến 5mm. Bảng 1. Danh lục các loài của chi Sa nhân phân bố ở Nghệ An TT Tên khoa học Tên Việt Nam Nơi sống Giá trị sử dụng 1 Amomum aculeatum Roxb. Sa nhân cựa a,c,d M,E,Ed 2 Amomum gagnepainii T. L. Wu, K. K. Larsen &Turland* Riềng ấm a,d,e M,E,S 3 Amomum longiligulare T. L. Wu Sa nhân tím a,c,d M,E,S 4 Amomum maximum Roxb. Đậu khấu chín cánh a,c,d M,E 5 Amomum muricarpum Elmer* Sa nhân quả có mỏ a,b,c,e M,E 6 Amomum repoense Pierre ex Gagnep.* Sa nhân miên a,c E 7 Amomum vesperilio Gagnep. Sa nhân thầu dầu a,b,c M,Ed 8 Amomum villosum Lour. Sa nhân a,b,c M,E,S 9 Amomum xanthioides Wall. ex Baker Sa nhân ké a,b,c M,E,S 10 Amomum sp.* Sa nhân a,b,c E Ghi chú: * Loài bổ sung cho danh lục Nghệ An. Nơi sống: a. dưới tán rừng, b. ven suối, c. rừng thứ sinh; d. rừng nguyên sinh; e. trảng cây bụi. Giá trị sử duṇg: cây làm thuốc (M), cây cho tinh dầu (E), cây làm gia vị (S). Để thấy được tính đa dạng của chi Sa nhân ở Nghệ An, kết quả được so sánh với Việt Nam (Nguyễn Quốc Bình, 2011) (xem bảng 2). Bảng 2. So sánh số loài trong các chi được nghiên cứu ở Nghệ An với Việt Nam Chi Nghệ An Việt Nam Tỷ lệ % so với Việt Nam Amomum 10 21 47,62 Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [21] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI - Sinh học và sinh thái: Cây mọc rải rác hay thành từng bụi lớn dưới tán rừng thưa, ven suối. - Phân bố: Lào Cai (Văn Bàn), Yên Bái (Văn Chấn), Nghệ An (Pù Mát) và miền Trung Việt Nam. Còn có ở Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Pa Pua New Guinea. - Giá trị sử dụng: Quả chín ăn chua ngọt, thơm. 4.2. Sa nhân hoa thưa - Amo- mum gagnepainii T. L. Wu, K. K. Larsen &Turland; Syn: Amomum thyrsoideum Gagnep. - Đặc điểm: Cây cao 1,5-2m. Phiến lá cỡ 20-30x5-7cm, nhẵn cả 2 mặt, cuống lá dài 4-5cm, lưỡi lá nguyên, dài 4-7mm. Cụm hoa dài 8- 13cm, hoa đính thưa, cuống cụm hoa thẳng, dài 25-30cm. Các lá bắc hình mũi mác, dài 2,5-3cm, xếp lợp lên nhau, lá bắc con dài 1-1,2cm. Ống đài dài 0,9-1,1cm, phía trên chia thành 3 răng hình tam giác ngắn. Ống tràng dài 2-2,5cm, thùy giữa hình bầu dục cỡ 1,5-2x0,5- 0,6cm. Cánh môi gần tròn cỡ 1,6-2x1,8-2cm, đầu xẻ thành 2 thùy, gân giữa có đốm vạch đỏ tía rồi vàng. Chỉ nhị dài 6-7mm, bao phấn dài bằng chỉ nhị, mào chia 3 thùy rõ. Nhị lép bên 2, dài đến 1mm. Bầu có lông trắng. Nhụy lép hơi khía mép. Quả hình trứng cỡ 2,5x1,2- 1,5cm, màu xanh vàng, vỏ quả có gai mềm, nhọn bao phủ. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4- 6, mùa quả tháng 6-8. Cây ưa bóng, mọc ven rừng, dọc suối, dưới tán rừng. - Phân bố: Cao Bằng (Hạ Lang), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Phú Thọ (Xuân Sơn), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa (Bá Thước), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống: Bình Chuẩn, Pù Hoạt: Tiền Phong), Quảng Trị (Đăk Rông). Còn có ở Trung Quốc. - Giá trị sử dụng: Quả hạt dùng làm thuốc, gia vị, chế rượu, cho tinh dầu. 4.3. Đậu khấu chín cánh - Amomum max- imum Roxb.; Syn: Cardamomum maximum (Roxb.) Kuntze - Đặc điểm: Cây cao 1,5-2,5m. Phiến lá cỡ 40-90x10-20cm, mặt trên không lông, mặt dưới nhiều lông mịn, cuống lá dài đến 15cm, lưỡi lá dài 1-2cm, đầu xẻ làm hai. Cuống cụm hoa dài 5-9cm. Lá bắc 2-2,5cm. Hoa đính thưa, mỗi cụm nhỏ có 1-3 hoa. Ống đài dài 1,4-2cm, đầu xẻ nông 1 bên, trên chia thành 3 răng hình dùi. Ống tràng dài 1,8-2,2cm, các thùy dài 0,9-1,1cm, hai thùy bên ngắn và nhỏ hơn thùy giữa. Cánh môi hình trứng, nguyên cỡ 2-2,5x1,2- 1,5 cm, màu trắng, gân giữa màu vàng nhạt. Chỉ nhị dài 1-2mm, bao phấn dài 1-1,2cm, mào cao 2-3mm. Nhị lép dạng dùi ngắn. Bầu hình trụ, cỡ 2-3x1-2mm. Quả hình bầu dục, màu xanh rồi nâu đỏ, có 9 cánh giống dạng quả khế. Hạt màu đen. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 6-10. Cây mọc nơi đất mùn ẩm, ven suối, ven đường mòn trong rừng thứ sinh, dưới tán rừng ở độ cao 350-1.500m. - Phân bố: Lai Châu (Điện Biên, Tuần Giáo), Lào Cai (Văn Bàn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hòa Bình, Nghệ An (Pù Mát: Khe Kèm, Khe Bu, Môn Sơn; Pù Huống: Bình Chuẩn, Nga My, Xiềng My, Châu Hoàn, Diên Lãm; Pù Hoạt: Châu Kim, Nậm Giải; Kỳ Sơn: Nậm Càn), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha - Kẻ Bàng), Quảng Trị (Hướng Hóa), Thừa Thiên Huế (Xuân Lộc, Bạch Mã, Nam Đông), Quảng Nam. Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônêxia, Pa Pua New Guinea. - Giá trị sử dụng: Quả được dùng làm thuốc. Thân, lá, hoa, quả cho tinh dầu. 4.4. Sa nhân miên - Amomum repoense Pierre ex Gagnep. - Đặc điểm: Cây cao đến 1m, phiến lá cỡ 20-40x7- 15cm, lưỡi lá dài 1-1,2cm, đầu xẻ 2 thùy cuống lá dài 7- 25cm. Cuống cụm hoa dài đến 7cm. Các lá bắc cỡ 1,2-1,4x5-7mm, mỗi lá bắc chứa hai hoa, lá bắc con có Quả Sa nhân là một dược liệu quý Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [22] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI lông, ống đài dài 1,8-2,1cm, xẻ 1 bên, trên chia thành 3 răng ngắn. Ống tràng nhẵn, các thùy hình mũi mác. Cánh môi cỡ 2,5-3x1,7-2,5cm, đầu xẻ 3 thùy nông, đầu thùy giữa rách mép. Chỉ nhị dạng bản, bao phần dài 7-8mm, mào nguyên hay chia 3 thùy. Nhị lép bên hình chóp, rất nhỏ. Bầu hình trụ, có 9 sọc. Quả hình cầu, đường kính 1,3cm, có 9 cánh. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa quả tháng 5-7. Cây mọc nơi đất mùn ẩm, ven suối, dưới tán rừng. - Phân bố: Nghệ An (Tương Dương, Pù Hoạt (Châu Kim), Kỳ Sơn (Nậm Càn)), Thừa Thiên Huế (Phú Lộc), Lâm đồng và Nam Bộ Việt Nam. Còn có ở Trung Quốc, Lào, Cam- puchia và Thái Lan. 4.5. Sa nhân quả có mỏ - Amomum muri- carpum Elmer - Đặc điểm: Cây cao 3-4m. Phiến lá cỡ 25- 35x6-8cm, nhẵn, cuống lá dài 5-10mm, lưỡi lá dài 5-10mm, đầu xẻ 2 thùy cuống lá dài 7- 25cm. Cuống cụm hoa dài đến 9cm, Các lá bắc cỡ 2-2,5cm, lá bắc con hình ống, dài 1-1,3cm, ống đài dài 2,3-2,5cm, màu đỏ nâu. Ống tràng dài bằng đài, các thùy dài 2-3cm, màu vàng, có các sọc dọc màu đỏ. Cánh môi hình trứng ngược, rộng cỡ 2,5-3cm, màu vàng nhạt, có các vân và đốm màu đỏ, đầu xẻ 3 thùy nông, đầu thùy giữa rách mép. Chỉ nhị dài 6-8 mm. Bao phần dài 8-10mm. Mào dạng nửa nón, xẻ ra hai bên, dài đến 5mm, rộng đến 1cm. Nhị lép bên hình dùi, rất nhỏ. Bầu hình trụ. Quả hình cầu, đường kính 2,5-2,8cm, có gai mềm. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 5-9, mùa quả tháng 9-12. Cây mọc nơi đất mùn ẩm, ven suối, dưới tán rừng, ở độ cao 300-1.000m. - Phân bố: Tuyên Quang (Nà Hang), Phú Thọ (Xuân Sơn), Hà Nội (Mê Linh), Hòa Bình, Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Pù Mát: Khe Kèm; Pù Huống: Bình Chuẩn; Pù Hoạt: Châu Kim, Châu Thôn, Nậm Giải, Hạnh Dịch, Thông Thụ), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã). Còn có ở Trung Quốc, Philippin. - Giá trị sử dụng: Quả dùng làm thuốc. Cây cho tinh dầu. 4.6. Sa nhân - Amomum villosum Lour.; Syn: Zingiber villosum (Lour.) Stokes, Car- damomum villosum (Lour.) Kuntze, Amomum echinosphaera K.Schum - Đặc điểm: Cây cao từ 1-1,5m (3m), gốc thân phình to, màu xanh lục, phiến lá cỡ 25-30x4-7cm, nhẵn 2 mặt, không cuống, lưỡi lá dài 1-3mm. Cuống cụm hoa dài 3-5cm. Các lá bắc cỡ 2,2-2,5x5-6mm, lá bắc con dài khoảng 1- 1,1cm, xẻ xiên vát. Hoa đính thành chùm ở gốc, mỗi gốc có 3-6 chùm hoa nhỏ, mỗi chùm có 4-8 hoa, ống đài dạng phễu hẹp, dài 1,4-1,8cm, ống tràng dài 1,6-1,8cm, các thùy cỡ 1,5-1,7x4-5cm màu trắng. Cánh môi gần tròn cỡ 2,3-2,5cm màu trắng, gân giữa màu vàng có các đốm tía đỏ, đầu cánh môi chia 3 thùy. Chỉ nhị dài bằng bao phấn cỡ 5-6mm, bao phần chia 3 thùy. Nhị lép bên giống như 2 gờ ở gốc cánh môi. Bầu có lông màu trắng hình trụ. Quả nang, hình cầu, đường kính 1,3-1,5cm, màu xanh, khi chín ngả màu vàng, có gai mềm. Hạt có góc cạnh, mùi thơm. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-6, mùa quả tháng 6-9. Cây mọc dưới tán rừng ẩm. - Phân bố: Được trồng và mọc phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc và miền Trung như: Lào Cai (Văn Bàn), Sơn La (Mộc Châu), Cao Bằng (Nguyên Bình), Hà Nội (Thường Tín), Hòa Bình (Chi Nê), Nghệ An (Pù Mát: Khe Kèm; Pù Huống: Bình Chuẩn, Thị trấn Quỳ Hợp; Pù Hoạt: Châu Kim, Châu Thôn, Nậm Giải; Tương Dương: Tam Đình; Kỳ Sơn: Mỹ Lý, Mường Lống), Hà Tĩnh (Vũ Quang, Kẻ Gỗ), Quảng Bình (Phong Nha - Kẻ Bàng), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã). Còn có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Mianma. - Giá trị sử dụng: Quả dùng làm thuốc. Toàn cây cho tinh dầu. 4.7. Sa nhân thầu dầu - Amomum vesperilio Gagnep. - Đặc điểm: Cây cao 1,2-1,5m. Phiến lá hình ngọn giáo rộng, cỡ 40-60x10-16cm, nhẵn; lưỡi cỡ 0,8- 1,2x0,5-0,8cm; cuống lá dài 1-2cm. Cụm hoa hình cầu hay hình trứng. Các lá bắc xếp lợp lên nhau; lá bắc con dạng ống, dài đến 1,5cm. Ống đài dài 1,4-1,6cm. Ống tràng hình trụ, dài 1,8-2,2cm, nhẵn. Các thùy dài 2,5- 3cm. Chỉ nhị dài bằng bao phấn, dài 0,9-1,1cm; mào hình tam giác, cỡ 5mm, rộng 0,9-1cm. Nhị lép bên rạng răng, ngắn. Bầu có lông. Quả nang hình cầu, đường kính 2-2,5cm, vỏ quả có giai mềm. Hạt được bao bởi áo hạt rộng, xẻ thành 2-5 khía. - Sinh học và sinh thái: Mùa ra hoa tháng 6-10, màu quả tháng 9-11. Cây ưa bong, mọc dưới tán rừng ẩm. - Phân bố: Tuyên Quang (Nà Hang), Cao Bằng (Nguyên Bình), Bắc Kạn (Chợ Đồn), Thái Nguyên (Đình Cả), Hà Nội (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Pù Mát), Quảng Bình (Phong Nha - Kẻ Bàng). 4.8. Sa nhân ké - Amomum xanthioides Wall. ex Baker; Syn: Amomum villosum var. xanthioides (Wall. ex Baker) T. L. Wu & S.J.Chen Tạp chí KH-CN Nghệ AnSỐ 9/2015 [23] NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI đỏ 2 bên. Chỉ nhị dài 7-10mm, dài hơn bao phấn, mào chia 3 thùy rõ. Bầu hình bầu dục hay gần tròn, vòi nhụy lép dài 3-4mm. Quả hình trứng hay hình bầu dục rộng, cỡ 1,7- 2,2x0,8-1,2cm, khi non màu nâu đỏ, khi chín màu tím nâu, vỏ quả có gai mềm, nhọn bao phủ. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-6, mùa quả tháng 6-8. Cây ưa bóng, mọc hoang dưới tán rừng ẩm, ở độ cao khoảng 700m. - Phân bố: Mọc hoang dại ở nhiều tỉnh miền bắc và miền Trung Việt Nam. Còn có ở Trung Quốc. - Giá trị sử dụng: Quả hạt dùng làm thuốc, gia vị, chế rượu, cho tinh dầu. 4.10. Sa nhân - Amomum sp. - Đặc điểm: Cây cao từ 0,5-1m, không lông, gốc thân phình to màu đỏ hồng. Phiến lá có kích thước 20- 40 x7-10cm, không lông cả 2 mặt, trừ 2 mép phiến lá, cuống lá dài từ 3-5,5cm, các bẹ lá ôm lấy thân tạo thành thân giả, lưỡi lá dài đến 1cm, nguyên hoặc xẻ nông làm hai. Cụm hoa mọc gần gốc dài từ 7-40cm, quả màu tím hình cầu dẹt, có màu trắng khi bị lá phủ lên, chia làm nhiều khía cạnh, các quả cùng mọc trên đầu cụm. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa quả tháng 6-9. Cây ưa bóng, mọc hoang dưới tán rừng ẩm, ở độ cao khoảng từ 300-1.200m. - Giá trị sử dụng: Cây cho tinh dầu III. KẾT LUẬN Kết quả điều tra đã xác định được 10 loài thuộc chi Sa nhân (Amomum), trong đó có 4 loài lần đầu tiên xác định phân bố ở Nghệ An; đã mô tả đặc điểm, sinh học sinh thái, phân bố và giá trị sử dụng của các loài phân bố ở Nghệ An. Tất cả các loài thuộc chi Sa nhân đều có giá trị sử dụng như cho tinh dầu (9 loài), làm thuốc (7 loài) và làm gia vị (4 loài). Môi trường sống của các loài chủ yếu dưới tán rừng, ven suối, rừng thứ sinh, rừng nguyên sinh và trảng cây bụi./. - Đặc điểm: Cây cao từ 1-1,5m (3m), gốc thân phình to, màu nâu đỏ, phiến lá cỡ 20-40x4- 7cm, nhẵn 2 mặt, không cuống, lưỡi lá dài 3- 5mm. Cuống cụm hoa dài 4-7cm. Các lá bắc cỡ 1,8x5mm, lá bắc con dài khoảng 1cm. Ống đài dài 1,5-1,8cm, các thùy dài 1,6-1,8cm, màu trắng. Cánh môi gần tròn cỡ 1,5-2cm màu trắng, gân giữa màu vàng. Chỉ nhị dài bằng bao phấn cỡ 5-6mm, bao phần chia 3 thùy. Nhị lép bên giống như 2 gờ ở gốc cánh môi. Bầu có lông màu trắng. Quả nang dạng trái xoan, đường kính 1,2-2x1,2-2cm, màu nâu đỏ, nâu khi khô, vỏ quả có gai mềm. Hạt có góc cạnh, có mùi thơm. - Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-6, mùa quả tháng 6-9. Cây mọc nơi đất mùn ẩm, ven suối, dưới tán rừng, sườn núi nơi ẩm. - Phân bố: Được trồng và mọc phổ biến ở nhiều nơi miền Bắc và miền Trung như: Tuyên Quang (Nà Hang), Lạng Sơn (Chi Lăng), Hà Nội (Mê Linh), Hòa Bình (Chi nê), Ninh Bình (Cúc Phương), Nghệ An (Pù Huống: thị trấn Quỳ Hợp, Pù Mát: Khe Kèm), Quảng Trị (Đắc Kroong). Còn có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. - Giá trị sử dụng: Quả dùng làm thuốc. Toàn cây cho tinh dầu. 4.9. Sa nhân tím - Amomum longiligulare T. L. Wu - Đặc điểm: Cây cao 1,5-2m. Phiến lá cỡ 20- 30x3-5cm, nhẵn cả 2 mặt, cuống lá dài 5-7mm, lưỡi lá dài 3,5 -5cm, nguyên. Cụm hoa dạng bông. Các lá bắc hình mũi mác, dài 2-2,5x0,8- 1,1cm, lá bắc con dài 1-1,5cm, xẻ làm hai. Ống đài dài 1,7-2,2cm, phía trên chia thành 3 răng ngắn. Ống tràng dài hơn đài, các thùy cỡ 1,3- 1,5x0,5-0,6cm. Cánh môi dạng thìa tròn cỡ 1,6- 2x1,8-2cm, màu trắng, gân giữa vàng, có 2 sọc Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Quốc Bình, 2011, Nghiên cứu phân loại họ Gừng (Zingiberaceae) ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Sinh học, Hà Nội. 2. Võ Văn Chi, 2012, Từ điển cây thuốcViệt Nam, Tập 1-2. Nxb Y học, Hà Nội. 3. Phạm Hoàng Hộ, 2000, Cây cỏ Việt Nam. Quyển 3. Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh. 4. Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008, Phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 5. Le T. Huong, Do N. Dai, Tran D. Thang, Tran T. Bach, Isiaka A. Ogunwande, 2015, Volatile constituents of Amomum maximum Roxb. and Amomum muricarpum C. F. Liang & D. Fang: two Zingiberaceae grown in Vietnam, Natural Product Research, 29(15): 1469-1472. 6. Jiang Ke, Wu Delin, Kai Larsen, 2000, Zingiberaceae, Flora of China 24: 322–377. 7. Tushar, Basak S, Sarma GC, Rangan L, 2010, Ethnomedical uses of Zingiberaceous plants of Northeast India, J Ethnopharmacol, 132(1): 286-296. 8. Wongsatit Chuakul, 2003, Ampol Boonpleng, Ethnomedical uses of Thai Zingiberaceous plant, Thai J Phytophar 10(1); 25-32.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdac_diem_va_phan_bo_chi_sa_nhan_o_nghe_an.pdf
Tài liệu liên quan