Thêm vào đó, nguồn vật chất đầu vào ít kết
hợp với chế độ trao đổi nƣớc mạnh là yếu tố
ảnh hƣởng đến cơ chế phân rã chất hữu cơ tại
đây. Ngoài ra, khả năng phân rã sinh học chất
hữu cơ còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố. Phan
Minh Thụ và nnk., [20] chỉ ra rằng khả năng
phân rã sinh học chất hữu cơ phụ thuộc nhiều
vào lƣợng vi khuẩn hiếu khí tổng số, BOD5,
thành phần cơ chất, chlorophyll-a, DIP, tức là
phụ thuộc vào nguồn cơ chất, bản chất và cấu
trúc của các chất hữu cơ trong môi trƣờng.
Điều này phù hợp với những nghiên cứu về đặc
trƣng phân rã sinh học chất hữu cơ của
Gotovtsev và nnk., [7, 18].
KẾT LUẬN
Đặc trƣng phân rã sinh học chất hữu cơ ở
cửa sông Cái thể hiện đặc tính riêng của thủy
vực và mang tính địa phƣơng. Các giá trị thực
nghiệm cho thấy đặc trƣng phân rã sinh học
chất hữu cơ chịu ảnh hƣởng bởi quá trình quản
lý chất lƣợng môi trƣờng của thủy vực và
nguồn gốc chất thải hữu cơ. Kết quả nghiên
cứu cho thấy đặc trƣng phân rã sinh học chất
hữu cơ ở cửa sông Cái thể hiện tính chất phân
rã của chất hữu cơ dễ phân hủy và ít chịu ảnh
hƣởng của thủy triều.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc trưng phân rã sinh học chất hữu cơ ở cửa sông Cái - Nha Trang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
88
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 88-95
DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/8860
ĐẶC TRƢNG PHÂN RÃ SINH HỌC CHẤT HỮU CƠ
Ở CỬA SÔNG CÁI - NHA TRANG
Phan Minh Thụ1,2*, Tôn Nữ Mỹ Nga3
1
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2
Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3
Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang
*
E-mail: phanminhthu@vnio.org.vn
Ngày nhận bài: 14-11-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 9-9-2017
TÓM TẮT: Để đánh giá đặc trƣng phân rã sinh học chất hữu cơ ở cửa sông Cái - Nha Trang,
các chỉ tiêu tốc độ phân rã cực đại, hằng số bán phân rã, hằng số tốc độ phân rã và thời gian bán
phân rã của chất hữu cơ đƣợc xác định. Kết quả thí nghiệm với mẫu nƣớc tại cửa sông Cái vào mùa
khô năm 2013 và 2015 lúc triều cƣờng và triều kiệt, và giải phƣơng trình Michaelis & Menten trong
trƣờng hợp BODn theo phƣơng pháp bình phƣơng tối thiểu, đã chỉ ra rằng các đặc trƣng của quá
trình phân rã sinh học chất hữu cơ có đặc trƣng riêng, mang tính địa phƣơng và ít chịu ảnh hƣởng
của thủy triều vùng cửa sông. Chất hữu cơ trong nƣớc của sông Cái có tính chất dễ phân hủy và có
nguồn gốc từ chất thải tự sinh hoặc từ chất thải sinh hoạt.
Từ khóa: Phân rã sinh học, chất hữu cơ, tự làm sạch, BOD, cửa sông Cái.
MỞ ĐẦU
Sự phát triển kinh tế và đô thị hóa làm gia
tăng áp lực lên các thủy vực ven biển cũng nhƣ
cửa sông. Bất cứ tác động nào (tiêu cực hay
tích cực) cũng đều ảnh hƣởng đến khả năng
trao đổi chất và phân rã sinh học chất hữu cơ
trong thủy vực. Do sự khác nhau về nguồn gốc
phát sinh, đặc điểm cấu trúc mà cƣờng độ phân
rã sinh học chất hữu cơ ở từng thủy vực khác
nhau và thể hiện đặc trƣng riêng của nó. Các
chất hữu cơ này có thể dễ phân rã (nhƣ tinh bột,
đƣờng,...) hoặc khó phân rã (chất hữu cơ mạch
vòng). Đối với vùng cửa sông ven biển, hơn
60% chất hữu cơ trong thủy vực là chất thải
sinh hoạt hoặc có nguồn gốc từ các hoạt động
kinh tế xã hội. Khi tồn tại trong thủy vực, các
chất hữu cơ này có thể lắng đọng trên nền đáy
(khoảng 1% tổng lƣợng chất hữu cơ) hoặc vận
chuyển đến các vùng nƣớc lân cận (khoảng
30% chất hữu cơ), phần lớn chất hữu cơ phân
rã và chuyển hóa trong cột nƣớc [1-4]. Đây
chính là chức năng tự làm sạch của thủy vực,
nó giúp cho môi trƣờng nƣớc ven bờ ổn định và
hồi phục lại trạng thái ban đầu. Sự biến thiên
của chất hữu cơ trong thủy vực hay đoạn sông
thƣờng đƣợc chi phối bởi nhiều quá trình: Quá
trình tải, quá trình khuếch tán, quá trình lắng
đọng, quá trình bốc hơi, quá trình phân rã,
khoáng hóa (hóa học và sinh học).
Vịnh Nha Trang đƣợc biết đến nhƣ là một
khu bảo tồn biển. Chất lƣợng môi trƣờng nƣớc
vịnh Nha Trang không chỉ chịu ảnh hƣởng từ
các hoạt động kinh tế du lịch và nuôi trồng thủy
sản nội tại trong vịnh mà còn chịu sự chi phối
của vật chất có nguồn gốc lục nguyên từ lƣu
vực sông Cái và sông Tắc. Phan Minh Thụ và
Tôn Nữ Mỹ Nga [5] đã chỉ ra rằng hàng năm
vịnh Nha Trang đã tiếp nhận khoảng 10 ngàn
tấn BOD hay 20 ngàn tấn COD. Những nghiên
cứu về phân rã sinh học tại vịnh Nha Trang còn
tƣơng đối ít. Các nghiên cứu này đƣợc thực
hiện dựa trên phƣơng pháp động học, phản ứng
Đặc trưng phân rã sinh học chất hữu cơ
89
tự xúc tác. Dựa vào mô hình Michaelis-Menten
[6-8], ở cửa sông Cái, hằng số tốc độ phân rã
sinh học chất hữu cơ biến động từ 0,02 đến
0,04 ngày
-1
[9]; thấp hơn nhiều so với những
kết quả từ Nguyễn Hữu Huân và nnk., [10]
(hằng số này dao động trong khoảng 0,1389 -
0,1841 ngày
-1
). Tại cửa sông Tắc, hằng số này
dao động từ 0,0643 đến 0,3202 ngày-1 [11]. Tuy
nhiên, hiệu quả của nhiều chính sách đƣợc triển
khai để cải tạo cảnh quan và cải thiện chất
lƣợng môi trƣờng nƣớc đã giúp cho nƣớc vùng
cửa sông Cái đang ngày càng “sạch” hơn [12].
Do đó, khả năng tự làm sạch cũng nhƣ sức tải
của vùng cửa sông Cái cũng góp phần nâng
cao khả năng cải thiện [12-14]. Điều này đã
làm thay đổi khả năng phân rã sinh học chất
hữu cơ tại cửa sông Cái nói riêng, của vịnh
Nha Trang và các vùng biển ven bờ Nam
Trung Bộ nói chung.
Bài báo dƣới đây xác định các đặc trƣng
phân rã sinh học chất hữu cơ cửa sông Cái,
cung cấp các dữ liệu khoa học để các nhà khoa
học, quản lý có thể đƣa ra những giải pháp hợp
lý nhằm tăng cƣờng khả năng tự làm sạch của
thủy vực cũng nhƣ góp phần nâng cao mức độ
bền vững trong phát triển kinh tế biển.
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Chất lƣợng nƣớc ở của sông Cái chịu ảnh
hƣởng của nguồn vật chất từ lục địa và từ vịnh
Nha Trang. Tuy nhiên, nguồn vật chất này biến
động mạnh theo thời gian và không gian.
Nguồn vật chất hữu cơ từ lục địa, chủ yếu là từ
nguồn thải sinh hoạt của thành phố Nha Trang,
ảnh hƣởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn vật
chất của cửa sông Cái, đặc biệt là ở nhánh Hà
Ra. Thêm vào đó, chất lƣợng môi trƣờng nƣớc
ở cửa sông Cái chịu ảnh hƣởng của chế độ thủy
triều và từ nguồn nƣớc trên thƣợng nguồn.
Tổng lƣu lƣợng trung bình 2,078 tỷ m3/năm,
phân bố 65 - 66% lƣu lƣợng vào mùa mƣa [15].
Điều này đã làm gia tăng khả năng tự làm sạch
vật lý của nƣớc cửa sông Cái. Chính vì vậy,
thực hiện đánh giá khả năng tự làm sạch tại
nhánh sông Hà Ra vào mùa khô đã làm bộc lộ
đƣợc những đặc trƣng của khả năng tự làm
sạch vùng nghiên cứu. Việc đánh giá khả năng
phân rã sinh học chất hữu cơ đƣợc thực hiện từ
kết quả thí nghiệm biến động nhu cầu oxy sinh
hóa (BODn) của các mẫu thí nghiệm thu tại cửa
sông Cái (hình 1) vào lúc triều cƣờng và triều
kiệt trong mùa khô năm 2013 (10 thí nghiệm)
và 2015 (12 thí nghiệm). Quá trình này đƣợc
xác định dựa trên mối quan hệ giữa hàm lƣợng
chất hữu cơ đƣợc thể hiện qua nhu cầu oxy sinh
hóa (BODn) theo thời gian.
Hình 1. Vị trí thu mẫu nƣớc thí nghiệm tại cầu Hà Ra, sông Cái
Mẫu nƣớc đƣợc xác định các giá trị BOD
trong 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 6 ngày, 10 ngày,
15 ngày và 20 ngày ở nhiệt độ phòng (trong
thời gian thí nghiệm, nhiệt độ dao động quanh
Phan Minh Thụ, Tôn Nữ Mỹ Nga
90
giá trị 27oC). BODn là sự chênh lệch hàm lƣợng
oxy hòa tan (DO) giữa ngày đầu với ngày thứ
n. DO định lƣợng bằng phƣơng pháp Winkler
[16]. Ngoài ra, các yếu tố môi trƣờng nhƣ NOx,
NH4, PO4, nhiệt độ và độ mặn cũng đƣợc đo
đạc/phân tích theo APHA [16]; với DIN (tổng
nitơ vô cơ hòa tan) là tổng NOx và NH3,4, và
DIP (tổng phospho vô cơ hòa tan) là PO4.
Nhiều tác giả [6, 7, 17] đã áp phƣơng trình
Michaelis-Menten để tính toán tốc độ phân rã
sinh học hữu cơ (1):
max
m
d P V S
dt K S
(1)
Trong đó: Vmax: Tốc độ phân rã cực đại của chất
hữu cơ (mg BOD/L/ngày), S: Nồng độ của chất
hữu cơ (đƣợc đặc trƣng bởi BODn, đơn vị: mg
BOD/L) và Km: Nồng độ bán phân rã của chất
hữu cơ (tại thời điểm 50% chất hữu cơ đƣợc
phân rã, mg BOD/L).
Nếu gọi k (ngày-1) là hằng số tốc độ phân
rã, biến động của hàm lƣợng chất hữu cơ (S)
phân rã trong 1 khoảng thời gian t đƣợc tính
theo công thức (2) [8, 10]:
max 1 ktS S e
(2)
Trong đó: t1/2 (ngày): Thời gian bán phân rã
hay thời gian để phân hủy hết một nửa lƣợng
chất hữu cơ đƣợc tính theo:
1 2 ln2t k
(3)
Giải các phƣơng trình trên dựa vào kết quả
thí nghiệm BODn theo thời gian và bằng
phƣơng pháp bình phƣơng tối thiểu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm môi trƣờng vùng nghiên cứu. Các
yếu tố môi trƣờng tại cửa sông Cái trong thời
gian nghiên cứu đƣợc thống kê trong bảng 1.
Độ mặn năm 2013 (dao động trong khoảng
8,70 - 11,80‰) biến động ít hơn so với năm
2015 (dao động trong khoảng 1,30 - 13,20‰)
là do thời kỳ mùa khô năm 2015 chịu ảnh
hƣởng của các cơn mƣa tiểu mãn, nên lƣợng
nƣớc ngọt đã ảnh hƣởng đến toàn chu kỳ triều.
Hàm lƣợng oxy hoà tan cao ở tất cả các đợt
khảo sát chỉ ra rằng môi trƣờng nƣớc ở đây
thuận lợi cho quá trình phân rã chất hữu cơ
hiếu khí.
Bảng 1. Một số đặc trƣng môi trƣờng tại cửa sông Cái
Năm
Thủy
triều
Giá trị
Độ mặn
psu
DO
mgO2/L
BOD5
mgO2/L
NO2
mgN/m3
NO3
mgN/m3
NH4
mgN/m3
DIN
mgN/m3
DIP
mgP/m3
2013
Triều
thấp
Cực tiểu 8,70 5,34 1,76 4,29 6,87 182,17 196,77 103,24
Cực đại 9,90 6,44 2,78 543,01 176,17 623,46 921,01 222,91
Trung bình 9,20 6,11 2,36 125,00 44,95 308,72 478,67 146,13
±SD 0,46 0,45 0,39 234,13 73,46 181,92 305,04 46,42
Triều
cao
Cực tiểu 10,90 6,17 1,48 11,35 11,17 134,43 193,36 92,67
Cực đại 11,80 6,63 2,58 727,29 207,97 211,84 894,78 251,56
Trung bình 11,40 6,40 2,00 281,58 78,30 161,31 521,19 141,43
±SD 0,37 0,19 0,52 352,50 83,40 31,29 335,02 63,49
2015
Triều
thấp
Cực tiểu 2,10 4,33 1,17 3,85 77,53 35,07 133,22 11,07
Cực đại 11,90 6,95 3,31 40,39 292,53 370,02 625,56 121,30
Trung bình 5,93 6,25 2,29 16,43 161,74 161,03 339,21 39,28
±SD 4,28 0,83 0,68 13,37 73,87 122,83 185,73 34,33
Triều
cao
Cực tiểu 1,30 5,32 1,38 7,71 98,32 41,50 193,90 9,27
Cực đại 13,20 7,25 3,38 36,47 242,97 168,84 403,99 48,49
Trung bình 7,49 6,51 2,17 17,84 160,49 102,63 280,97 17,94
±SD 4,10 0,64 0,69 9,91 58,38 43,99 78,60 15,10
Ghi chú: ±SD: ± độ lệch chuẩn.
Bảng 1 còn cho thấy là dƣờng nhƣ không
có sự khác nhau về mặt thống kê giữa triều cao
và triều thấp (trừ giá trị DIN), nhƣng hàm
lƣợng của DIN và DIP giảm mạnh theo thời
gian. Hàm lƣợng trung bình của DIN năm 2013
đạt 478,67 ± 305,04 mgN/m3 (triều thấp) và
521,19 ± 335,02 mgN/m
3
(triều cao); giảm
xuống còn 339,21 ± 185,73 mgN/m3 (triều
Đặc trưng phân rã sinh học chất hữu cơ
91
thấp) và 280,97±78,60 mgN/m3 (triều cao) vào
năm 2015. Trong khi đó, hàm lƣợng trung bình
của DIP năm 2013 đạt 146,13±46,42 mgP/m3
(triều thấp) và 141,43 ± 63,49 mgP/m3 (triều
cao); hàm lƣợng trung bình DIP giảm mạnh
trong năm 2015 và chỉ còn 39,28 ± 34,33
mgP/m
3
(triều thấp) và 17,94 ± 15,10 mgP/m3
(triều cao) (p<0,05). Kết quả này cho thấy
nguồn nƣớc thải sinh hoạt của thành phố đổ ra
cửa sông Cái đã đƣợc quản lý tốt hơn, nguồn
làm tăng muối dinh dƣỡng đã đƣợc hạn chế
đáng kể. Điều này là do nƣớc thải sinh hoạt đã
đƣợc thu gom và và xử lý [12].
Đánh giá khả năng phân rã chất hữu cơ.
BOD5, BOD10 biến động mạnh theo thời gian
(hình 2). Trong năm 2013, giá trị trung bình
của BOD5 tăng từ 2,00 ± 0,52 mgO2/L (triều
cao) lên 2,36 ± 0,39 mgO2/L (triều thấp);
BOD10 tăng từ 2,88 ± 0,66 mgO2/L (triều cao)
lên 3,41 ± 0,63 mgO2/L (triều thấp). Trong khi
đó, vào năm 2015, chênh lệch của giá trị trung
bình của BOD5 và BOD10 giữa triều cao và
triều thấp đã giảm đáng kể (hình 2). Theo đánh
giá của Gotovtsev và nnk., [7], trong điều kiện
đầy đủ oxy và nhiệt độ 20oC, đối với nƣớc thải
đô thị, BOD5, BOD10 và BOD20 cho biết
khoảng 70%, 90% và 99% BOD toàn phần, tức
là tổng lƣợng chất hữu cơ thải bị phân huỷ. Mặt
khác, theo Gotovtsev và nnk.,
[18]
, BOD toàn
phần thƣờng nhỏ hơn hoặc bằng COD hoặc
tổng chất hữu cơ trong mẫu nghiên cứu, trong
khi đó, tỷ lệ COD/TOC (tổng carbon hữu cơ) =
2,66 và BOD5/TOC < 1,85 cho trƣờng hợp
nƣớc thải sinh hoạt. Nhƣ vậy, dựa vào BOD5,
tổng lƣợng chất carbon hữu cơ tại của sông Cái
biến động lớn hơn 632,43 - 1.827,03 µg C/L.
Giả sử thành phần chất hữu cơ trong nƣớc của
sông Cái không đổi trong một chu kỳ triều,
hàm lƣợng TOC trong mẫu nƣớc của sông Cái
đã tăng từ 1081,08 µg C/L lên 1275,68 µg C/L
(trong năm 2013), tức là gia tăng lên 18%.
Tƣơng tự cho trƣờng hợp BOD10, lƣợng chất
hữu cơ sai khác nhau giữa triều cao và triều
thấp là 18,40% (năm 2013). Nhƣ vậy, nếu cho
rằng sau 5 ngày, chất hữu cơ đã phân rã hết
70% thì sau 10 ngày chất hữu cơ trong các mẫu
thí nghiệm đã phân huỷ hoàn toàn. Tính toán
tƣơng tự và so sánh kết quả BOD5 và BOD10
giữa triều cao và triều thấp ở cửa sông Cái năm
2015, kết quả đã chứng minh rằng nguồn vật
chất hữu cơ từ lục địa đã giảm đáng kể so với
trƣớc đây.
Hình 2. Biến động BOD5 và BOD10 trong nƣớc ở cửa sông Cái
Khả năng phân rã sinh học chất hữu cơ. Kết
quả thực nghiệm khả năng phân rã sinh học
chất hữu cơ với mẫu nƣớc thu đƣợc ở cửa sông
Cái (hình 3) đã cho thấy không có sự khác nhau
giữa các đợt thí nghiệm trong các thời điểm
triều cao và triều thấp trong năm 2013 và 2015.
Sự biến động của BODn theo thời gian có dạng
đƣờng Michaelis-Menten, tức là đƣờng cong
Phan Minh Thụ, Tôn Nữ Mỹ Nga
92
BODn là dạng đƣờng tích lũy và tƣơng tự quá
trình phản ứng tự xúc tác, tƣơng tự kết quả
nghiên cứu trƣớc đây [9-11].
Hình 3. Quan hệ BOD với thời gian phân rã sinh học chất hữu cơ lúc triều thấp (trên)
và triều cao (dƣới): Đồ thị đƣờng thể hiện giá trị trung bình ± 2 lần độ lệch chuẩn
Kết quả tính toán các thông số thể hiện đặc
trƣng phân rã sinh học chất hữu cơ ở cửa sông
Cái bằng công thức (1) - (3) đƣợc thể hiện ở
bảng 2. Bảng 2 cho thấy các thông số này biến
động mạnh theo thời gian, trong đó, tốc độ
phân rã cực đại của chất hữu cơ dao động trong
khoảng 0,081 - 0,238 (mg BOD/L/ngày); hằng
số bán phân rã của chất hữu cơ dao động trong
khoảng 0,686 - 4,038 (mg BOD/L); trong khi
đó, hằng số tốc độ phân rã chất hữu cơ dao
động từ 0,075 đến 0,261 ngày-1 với thời gian
bán phân rã chất hữu cơ tƣơng ứng 2,651 -
9,296 ngày. Sự biến đổi của các thông số này
chỉ ra rằng thành phần chất hữu cơ có thể thay
đổi từ dễ phân hủy đến khó phân hủy, phụ
thuộc vào nguồn vật chất thải vào trong hệ.
Tuy nhiên, dựa vào kết quả kiểm định sự
khác nhau về giá trị trung bình giữa thời điểm
triều cao và triều thấp hoặc giữa năm 2013 và
2015 (bảng 3), các thông số đặc trƣng của quá
trình phân rã chất hữu cơ thể hiện sự biến động
và sự khác nhau không rõ ràng với mức ý nghĩa
5% (kiểm định hai phía). Dựa vào hằng số tốc
độ phân rã chất hữu cơ (trung bình năm 2013 là
0,139 ± 0,058 ngày
-1
và năm 2015 là 0,127 ±
0,025 ngày
-1
) và thời gian bán phân rã (trung
bình năm 2013 là 5,79 ± 2,25 ngày và năm
2015 là 5,64 ± 1,16 ngày). Dựa vào hằng số tốc
độ phân rã chất hữu cơ, Gotovtsev và nnk.,
(2012), đã tổng hợp và phân chia chất hữu cơ
thành 3 loại: dễ phân hủy (k > 0,3 ngày-1, nhƣ
formaldehyde: 1,4 ngày
-1
, glucose: 0,72 ngày
-1
,
bột mì: 0,59 ngày-1, methyl alcohol: 0,57
ngày
-1
, ethyl alcohol: 0,50 ngày
-1
, phenol: 0,38
ngày
-1
), phân hủy trung bình (0,06 ngày-1 < k <
0,3 ngày
-1
, hexandoic acid: 0,18 ngày
-1
,
pyrocatechin: 0,14 ngày
-1
, kerosene
alkylsulfonate: 0,12 ngày
-1
, lignin sulfonates:
0,06 ngày
-1
) và khó phân hủy (k > 0,06 ngày-1,
nhƣ carvacrol: 0,05 ngày-1, hydroquinol: 0,04
ngày
-1
, hydrogen sulfide: 0,03 ngày
-1
,
sulphanole: 0,02 ngày
-1
, caprolactam: 0,01
ngày
-1
, OP-10 preparation: 0,006 ngày
-1
,
cyclohexanoxime: 0,002 ngày
-1
, cyclohexanol:
Đặc trưng phân rã sinh học chất hữu cơ
93
0,001 ngày
-1), trong khi đó, chất thải sinh hoạt
từ đô thị có hệ số phân rã chất hữu cơ trung
bình là 0,23 ngày
-1
và thời gian bán phân rã
khoảng 3 ngày [7]. Nhƣ vậy, so sánh các kết
quả thực nghiệm về hằng số tốc độ phân rã và
thời gian bán phân rã của chất hữu cơ trong
mẫu nƣớc thu từ của sông Cái cho thấy bản
chất phân rã của chất hữu cơ không khác nhau
giữa năm 2013 và 2015 và giữa triều cao và
triều thấp (p > 0,05). Chất hữu cơ ở cửa sông
Cái có tốc độ phân rã trung bình với nguồn gốc
là chất hữu cơ nội sinh hoặc từ chất thải sinh
hoạt, trong khi đó các chất thải hữu cơ cao
phân tử và khó phân hủy ít đƣợc thải vào khu
vực này. Do chất hữu cơ cao phân tử là điều
kiện làm chậm quá trình phân rã sinh học chất
hữu cơ nên cho phép kết luận rằng các kết quả
nghiên cứu về đặc trƣng phân rã sinh học chất
hữu cơ mang tính địa phƣơng và thể hiện đƣợc
đặc điểm riêng của nó [7, 19].
Bảng 2. Đặc trƣng phân rã chất hữu cơ ở cửa sông Cái
Năm
Thủy
triều
Giá trị
Tốc độ phân rã cực
đại của chất hữu cơ
Vmax (mg/L/ngày)
Hằng số bán phân
rã của chất hữu
cơ Km (mgBOD/L)
Hằng số tốc độ
phân rã chất hữu cơ
k (1/ngày)
Thời gian
bán phân rã
t1/2 (ngày)
2013
Triều
thấp
Cực tiểu 0,124 0,686 0,087 3,669
Cực đại 0,224 2,135 0,189 7,955
Trung bình 0,175 1,375 0,143 5,242
±SD 0,045 0,522 0,041 1,721
Triều
cao
Cực tiểu 0,118 0,766 0,075 2,651
Cực đại 0,198 1,615 0,261 9,296
Trung bình 0,159 1,162 0,135 6,343
±SD 0,033 0,382 0,077 2,783
2015
Triều
thấp
Cực tiểu 0,081 0,694 0,109 4,145
Cực đại 0,221 4,038 0,167 6,331
Trung bình 0,151 1,620 0,130 5,480
±SD 0,054 1,074 0,025 0,937
Triều
cao
Cực tiểu 0,084 0,798 0,083 4,426
Cực đại 0,238 1,706 0,157 8,391
Trung bình 0,151 1,357 0,124 5,862
±SD 0,050 0,305 0,027 1,467
Ghi chú: ±SD: ± độ lệch chuẩn.
Bảng 3. So sánh biến động của các đặc trƣng phân rã chất hữu cơ ở cửa sông Cái
Theo thủy triều
Vmax Km k Thời gian
Triều cao Triều thấp Triều cao Triều thấp Triều cao Triều thấp Triều cao Triều thấp
N 11 13 11 13 11 13 11 13
Trung bình 0,155 0,160 1,268 1,526 0,129 0,135 6,081 5,388
SD 0,042 0,050 0,339 0,883 0,053 0,031 2,058 1,230
Trung bình sai số chuẩn 0,013 0,014 0,102 0,245 0,016 0,009 0,621 0,341
Sig. (2-phía) t-test so
sánh giá trị trung bình
0,754 0,346 0,736 0,343
Theo năm 2013 2015 2013 2015 2013 2015 2013 2015
N 10 14 10 14 10 14 10 14
Trung bình 0,167 0,151 1,269 1,507 0,139 0,127 5,792 5,643
SD 0,038 0,050 0,446 0,822 0,058 0,025 2,257 1,157
Trung bình sai số chuẩn 0,012 0,013 0,141 0,220 0,018 0,007 0,714 0,309
Sig. (2-phía) t-test so
sánh giá trị trung bình
0,380 0,371 0,576 0,851
Ghi chú: N: số mẫu; SD: độ lệch chuẩn.
Thêm vào đó, nguồn vật chất đầu vào ít kết
hợp với chế độ trao đổi nƣớc mạnh là yếu tố
ảnh hƣởng đến cơ chế phân rã chất hữu cơ tại
đây. Ngoài ra, khả năng phân rã sinh học chất
Phan Minh Thụ, Tôn Nữ Mỹ Nga
94
hữu cơ còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố. Phan
Minh Thụ và nnk., [20] chỉ ra rằng khả năng
phân rã sinh học chất hữu cơ phụ thuộc nhiều
vào lƣợng vi khuẩn hiếu khí tổng số, BOD5,
thành phần cơ chất, chlorophyll-a, DIP, tức là
phụ thuộc vào nguồn cơ chất, bản chất và cấu
trúc của các chất hữu cơ trong môi trƣờng.
Điều này phù hợp với những nghiên cứu về đặc
trƣng phân rã sinh học chất hữu cơ của
Gotovtsev và nnk., [7, 18].
KẾT LUẬN
Đặc trƣng phân rã sinh học chất hữu cơ ở
cửa sông Cái thể hiện đặc tính riêng của thủy
vực và mang tính địa phƣơng. Các giá trị thực
nghiệm cho thấy đặc trƣng phân rã sinh học
chất hữu cơ chịu ảnh hƣởng bởi quá trình quản
lý chất lƣợng môi trƣờng của thủy vực và
nguồn gốc chất thải hữu cơ. Kết quả nghiên
cứu cho thấy đặc trƣng phân rã sinh học chất
hữu cơ ở cửa sông Cái thể hiện tính chất phân
rã của chất hữu cơ dễ phân hủy và ít chịu ảnh
hƣởng của thủy triều.
Lời cảm ơn: Tập thể tác giả chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ của phòng Sinh thái biển, Viện Hải
dƣơng học để hoàn thành bài báo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Suess, E., 1980. Particulate organic carbon
flux in the oceans-surface productivity and
oxygen utilization. Nature, 288(5788),
260-263.
2. Hedges, J. I., and Keil, R. G., 1995.
Sedimentary organic matter preservation:
an assessment and speculative synthesis.
Marine chemistry, 49(2-3), 81-115.
3. Hedges, J. I., Keil, R. G., and Benner, R.,
1997. What happens to terrestrial organic
matter in the ocean?. Organic
geochemistry, 27(5-6), 195-212.
4. Middelburg, J. J., and Meysman, F. J.,
2007. Burial at sea. Science, 316(5829),
1294-1295.
5. Phan Minh Thụ, Tôn Nữ Mỹ Nga, 2016.
Lƣợng hóa nguồn thải vịnh Nha Trang. Tạp
chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, Số 1,
54-61.
6. Gotovtsev, A. V., 2010. Modification of the
Streeter-Phelps system with the aim to
account for the feedback between dissolved
oxygen concentration and organic matter
oxidation rate. Water Resources, 37(2),
245-251.
7. Gotovtsev, A. V., Danilov-Danilyan, V. I.,
and Nikanorov, A. M., 2012. BOD
monitoring problems. Water Resources,
39(5), 546-555.
8. Menten, L., and Michaelis, M. I., 1913. Die
kinetik der invertinwirkung. Biochem Z, 49,
333-369.
9. Nguyễn Tác An, Lê Lan Hƣơng, Phan
Minh Thụ, 1999. Sơ bộ đánh giá khả năng
tự làm sạch ở vực nƣớc ven bờ Nha Trang.
Tuyển tập nghiên cứu biển, 9, 123-136.
10. Nguyễn Hữu Huân, Hồ Hải Sâm, Phan
Minh Thụ, 2001. Động học quá trình sinh
hoá tiêu thụ oxy trong nƣớc vùng cửa sông
Cái (Nha Trang). Tuyển tập báo cáo khoa
học: Hội nghị khoa học “BIỂN ĐÔNG
2000”, Nha Trang, 19-22/9/2000. 287-294.
11. Phan Minh Thụ, Tôn Nữ Mỹ Nga, Nguyễn
Thị Miền, 2014. Đánh giá mức độ phân rã
hữu cơ sinh học ở Cửa Bé - Khánh Hòa.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy sản,
số 2, 57-61.
12. Phan Minh Thụ, Nguyễn Trịnh Đức Hiệu,
Phạm Thị Phƣơng Thảo, 2016. Biến động
chất lƣợng nƣớc vịnh Nha Trang. Tạp chí
Khoa học và Công nghệ biển, 16(2), 144-150.
13. Linh, V. T. T., Kiem, D. T., Ngoc, P. H.,
Phu, L. H., Tam, P. H., and Vinh, L. T.,
2015. Coastal Sea Water Quality of Nha
Trang Bay, Khanh Hoa, Viet Nam. Journal
of Shipping and Ocean Engineering, 5,
123-130.
14. Phạm Hữu Tâm, Lê Thị Vinh, Dƣơng trọng
Kiểm, Nguyễn Hồng Thu, Phạm Hồng Ngọc,
Lê Hùng Phú, Võ Trần Tuấn Linh, 2013.
Diễn biến chất lƣợng môi trƣờng nƣớc tại các
bãi tắm ven bờ vịnh Nha Trang. Tuyển tập
nghiên cứu biển, 19, 72-79.
15. Lại Thị Lƣơng, 2012. Tác động của biến
đổi khí hậu đến tài nguyên nƣớc mặt tỉnh
Khánh Hòa. Tuyển tập Báo cáo Hội thảo
Khoa học Quốc gia về Khí tƣợng, Thủy
văn, Môi trƣờng và Biến đổi khí hậu lần
thứ XV. Tr. 270-275.
16. APHA, 2012. Standard Methods for the
Examination of Water and Wastewater, 22
nd
Đặc trưng phân rã sinh học chất hữu cơ
95
Edition, 21st Edition ed. American Public
Health Association, Washington, D.C.
17. Arndt, S., Jørgensen, B. B., LaRowe, D. E.,
Middelburg, J. J., Pancost, R. D., and
Regnier, P., 2013. Quantifying the
degradation of organic matter in marine
sediments: a review and synthesis. Earth-
Science Reviews, 123, 53-86.
18. Gotovtsev, A. V., Danilov-Danil’yan, V. I.,
Nikanorov, A. M., 2010. BOD: The
Understanding, Calculation, and
Application. Metody Otsenki Sootvetstviya,
9, 10-15.
19. Leonov, A. V., 1974. Generalization,
typification and kinetic analysis of the
biochemical consumption of oxygen curves
based on BOD-experiments. Oceanologia
(Oceanology), 14, 82-87.
20. Phan Minh Thụ, Nguyễn Hữu Huân,
Nguyễn Trịnh Đức Hiệu, Nguyễn Minh
Hiếu, Nguyễn Kim Hạnh, Lê Trần Dũng,
Hoàng Trung Du, Phạm Thị Miền, Lê
Trọng Dũng, Võ Hải Thi, Trần Thị Minh
Huệ, Nguyễn Hữu Hải, 2016. Đặc điểm
phân rã sinh học chất hữu cơ ở các vực
nƣớc ven bờ thành phố Nha Trang Tuyển
tập nghiên cứu biển, 22, 73-82.
BIODEGRADATION OF ORGANIC MATTER
IN CAI RIVER MOUTH - NHA TRANG
Phan Minh Thu
1,2
, Ton Nu My Nga
3
1
Institute of Oceanography, VAST
2
Graduate University of Science and Technology, VAST
3
Faculty of Aquaculture, Nha Trang University
ABSTRACT: To assess characteristics of organic matter biodegradation of waters at Cai river
mouth - Nha Trang, the maximum ratio, half-saturation constant, decay ratio constant and half-time
of organic matter biodegradation were estimated. Based on the experiment results with water at Cai
mouth in dry season of 2013 & 2015 at high tide and low tide, and solution of Michaelis & Menten
function in the case of BODn by least squares method, the paper indicated that organic matter
biodegradation presented the local and specific characteristics and by slightly impacted by tidal
systems in river mouth. The organic matter in Cai mouth was degraded easily and its origin was
mainly from spontaneous waste or domestic waste.
Keywords: Biodegradation, organic matter, self-purification, BOD, Cai river mouth - Nha
Trang.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dac_trung_phan_ra_sinh_hoc_chat_huu_co_o_cua_song_cai_nha_tr.pdf