Dẫn liệu bước đầu về khả năng khống chế mọt ngô sitophilus zeamais motschulsky hại hạt đậu trắng của ong ký sinh sâu non anisopteromalus calandrae (howard)
Sau 6 tháng thả ong ký sinh, ở công thức thả 10 cặp ong/hộp nuôi có tỷ lệ trưởng thành mọt ngô xuất hiện là 23,1% tương đương với 77% ấu trùng của mọt ngô bị ong A. calandrae khống chế. ờ còng thức thả 8 và 6 cặp ong trên mỗi hộp, tỷ lệ trưởng thành mọt ngô xuất hiện lần lượt là 28,7% và 30,0% tương đương với gần 70% ấu trùng của mọt ngô s. zeamais bị ong ký sinh khống chế. ờ còng thức thả 4 cặp ong/hộp nuôi, tỷ lệ trưởng thành mọt ngô xuất hiện là 32,8% tương đương với hơn 67% ấu trùng của mọt ngô bị ong ký sinh khống chế. Công thức thả ong ký sinh ít nhất (2 cặp ong/hộp nuôi) có tỷ lệ trưởng thành mọt ngô xuất hiện đạt 46,6% tương đương với gần 54% ấu trùng vật chủ bị ong ký sinh khống chế. Kết quả trên cho thấy ong ký sinh A. calandrae có khả năng kiểm soát tốt quần thể ấu trùng mọt ngô. Sau 6 tháng thử nghiệm trên hạt đậu trắng, tỷ lệ xuất hiện trưởng thành mọt ngô vào cuối mỗi tháng sau thả ong ký sinh đều giảm theo thời gian và giảm theo chiều tăng số lượng cặp ong được thả. (2, 4, 6, 8 và 10 cặp ong/hộp nuôi). Trong đó, ở còng thức thả 10 cặp ong/hộp nuôi có hiệu quả kiểm soát tốt nhất đối với ấu trùng mọt ngô. Trong nghiên cứu này, hiệu quả kiểm soát mọt ngô của ong ký sinh A. calandrae cao hơn so với hiệu quả kiểm soát loài mọt R. dominica và s. oryzae hại hạt lúa mì tại Ai Cập của Hany et al. (2009), nhưng gần tương tự như hiệu quả kiểm soát mọt ngô hại hạt gạo tại Thái Lan của Chaisaeng (2007). Theo Hany et al. (2009), sau 6 tháng bào quàn, ong ký sinh A. calandrae chỉ làm giảm được 31,51% và 47,98% quần thể mọt R. dominica và s. oryzae (tương ứng). Còn theo Chaisaeng (2007), ong ký sinh A. calandrae có thể khống chế được gần 80% quần thẻ mọt ngô trên hạt gạo sau 6 tháng bào quản. 3.2 Ảnh hưởng của số lượng ong ký sinh được thả đến tỷ lệ ong ký sinh xuất hiện Tỷ lệ ong ký sinh xuất hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 6 tháng theo dõi. Vào cuối tháng thứ nhất sau thà ong ký sinh, tỷ lệ xuất hiện ong ký sinh tăng lên cùng với sự tăng số lượng cặp ong được thả (33,7% ở còng thức thả 2 cặp ong/hộp nuôi và 57,2% ở còng thức thà 10 cặp ong/hộp nuôi), ờ cuối tháng thứ 2 sau thá ong ký sinh, tỷ lệ xuất hiện ong ký sinh có xu hướng tăng từ còng thức thả 2 đến 8 cặp ong/hộp nuôi (21% so với 31,7%) và giảm ở công thức thà 10 cặp ong/hộp nuôi (27,2%). Từ cuối tháng thứ 3 đến cuối tháng thứ 6 sau thả ong ký sinh, tỷ lệ xuất hiện ong ký sinh có xu hướng giảm ở công thức thả 2 và 4 cặp ong/hộp nuôi, tăng lên ở còng thức thả 6 và 8 cặp ong/hộp nuôi và giảm ở còng thức thà 10 cặp ong/hộp nuôi (hình 2).
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dan_lieu_buoc_dau_ve_kha_nang_khong_che_mot_ngo_sitophilus_z.pdf


