Văn nghệ dân gian
Kho tàng văn hóa dân gian của người Dao ở Trung Quốc rất phong phú, đa dạng
gồm truyện kể, dân ca, câu đố. . . trong đó, ca hát là phần không thể thiếu trong đời sống
tinh thần của đồng bào. Trong khi lao động, sản xuất, bao giờ người ta cũng chọn một
hoặc hai người ra cầm ca, đánh trống cầm trịch để mọi người vừa làm, vừa hát. Nam nữ
thanh niên Dao trong khi tìm hiểu có thể hát đối suốt đêm. Nội dung của những bài hát
rất phong phú, ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước, lịch sử của dân tộc Dao.
Đồng bào cũng có nhiều nhạc cụ như trống, cồng chiêng, kèn, thanh la, chũm chọe,
tù và, chuông, nhị, sáo. . . đặc biệt là loại trống dài rất đặc sắc, chỉ người Dao mới có. Loại
trống này rất phổ biến vào đời nhà Tống (1127-1279). Các điệu múa với loại trống này rất
được ưa thích ở Trung Quốc và biểu diễn ở hải ngoại từ 1950.
3. Kết luận
Từ những nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Người Dao là một cộng đồng dân tộc thiểu số có lịch sử tương đối lâu đời trong
56 thành phần các dân tộc ở Trung Quốc.
- Người Dao ở Trung Quốc có đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần vô cùng
đặc sắc. Trong đó, có nhiều điểm văn hóa tương đồng với người Dao ở Việt Nam.
- Văn hóa truyền thống của người Dao là nguồn sử liệu quan trọng và có giá trị
trong việc nghiên cứu nguồn gốc, lịch sử tộc người của các dân tộc ở Trung Quốc cũng
như ở Việt Nam.
- Đời sống vật chất và tinh thần của người Dao đã có những thay đổi căn bản từ sau
khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Dân tộc Dao ở Trung Quốc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
2012, Vol. 57, No. 5, pp. 64-69
DÂN TỘC DAO Ở TRUNG QUỐC
Nguyễn Duy Bính∗
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Hải Quỳnh
Trường Cao Đẳng Sư phạm Lào Cai
∗E-mail: duybinhdhsphn@yahoo.com
Tóm tắt. Người Dao là một trong 56 dân tộc ở Trung Quốc. Tác giả bài nghiên cứu
tìm hiểu những nét khái quát nhất về người Dao ở Trung Quốc trên các khía cạnh:
Lịch sử tộc người; hoạt động kinh tế; văn hóa vật chất; văn hóa tinh thần.
Từ khóa: Trung Quốc, người Dao, tương đồng, khái quát, tộc người, kinh tế, văn
hóa vật chất, văn hóa tinh thần.
1. Mở đầu
Ở Trung Quốc, dân tộc Dao có 1,4 triệu người, sống xen kẽ với các dân tộc thiểu số
khác ở các tỉnh miền Nam nước này. Khoảng 70% người Dao sống ở khu tự trị của người
Choang tỉnh Quảng Tây, phần còn lại sống rải rác ở Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Đông,
Quảng Châu, Giang Tây [1;380].
Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả thử tìm hiểu những nét khái quát nhất về cộng
đồng người Dao ở Trung Quốc, qua đó cho thấy mối liên hệ giữa người Dao ở Trung Quốc
với người Dao ở Việt Nam và các nước láng giềng.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Tộc danh
Trong lịch sử, căn cứ vào trang phục, đồ trang sức, cách sống, lối sống, thậm chí cả
cách lao động sản xuất truyền thống, người Dao ở Trung Quốc có ít nhất 30 tên gọi. Tên
gọi Dao được công bố rộng rãi và chính thức trong các văn bản Nhà nước từ sau khi nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949.
Dưới chế độ phong kiến, người Dao ở Trung Quốc bị gọi một cách miệt thị là Mán.
Đồng bào tự gọi mình là Kìm miền, Kìm mùn, nghĩa là người ở rừng (Kìm là rừng, miền
hay mùn là người). Ngoài ra, người Dao còn tự gọi mình là Dìu miền. Bên cạnh tên gọi
Dao, còn có một số tên gọi khác như: Mán, Trại, Dạo, Xá, Động. Ở Trung Quốc, chỉ một
64
Dân tộc Dao ở Trung Quốc
nửa người Dao nói tiếng Dao, số còn lại sử dụng ngôn ngữ của người Miao (Hmông), hoặc
của người Đồng. Do kết quả của quá trình cộng cư và tiếp biến văn hóa, nhiều người Dao
sử dụng song ngữ: tiếng Dao và tiếng Hán, tiếng Dao và tiếng Choang.
Trong lịch sử, người Dao không có chữ viết, để ghi chép những sự kiện quan trọng
trong gia đình và cộng đồng người ta khắc những hình chữ V lên các mảnh gỗ hoặc thanh
tre. Sau này, người Dao bắt đầu sử dụng văn tự của người Hán. Những bằng chứng khảo
cổ học về việc người Dao ghi chép lời của những bài hát dân ca Dao được trưng bày tại
hạt tự trị Jinxin Dao thuộc tỉnh Quảng Tây có niên đại vào đời Minh (1368-1644). Trên
những phiến đá có khắc chữ mà người Dao mượn của người Hán được tìm thấy khắp nơi
trong cộng đồng Dao ở Trung Quốc [2;380].
2.2. Hoạt động kinh tế
Ở Trung Quốc, phần lớn người Dao sống ở những thung lũng vùng núi đồi, được
bao phủ bởi những cánh rừng thông, linh sam, quế, cây dâu tây, tre, trà. . . Hạt tự trị Giang
Hoa ở Hồ Nam được mệnh danh là "Xứ sở của cây linh sam". Tại những vùng người Dao
sinh sống còn có nhiều loại cây đặc sản như măng, nấm, khoai mỡ, các loại thảo dược
dùng làm thuốc. . . Trong rừng có nhiều loại động vật hoang dã như lợn rừng, gấu, khỉ,
cầy hương. Bên cạnh đó là các loại tài nguyên, khoáng sản quý rất lý tưởng cho việc phát
triển một nền kinh tế đa dạng.
Từ lâu, nông nghiệp trồng trọt chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động kinh tế của
người Dao, với hai hình thức: canh tác nương rẫy và trồng lúa nước ở những chân ruộng
bậc thang.
Trước giải phóng (1949), nền kinh tế của người Dao ở Trung Quốc có thể chia làm
3 loại:
Loại hình kinh tế đầu tiên và phổ biến nhất là kết hợp nông - lâm nghiệp với các
ngành phụ khác. Hoạt động này tập trung ở những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi.
Phương pháp canh tác của người Dao ở những vùng này có nhiều điểm tương đồng với
cách thức canh tác của người Hán và người Choang.
Loại hình kinh tế thứ hai là kết hợp lâm - nông nghiệp, trong đó lâm nghiệp là chính,
nông nghiệp chỉ là ngành bổ trợ. Thời phong kiến, địa chủ người Hán, người Choang sở
hữu và độc quyền khai thác tài nguyên rừng, nương rẫy, nông dân người Dao muốn canh
tác phải trả cho địa chủ hàng loạt loại sưu cao thuế nặng: từ thuế đất, thuế đi săn, thuế câu
cá, hái lượm, thuế xây nhà, thuế đi lại, thậm chí cả thuế uống nước và chôn người chết [3].
Loại hình kinh tế thứ ba là phát nương, làm rẫy. Như đã trình bày, phần lớn đất đai
thuộc quyền sở hữu của địa chủ người Choang và người Hán. Tuy nhiên, nông dân Dao
cũng có một ít đất, nhưng phần đất này lại thuộc quyền sở hữu của công xã, mỗi công xã
có từ 20-30 hộ gia đình có quan hệ họ hàng với nhau. Các gia đình trong công xã cùng
nhau lao động và chia đều các sản phẩm thu được.
65
Nguyễn Duy Bính và Nguyễn Hải Quỳnh
Theo truyền thống, khi vào mùa đồng áng, người Dao có tập quán cùng hợp tác lao
động tập thể rất thú vị, gọi là "vừa hát vừa đào". Theo tục này, cứ vào vụ cày ruộng đầu
xuân, từ 20 đến 30 gia đình người Dao cùng tập trung cày, bừa, làm đất, lần lượt hết nhà
này đến nhà khác cho đến khi tất cả các thửa ruộng của mọi nhà đều được cày xới, gieo
hạt. Khi lao động, một thanh niên trai tráng đứng hẳn ra ngoài nhóm người đang lao động,
anh ta có nhiệm vụ cầm trịch, đánh trống, bắt nhịp cho mọi người vừa làm, vừa hát. Nhờ
vậy, công việc được tiến hành trong một không khí vô cùng sôi động, vui vẻ, và hết sức
hiệu quả. Hiện nay, tục này vẫn còn thấy ở vùng người Dao tỉnh Quảng Tây.
Săn bắn vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của người Dao hiện nay. Một
mặt, nó cung cấp cho đồng bào nhiều loại thực phẩm, mặt khác, nó góp phần bảo vệ mùa
màng khỏi các loại thú dữ. Theo phong tục, sản phẩm thu được sau những chuyến đi săn
được chia đều giữa những người đi săn, thậm chí người ta còn chia một phần cho những
trẻ em còn đang địu trên lưng người lớn. Tuy nhiên, người săn được con thú thì được chia
một phần gấp đôi. Thỉnh thoảng, một phần chiến lợi phẩm được chia cho cả những người
lớn tuổi trong làng. Vũ khí dùng để săn bắn gồm: các loại súng hỏa mai, súng kíp, tên nỏ
và các loại bẫy.
2.3. Văn hóa vật chất
2.3.1. Trang phục cổ truyền
Trong văn hóa của mỗi dân tộc, trang phục, đặc biệt là trang phục nữ, thể hiện rõ
nhất bản sắc dân tộc. Ở Trung Quốc có nhiều nhóm Dao, mỗi nhóm có một sắc thái văn
hóa riêng, thể hiện rõ nét qua trang phục. Trang phục nữ Dao rất đa dạng về hình thức
trang trí (kiểu, dáng và các mô típ hoa văn), cái đặc sắc, và độc đáo của nữ phục được bảo
lưu lâu bền do gắn với một ý niệm về thủy tổ xa xưa là Bản Vương, con chó ngũ sắc, đã
có công giết giặc được vua gả công chúa, sinh con, đẻ cái thành dân tộc Dao ngày nay.
Do vậy, trên áo của phụ nữ, thường được thêu hình con chó, hình răng chó. Chiếc áo dài
truyền thống của phụ nữ Dao là kiểu áo xẻ ngực, gấu áo dài chấm gối. Giữa các nhóm
Dao, sự khác nhau được căn cứ vào kiểu cổ áo, số lượng, hình các loại hoa văn thiêu trên
áo. Hiện nay, một số phụ nữ lại mặc áo ngắn không cổ, thắt dây lưng bằng vải, váy ngắn
hay dài tùy thuộc vào mục đích công việc. Phần lớn phụ nữ Dao ở Trung Quốc thích mặc
áo dài đến đầu gối có cài nút ở giữa, dây thắt lưng có hai đầu rủ xuống. Tay áo, cổ áo, ống
quần thêu rất nhiều hoa văn. Ngoài việc trang trí áo bằng mề đay bạc, phụ nữ rất thích đeo
trang sức như vòng tay, hoa tai, vòng cổ [4].
Đàn ông Dao mặc áo ngắn cài nút ở giữa hay lệch về bên trái. Một số nhóm Dao,
đàn ông thích mặc quần dài chạm mu bàn chân, có nhóm lại mặc quần ngắn đến đầu gối.
Trang phục của đàn ông chủ yếu là màu xanh hoặc màu đen. Tuy nhiên, ở một số nơi như
hạt Nandan, tỉnh Quảng Tây, đa số đàn ông Dao lại mặc quần chẽn chỉ dài đến đầu gối,
màu trắng. Tại hạt Liannan, tỉnh Quảng Đông, đàn ông Dao lại quấn tóc thành búi, đội
66
Dân tộc Dao ở Trung Quốc
khăn đỏ và gắn trên đầu vài sợi lông gà lôi đỏ [5].
2.3.2. Nhà cửa
Nhà ở của các nhóm Dao cũng có nhiều nét khác biệt. Nhà cửa người Dao ở Trung
Quốc có 3 kiểu khác nhau: Nhà nền đất, nhà nửa sàn nửa đất và nhà sàn. Nhà nền đất của
người Dao là kiểu nhà tổng hợp có tính chất bền vững, thích hợp với điều kiện sản xuất,
định cư, trồng lúa nước gồm: Bếp, chuồng gia súc, nơi chứa các công cụ sản xuất, mọi
sinh hoạt trong gia đình đều khép kín trong khuôn viên của nhà. Nhà nền đất thường được
xây dựng ở những nơi tương đối bằng trên núi, sườn đồi thoai thoải. Nhà thường có hai
bếp, một bếp nấu ăn và một bếp lò nấu cám lợn. Vào những ngày đông giá rét, người Dao
còn đặt thêm một bếp nữa để sưởi ấm và cũng là nơi để tiếp khách nên còn được gọi là
bếp khách.
Nhà sàn là loại hình phổ biến ở các nhóm Dao làm nông nghiệp lúa nước. Nhà được
làm trên những gò đất thấp dưới chân núi, trong các thung lũng gần ruộng. Nhà được chia
làm 3 phần: Một phần dành cho những người con gái chưa chồng, các cặp vợ chồng và
bếp núc; một phần dành cho chủ gia đình và khách nam giới; một phần thuộc về người vợ.
Ngôi nhà truyền thống điển hình của người Dao ở Trung Quốc thường được làm
bằng gỗ, tre, hình chữ nhật có 3 phòng: phòng khách ở giữa, 2 phòng ngủ ở hai bên hông.
Bếp lò được đặt ở góc của mỗi phòng ngủ. Người Dao làm nhà tắm ở sát bên nhà. Một
phong tục rất thú vị là việc tắm vào mỗi buổi tối là bắt buộc thậm chí vào những ngày
đông giá lạnh.
2.3.3. Ăn uống
Nguồn lương thực thực phẩm của người Dao gồm các loại từ sản xuất, khai thác
trong thiên nhiên và do trao đổi hàng hóa. Trong các loại lương thực thì ngô là lương thực
quan trọng nhất, sau đó là sắn, khoai sọ. . . Ngoài nguồn lương thực từ trồng trọt, người
Dao còn khai thác các loại cây củ ở rừng làm thức ăn như củ mài, củ nâu. Ở Trung Quốc
còn có các loại khoai tây mật, ngũ cốc, khoai sọ, tiêu, bí đỏ, đậu nành, rau cải, bắp cải,
su hào, cà chua, các loại đậu cô ve, đậu ván. . . Nguồn thực phẩm có được từ chăn nuôi
rất phong phú như gà, ngan, vịt, trâu, bò, lợn chỉ được giết khi gia đình và cộng đồng
có những việc đại sự như ma chay, cưới xin. Nguồn thực phẩm bổ sung không kém phần
quan trọng là cá, các loại chim thú do săn bắt được.
Ở tỉnh Quảng Tây, một thực phẩm rất phổ biến của người Dao là "trà dầu". Cách
chế biến món này rất đặc biệt: đầu tiên, lá trà được rang, sấy trong dầu, sau đó đun tiếp
trong nước muối với gạo xốp rang hoặc đậu nành. Trà dầu này được dùng suốt ngày, rất
bổ, có thể được dùng như một bữa ăn trưa.
Một món ăn khác cũng được ưa thích và rất phổ biến của người Dao ở Trung Quốc
là "Chim dầm giấm". Thịt chim sau khi đã làm sạch được trộn chung với muối, gạo xay
và bỏ vào nồi hầm. Thịt bò, cừu, các loại thịt khác cũng được chế biến theo kiểu này, là
67
Nguyễn Duy Bính và Nguyễn Hải Quỳnh
một đặc sản dùng trong các tiệc lớn của gia đình và cộng đồng.
2.4. Văn hóa tinh thần
2.4.1. Tín ngưỡng, tôn giáo
Người Dao ở Trung Quốc theo tín ngưỡng đa thần, trong đó Đạo giáo có vai trò chủ
đạo, bên cạnh đó còn có các yếu tố Phật giáo, Khổng giáo và rất nhiều tàn dư của các tín
ngưỡng và tôn giáo nguyên thủy. Đồng bào dùng nhiều tranh thờ, mặt nạ,. . . mô phỏng
theo các thần thánh của Đạo giáo như Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Ngọc Thanh, Thượng
Thanh, Thái Thanh,. . . nhiều phép thuật chữa bệnh, bói toán được các thầy cúng dùng
trong các buổi tế lễ. Nhiều nhóm Dao hiện nay lại thờ Phật và thực hành nhiều quy tắc
của Phật giáo trong đời sống hàng ngày như uống nước thiêng, ăn chay, xem tử vi, xem
tuổi, đặc biệt là tư tưởng luân hồi của Phật giáo cũng thâm nhập vào đời sống tín ngưỡng
của đồng bào.
Do ảnh hưởng của tín ngưỡng Tô tem nguyên thủy và tín ngưỡng đa thần khác,
người Dao quan niệm cho rằng tất cả các loại cây và vật nuôi đều có linh hồn. Đồng bào
tin rằng có thần gió, thần mưa, thần trông coi các loại hoa màu và thần chăn nuôi. Cộng
đồng người Dao ở Trung Quốc đặc biệt tin vào nhân vật "Thần Chó - The dog spirit".
2.4.2. Một số phong tục, tập quán trong hôn nhân
Trong các nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người, nghi lễ trong hôn nhân ở tất cả
các nhóm Dao vừa có sự tương đồng, đồng thời lại chứa đựng sự khác biệt. Trong hôn
nhân, quy tắc ngoại hôn dòng họ là hình thức hôn nhân phổ biến, nghĩa là những người
trong cùng dòng họ trong phạm vi ít nhất từ 7 đến 9 đời không được kết hôn với nhau.
Hôn nhân con cô, con cậu được chấp nhận nhưng không phổ biến. Trong các nghi lễ hôn
nhân, hình thức hát đối rất phổ biến. Trước đây các hủ tục thách cưới rất cao khiến nhiều
thanh niên Dao không đủ tiền chi phí cho các lễ vật nên phải đến sống và làm việc ở nhà
vợ và thường bị xem thường. Trong gia đình người Dao, ông cậu (em trai của mẹ) có tiếng
nói quan trọng và thường quyết định các vấn đề quan trọng và ông ta cũng được hưởng
nhiều quyền lợi khác. Ở một số hạt ở tỉnh Quảng Tây, hình thức hôn nhân con cô con cậu
rất phổ biến. Nếu người con của cô gả cho đám khác thì lễ vật trong hôn nhân phải đem
đến nhà người cậu.
2.4.3. Văn nghệ dân gian
Kho tàng văn hóa dân gian của người Dao ở Trung Quốc rất phong phú, đa dạng
gồm truyện kể, dân ca, câu đố. . . trong đó, ca hát là phần không thể thiếu trong đời sống
tinh thần của đồng bào. Trong khi lao động, sản xuất, bao giờ người ta cũng chọn một
hoặc hai người ra cầm ca, đánh trống cầm trịch để mọi người vừa làm, vừa hát. Nam nữ
thanh niên Dao trong khi tìm hiểu có thể hát đối suốt đêm. Nội dung của những bài hát
rất phong phú, ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình yêu đất nước, lịch sử của dân tộc Dao.
68
Dân tộc Dao ở Trung Quốc
Đồng bào cũng có nhiều nhạc cụ như trống, cồng chiêng, kèn, thanh la, chũm chọe,
tù và, chuông, nhị, sáo. . . đặc biệt là loại trống dài rất đặc sắc, chỉ người Dao mới có. Loại
trống này rất phổ biến vào đời nhà Tống (1127-1279). Các điệu múa với loại trống này rất
được ưa thích ở Trung Quốc và biểu diễn ở hải ngoại từ 1950.
3. Kết luận
Từ những nghiên cứu trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Người Dao là một cộng đồng dân tộc thiểu số có lịch sử tương đối lâu đời trong
56 thành phần các dân tộc ở Trung Quốc.
- Người Dao ở Trung Quốc có đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần vô cùng
đặc sắc. Trong đó, có nhiều điểm văn hóa tương đồng với người Dao ở Việt Nam.
- Văn hóa truyền thống của người Dao là nguồn sử liệu quan trọng và có giá trị
trong việc nghiên cứu nguồn gốc, lịch sử tộc người của các dân tộc ở Trung Quốc cũng
như ở Việt Nam.
- Đời sống vật chất và tinh thần của người Dao đã có những thay đổi căn bản từ sau
khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] MaYin, 1994.China, s Minority Nationalities. Foreign languages Press Bejing, tr.380.
[2] MaYin, 1994.China, s Minority Nationalities. Foreign languages Press Bejing, tr.380.
[3] Phạm Đình Phúc, 2004. Các dân tộc ở Hà Giang (phần Dân tộc Dao). Nxb Thế giới.
[4] Chinese Ethnic Minorities.w.w.w.c.c.c.org/chinese culture/minority.htm
[5] 1965. Các dân tộc trên thế giới - Các dân tộc Đông Á. Nxb Matxcova - Lenigrat (bản
tiếng Nga).
ABSTRACT
The Dao in China
The Dao are one of 56 ethnic groups in China. The author gives an overview of the
Dao in China presenting their history, economic activities, material culture and spiritual
practices.
69
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dan_toc_dao_o_trung_quoc.pdf