KẾT LUẬN
Trên địa bàn hiện nay tồn tại ba hệ thống
sản xuất rau chính bao gồm: hệ thống sản xuất
Rau - Rau; Cây ăn quả ôn đới - Rau và Lúa -
Rau. Nông dân ở hệ thống sản xuất V-V có chi
phí cao nhất trong cho cả chính vụ và trái vụ do
chi phí thuốc bảo vệ thực vật cao hơn. Bắp cải
trái vụ cũng đòi hỏi đầu tư cao hơn so với bắp
cải chính vụ. Chi phí sản xuất cải mèo thấp
nhất trong các loại rau. Chi phí sản xuất bắp cải
xòe xấp xỉ với chi phí sản xuất cải mèo. Nếu so
sánh các hệ thống sản xuất khác nhau, sản xuất
bắp cải trái vụ cho thu nhập cao hơn so với sản
xuất các loại rau khác ở tất cả các hệ thống sản
xuất rau. Các loại rau cải khác chủ yếu bán cho
người tiêu dùng ở trong tỉnh, trừ rau trái vụ có
lượng tiêu thụ ngoại tỉnh lớn hơn. Lượng cung
rau trái vụ thường thấp hơn rất nhiều so với
nhu cầu ở hầu hết thị trường nhưng chuyển dịch
từ sản xuất cây lương thực như lúa và ngô sang
sản xuất rau vẫn rất hạn chế.
Các vấn đề khó khăn trong sản xuất rau
của hộ được xác định báo gồm: nhận thức và
năng lực sản xuất tiếp cận thị trường của hộ sản
xuất còn thấp, tiêu thụ rau khó và giá bán sản
phẩm thấp lúc chính vụ, bấp bênh; thiếu kỹ
thuật trồng rau trái vụ, năng suất thấp; sâu
bệnh; giá phân bón cao, thiếu phân hữu cơ, đất
tươi bạc màu, thiếu nước tới và ảnh hưởng bởi
các hiện tượng thời tiết cực đoan khác như mưa
đá, bão và hạn hán ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả sản xuất rau, đặc biệt bắp cải xòe. Những
mặt mạnh và cơ hội của sản xuất rau huyện Bắc
Hà được xác định bao gồm: kinh nghiệm sản
xuất rau, đặc biệt rau bản địa; nguồn lực đất đai
và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất
rau; đã có sự liên kết trong sản xuất thông qua
các tổ nhóm và HTX, hình thành một số mô
hình sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao trên
địa bàn huyện và nhu cầu tiêu dùng rau chất
lượng cao, đặc biệt rau trái vụ, rau bản địa ngày
càng cao ở thị trường lớn như Hà Nội và các tỉnh
lân cận. Do vậy việc thực hiện đồng bộ từ nâng
cao nhận thức, trình độ kỹ thuật sản xuất rau
cho nông hộ đến quy hoạch và tổ chức sản xuất
theo định hướng thị trường, khai thác thế mạnh
mùa vụ và sản phẩm rau bản địa sẽ góp phần
phát triển sản xuất rau hàng hóa bền vững trên
địa bàn huyện Bắc Hà.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 9: 705-712 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(9): 705-712
www.vnua.edu.vn
705
ĐÁNH GIÁ HIÊ ̣U QUẢ SẢN XUẤT RAU CỦA HỘ NÔNG DÂN
TẠI HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI
Nguyễn Hữu Nhuần1*, Nguyễn Thị Thu Huyền1, Nguyễn Ngọc Vinh2
1Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Viện Kinh tế và Phát triển, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: nhnhuan@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 12.06.2020 Ngày chấp nhận đăng: 30.07.2020
TÓM TẮT
Bắc Hà có tiềm năng phát triển sản xuất rau nhưng hiệu quả sản xuất chưa cao. Nghiên cứu nhằm đánh giá
hiệu quả và đề xuất giải pháp phát triển sản xuất rau cho nông hộ trên địa bàn huyện. Nghiên cứu được tiến hành
thông qua điều tra hộ sản xuất rau và phỏng vấn sâu các tác nhân quản lý và kinh doanh rau tại huyện. Kết quả
nghiên cứu cho thấy trên địa bàn hiện nay tồn tại ba hệ thống sản xuất rau chính: hệ thống sản xuất Rau - Rau; Cây
ăn quả ôn đới - Rau và Lúa - Rau. Trong các hệ thống sản xuất này, sản xuất bắp cải trái vụ cho thu nhập cao hơn
so với sản xuất các loại rau khác. Các loại rau cải chủ yếu được tiêu thụ trong tỉnh, trừ rau trái vụ. Lượng cung rau
trái vụ thấp hơn nhiều so với nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh. Khó khăn chính của hộ trong sản xuất bao gồm
nhận thức và năng lực sản xuất rau chưa cao, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, tiêu thụ và giá bán sản phẩm
không ổn định, thiếu nguồn lực đầu vào. Nghiên cứu đề xuất thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực sản xuất và
tiếp cận thị trường, đặc biệt đối với rau bản địa và rau trái vụ để nâng cao hiệu quả sản xuất rau trên địa bàn huyện.
Từ khóa: Sản xuất rau, hộ nông dân, Bắc Hà, Lào Cai.
Evaluating the Efficiency of Vegetable Production of Farm Households
in Bac Ha District, Lao Cai Province
ABSTRACT
Bac Ha has a potential to develop vegetable production, but production efficiency is not high. The study aims to
evaluate the efficiency and propose solutions to develop vegetable production for farmers in the district. The research
was conducted through surveys of vegetable producers and in-depth interviews with vegetable managers and traders
in the district. The study’s results show that there are three main vegetable production systems in the province,
including the Vegetable-Vegetable production system; Temperate fruits - vegetables and rice - vegetables. In these
production systems, off-season cabbage production provides a higher income than the production of other
vegetables in all vegetable production systems. Other vegetables were mainly sold to consumers in the province,
except off-season vegetables. The supply of off-season vegetables is often much lower than the demand both in and
outside the province. The main difficulties of households in production include low awareness and capacity of
vegetable production, limited access to markets, unstable consumption and price of vegetables, lack of input
resources. The study proposes to implement solution to improve vegetable production capacity and market access,
especially for indigenous and off-season vegetables to improve vegetable production efficiency in the district.
Key words: vegetable production, farmer households, Bac Ha, Lao Cai.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kinh tế ngày càng phát triển thì đòi hỏi
nhu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm
ngày càng cao. Nhu cầu về thực phẩm trong đó
có rau xanh không chỉ chú trọng số lượng mà
còn hướng đến mục tiêu an toàn, đảm bảo vệ
sinh. Huyện Bắc Hà nằm ở phía Đông Bắc của
tỉnh Lào Cai với tổng diện tích tự nhiên khoảng
hơn 68 nghìn hecta và là nơi sinh sống của 14
dân tộc trong đó đa số là dân tộc thiểu số như
H’mong, Dao, Tày, Nùng (UBND huyện Bắc Hà,
Đánh giá hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
706
2017). Tổng diện tích rau của huyện hiện nay là
477ha và sản lượng hằng năm đạt trên 4.000
tấn (Hoàng Lê, 2019). Sản phẩm rau của Bắc
Hà đã tiếp cận được thị trường Hà Nội và được
người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng và
chủng loại đặc biệt là các loại rau trái vụ. Trên
địa bàn huyện cũng đã bắt đầu hình thành các
vùng chuyên canh sản xuất rau theo hướng
hàng hóa, theo tiêu chuẩn “an toàn, sạch bệnh”,
điển hình ở các xã Na Hối, Tà Chải, và thị trấn
Bắc Hà, góp phần cải thiện thu nhập cho nông
dân (Huyền Trang, 2019). Tuy nhiên, sản xuất
rau của Bắc Hà chưa tương xứng với tiềm năng
và hiệu quả kinh tế chưa cao một phần do trình
độ sản xuất của người dân còn thấp và chưa
đồng đều, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm với một số tập quán canh tác lạc hậu và
một phần do đầu tư chưa phù hợp và tiếp cận
thị trường hạn chế (Umberger & cs., 2018). Sản
xuất chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường cả
về chủng loại, số lượng và chất lượng theo thời
vụ, đặc biệt đối với các hộ sản xuất quy mô nhỏ.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả sản
xuất và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
phát triển sản xuất rau của của huyện Bắc Hà
và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả và
phát triển sản xuất rau hàng hóa tại huyện Bắc
Hà trong thời gian tới.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thu thập thông tin
Nghiên cứu sử dụng tài liệu thứ cấp bao
gồm các tài liệu về chủ trương, chính sách và
các báo cáo nghiên cứu khoa học và tạp chí
chuyên ngành có liên quan về phát triển sản
xuất rau trên địa bàn huyện Bắc Hà. Số liệu sơ
cấp được thu thập thông qua điều tra 105 hộ
sản xuất rau trên địa bàn 3 xã của huyện. Ngoài
ra đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 2 cán bộ
khuyến nông, cán bộ quản lý tại 2 hợp tác xã
sản xuất và tiêu thụ rau và 5 người kinh doanh
buôn bán rau trên địa bàn huyện Bắc Hà.
2.2. Phân tích thông tin
Phương pháp thống kê được sử dụng để tính
toán các chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động,
kết quả, hiệu quả sản xuất rau của hộ nhằm
phân tích thực trạng và khả năng phát triển
sản xuất rau của các hộ. Phương pháp so sánh
được dùng để so sánh kết quả và hiệu quả của
sản xuất rau theo điều kiện tự nhiên, nguồn lực,
văn hóa Đây là cơ sở quan trọng để đưa ra các
định hướng phát triển và đánh giá được tiềm
năng phát triển sản xuất rau chất lượng cao
trên địa bàn huyện Bắc Hà trong thời gian tới.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm hộ sản xuất và hệ thống sản
xuất rau của nông hộ tại huyện Bắc Hà
Kết quả điều tra trên địa bàn 3 xã cho thấy
các hộ có diện tích chuyên rau ở xã Na Hối lớn
nhất. Ở các xã khác, các hộ thường sản xuất rau
kết hợp với trồng lúa và cây ăn quả. Tuy nhiên,
đa số hộ nông dân trên địa bàn chưa coi sản
xuất rau là nguồn thu nhập chính, chỉ coi rau là
cây trồng kiếm thêm thu nhập. Trong tổng số
mẫu điều tra, chủ hộ là nam giới chiếm 31% và
số hộ có chủ hộ là nữ chiếm 32%. Tuổi bình
quân của chủ hộ điều tra là 48. Đa số những
người được phỏng vấn mới học hết tiểu học và
trung học cơ sở và chủ yếu làm nông nghiệp
(Bảng 1).
Về nguồn lực cho sản xuất rau, bình quân
một hộ có hơn 4.600m2, chủ yếu là đất vườn
hoặc đất đồi. Kết quả điều tra cho thấy, trên
40% diện tích trồng rau phụ thuộc vào nước
mưa. Đa số hộ trồng rau gần nhà trên đất vườn
hoặc đất ruộng, chỉ có tỷ lệ nhỏ các hộ trồng rau
trên nương xa nhà (Bảng 2).
Về hệ thống sản xuất rau, qua nghiên cứu
khảo sát cho thấy sản xuất rau ở Bắc Hà tồn tại
3 hệ thống sản xuất bao gồm: (i) Hệ thống Rau -
Rau (V-V); (ii) Cây ăn quả ôn đới - Rau (TF-R)
và (iii) Hệ thống Lúa - Rau (R-V). Trong hệ
thống V-V, bắp cải và các loại cải là cây trồng
chính trong hệ thống sản xuất này. Đối với hệ
thống V-V này, hai hình thức sản xuất rau
chiếm ưu thế đó là sản xuất bắp cải cả năm và
sản xuất bắp cải - rau cải các loại. Rau bắp cải
chính vụ thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước
đến tháng 2 năm sau, bắp cải trái vụ từ tháng 4
đến cuối tháng 6 hàng năm và vụ bắp cải sớm từ
tháng 7 đến tháng 10. Ở Bắc Hà, rau cải Mèo có
Nguyễn Hữu Nhuần, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Ngọc Vinh
707
thể trồng quanh năm và bắp cải xòe là loại rau
được coi là đặc sản vùng Tây Bắc. Trong hệ
thống sản xuất TF-R, đa số nông dân trồng rau
trên vườn đồi trong giai đoạn đầu phát triển
vườn cây khi cây ăn quả chưa nhiều lá và bóng
cây chưa chiếm hết diện tích vườn cây. Ngoài ra
có một số hộ trồng rau trong vườn cây ăn quả
khi lá cây rụng.
Đối với hệ thống R-V, rau được sản xuất
quay vòng với lúa. Các hộ trồng rau trong hệ
thống này chủ yếu tận dụng vụ đông để sản
xuất rau. Do đó thu nhập từ sản xuất rau nhỏ
do rau chính vụ của Bắc Hà khó cạnh tranh với
các loại rau cùng chủng loại được sản xuất ở
vùng đồng bằng Sông Hồng. Mô hình Lúa - Rau
chủ yếu ở những xã có diện tích rau nhỏ lẻ, sản
xuất mang tính tự cung tự cấp là chính.
3.2. Hiê ̣u quả sản xuất rau của các hộ
nông dân
Về hiệu quả sản xuất rau, thu nhập bình
quân/sào rau bắp cải chính vụ đạt khoảng
3.800.000 đồng/sào. Mặc dù chi phí của hệ thống
V-V cao hơn hai hệ thống sản xuất rau còn lại,
lợi nhuận của sản xuất bắp cải trong hệ thống
chuyên rau V-V lại cao nhất, cao hơn gấp đôi so
với hệ thống TF-V. Do bắp cải, cải xòe và cải
Mèo là các lại loại rau hàng hóa chính, đề tài
tập chung phân tích kết quả sản xuất của các
loại rau này.
Bảng 1. Thông tin chung của nhóm hộ điều tra
Chỉ tiêu Số lượng (n = 105)
Tổng số 129,0
Giới tính của chủ hộ (%)
Nam 31,8
Nữ 32,0
Tuổi bình quân (năm) 48,2
Số năm đi học (năm) 6,8
Trình độ chuyên môn (%)
Không 92,3
Trung cấp 6,2
Cao đẳng 0
Đại học 1,6
Đã sinh sống tại địa phương (năm) 41,6
Bảng 2. Một số nguồn lực cho sản xuất rau của hộ điều tra
Chỉ tiêu Số lượng
Diện tích BQ/hộ (m
2
) 4.692,1
Trong đó: % đất đồi 37,9
% nguồn thủy lợi:
Nước ngầm 25,2
Nước mưa 42,5
Kênh mương 21,2
Ao hồ 5,1
Khác 6,0
Khoảng cách từ ruộng đến đường (km)
Trung bình 0,5
Xa nhất 2,0
Nguồn: Nguyễn Hữu Nhuần & cs. (2018).
Đánh giá hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
708
Bảng 3. Diện tích một số loại rau chính của các hộ
Các loại rau
R-V TF-V V-V
% số hộ trồng Diện tích (m
2
) % số hộ trồng Diện tích (m
2
) % số hộ trồng Diện tích (m
2
)
Bắp cải chính vụ 75,2 731,0 50,8 915,0 27,9 1711,0
Bắp cải trái vụ 10,5 1.360,0 30,8 1.389,0 39,2 1.867,0
Cải mèo 13,2 334,0 10,8 381,0 16,5 508,0
Cải xòe 1,0 345,0 6,2 428,0 13,9 656,0
Ghi chú: R-V: Lúa - Rau; TF-V: Cây ăn quả ôn đới - Rau; V-V: Rau - Rau.
Bảng 4. Kết quả sản xuất rau bắp cải chính vụ (bình quân 1 sào 1 vụ)
Chỉ tiêu ĐVT R-V TF-V V-V Tổng
Tổng chi phí (TC) 1.000đ 901,1 620,1 1.061,3 837,9
Năng suất/sào/vụ kg 1.346,9 764,9 1.088,7 1.145,3
GTSX/sào/vụ 1.000đ 5.278,2 2.941,6 6.240,0 4.708,2
(GO- TC)/vụ 1.000đ 4.377,1 2.321,5 5.178,7 3870,3
Ghi chú: ĐVT: Đơn vị tính; R-V: Lúa - Rau; TF-V: Cây ăn quả ôn đới - Rau; V-V: Rau - Rau.
Bảng 5. Hiệu quả sản xuất bắp cải trái vụ (bình quân 1 sào 1 vụ)
Chỉ tiêu ĐVT R-V TF-V V-V Tổng
Tổng chi phí (TC) 1.000đ 822,5 738,2 1.076,7 884,3
Năng suất/sào/vụ kg 692,0 730,1 1.028,2 848,6
GTSX/sào/vụ 1.000đ 3.152,0 3.868,1 9.653,6 6.169,8
(GO- TC)/vụ 1.000đ 2.329,5 3.129,9 8.576,9 5.285,4
Ghi chú: ĐVT: Đơn vị tính; R-V: Lúa - Rau; TF-V: Cây ăn quả ôn đới - Rau; V-V: Rau - Rau.
So với rau chính vụ, rau trái vụ có chi phí
tương tự trong hệ thống sản xuất V-V nhưng lợi
nhuận cao gấp gần 1,7 lần. Tuy nhiên bắp cải
trái vụ lại cho thu nhập thấp hơn chính vụ
trong hệ thống R-V do năng suất bắp cải trái vụ
chỉ bằng một nửa so với rau bắp cải chính vụ
trong hệ thống sản xuất này.
Bắp cải xòe chỉ được sản xuất trong hệ
thống TF-V và V-V. So với bắp cải thì thu nhập
từ bắp cải xòe thấp hơn nhưng chi phí cũng
khá thấp. Thu nhập của sản xuất bắp cải xòe
trong hệ thống V-V cao hơn so với hệ thống
TF-V. Mặc dù thu nhập không lớn hơn bắp cải
trái vụ nhưng giá rau bắp cải xòe khá ổn định
và sản xuất sản phẩm này có nhiều ưu thế với
Bắc Hà.
Khác với bắp cải, bắp cải xòe và các loại rau
khác, sản xuất cải mèo phù hợp hơn với hệ
thống TF-V do đó cho năng suất cao hơn với
mức chi phí thấp và doanh thu cao. Hơn nữa cải
mèo có thể phát triển quanh năm, ít sâu bệnh,
do đó đây cũng là hệ thống sản xuất xen canh
tiềm năng cho người dân Bắc Hà.
Nếu so sánh các hệ thống sản xuất khác
nhau, kết quả phân tích cho thấy sản xuất bắp
cải trái vụ cho thu nhập cao hơn so với sản
xuất các loại rau khác ở tất cả các hệ thống sản
xuất rau. Thu nhập bình quân/sào rau bắp cải
trái vụ là gần 5,3 triệu đồng. Thu nhập từ sản
xuất bắp cải có sự khác biệt lớn trong hệ thống
sản xuất rau V-V do có sự khác biệt rất lớn về
giá giữa các hộ nông dân có chất lượng rau
khác nhau và thời điểm thu hoạch khác nhau.
Nguyễn Hữu Nhuần, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Ngọc Vinh
709
Mặc dù thu nhập từ cải Mèo thấp nhất,
bình quân khoảng 2,4 triệu đồng/sào nhưng
nông dân đánh giá là dễ trồng, không tốn chi
phí về giống và có thể trồng trên nhiều loại
đất, đặc biệt phù hợp với các vườn cây ăn quả.
Đây cũng là một lợi thế của hệ thống sản xuất
xen canh rau - quả, góp phần nâng cao thu
nhập cho nông hộ. Nhìn chung nông dân thuộc
hệ thống V-V thu được thu nhập cao hơn các
hệ thống sản xuất khác, trừ thu nhập đối với
cải Mèo.
3.3. Thực trạng tiêu thụ rau tại huyện
Bắc Hà
Nhìn chung, rau được bán cho người tiêu
dùng ở địa phương là chủ yếu, chiếm khoảng
50-80% tùy theo từng loại rau. Đối tượng mua
rau cải xòe đa dạng hơn so với các loại rau khác.
Rau cải xòe được bán cho các đối tượng như
người bán buôn, nhà hàng và HTX nhiều nhất
vì đây được coi là loại rau đặc sản của Bắc Hà.
Đối với cải Mèo, đối tượng tiêu thụ chính vẫn là
người tiêu dùng địa phương. Nông dân trong hệ
thống chuyên rau đã tiêu thụ cải Mèo cho các
siêu thị trong và ngoài tỉnh, đặc biệt Hà Nội
như chuỗi cửa hàng Bác Tôm; Cty Thực phẩm
sạch BigGreen; hệ thống cửa hàng Ecomart;
Cty TNHH VinaGAP... với sự hỗ trợ của dự
án ACIAR.
Về diễn biến giá rau, hầu hết nông dân cho
rằng giá rau thấp nhất vào thời điểm giữa tháng
10 năm trước và tháng 02 của năm sau (vụ
đông) khi nông dân ở nhiều vùng có thể trồng
bắp cải, su hào hoặc su su. Rau bán với giá cao
hơn lúc trái vụ hoặc đầu vụ, thời gian giữa
tháng 05 và tháng 10 hàng năm.
Bảng 6. Hiệu quả sản xuất rau bắp cải xòe (bình quân 1 sào 1 vụ)
Chỉ tiêu ĐVT TF-V V-V Tổng
Tổng chi phí (TC) 1.000đ 358,4 796,2 671,1
Năng suất/sào/vụ kg 395,8 752,9 650,9
GTSX/sào/vụ 1.000đ 2.656,2 3.457,4 3.228,5
(GO- TC)/vụ 1.000đ 2.369,7 3.182,1 2.949,9
Ghi chú: ĐVT: Đơn vị tính; TF-V: Cây ăn quả ôn đới - Rau; V-V: Rau - Rau.
Bảng 7. Hiệu quả sản xuất rau cải mèo (bình quân 1 sào 1 vụ)
Chỉ tiêu ĐVT R-V TF-V V-V Tổng
Tổng chi phí (TC) 1.000đ 90,0 126,0 681,9 517,9
Năng suất/sào/vụ kg 360,0 720,0 436,5 470,9
GTSX/sào/vụ 1.000đ 2.160,0 5.760,0 2.376,0 2.904,0
(GO- TC)/vụ 1.000đ 2.070,0 5.634,0 1.733,6 2.439,8
Ghi chú: ĐVT: Đơn vị tính; R-V: Lúa - Rau; TF-V: Cây ăn quả ôn đới - Rau; V-V: Rau - Rau.
Bảng 8. Thu nhập từ sản xuất rau của các hộ điều tra (bình quân 1 sào 1 vụ)
Rau R-V TF-V V-V Tổng
Bắp cải chính vụ 4.377,1 2.321,5 5.178,7 3.870,3
Bắp cải trái vụ 2.329,5 3.129,9 8.576,9 5.285,4
2.070,0 5.634,0 1.733,6 2.439,8
Bắp cải xòe 2.369,7 3.182,1 2.950,0
Ghi chú: R-V: Lúa - Rau; TF-V: Cây ăn quả ôn đới - Rau; V-V: Rau - Rau.
Đánh giá hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
710
Hình 1. Tình hình tiêu thụ rau theo đối tượng người mua
3.4. Yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất rau tại
huyện Bắc Hà
- Điều kiện tự nhiên và sâu bệnh: Bắc Hà
được thiên nhiên ưu đãi, điều kiện khí hậu luôn
mát mẻ với nhiệt độ bình quân hàng năm
18,9C. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc sản
xuất các loại rau trái vụ, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng khan hiếm của thị trường du lịch như
Sapa, đặc biệt thị trường Hà Nội trong thời gian
từ tháng 4 đến tháng 10. Trong thời điểm sản
xuất trái vụ nguy cơ sâu bệnh hại cao hơn so với
thời điểm chính vụ ảnh hưởng đến năng suất
cũng như chất lượng sản phẩm. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, nhiều ý kiến cho rằng sâu bệnh
bắp cải là vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt đối với
sản xuất rau trái vụ. Ở các loại rau khác, sâu
bệnh cũng được xem là một trong những yếu tố
có ảnh hưởng lớn đến chất lượng rau của địa
phương trong khi trình độ sản xuất của người
dân còn khác hạn chế.
- Điều kiện sản xuất và trình độ của hộ sản
xuất: Bắc Hà nằm trong khu vực vùng đồi núi
cao, địa hình bị chia cắt mạnh nên việc khai
thác nguồn nước phục vụ cho đời sống và phát
triển sản xuất gặp nhiều khó khăn. Diện tích
đất nhiều nhưng phân bổ nhỏ lẻ, manh mún
thành nhiều mảnh không liền kề, chủ yếu là
ruộng bậc thang, điều này đã cản trở quá trình
mở rộng sản xuất rau trái vụ theo hướng hàng
hóa, tập trung quy mô lớn (Đức Nguyễn, 2020).
Sản xuất rau trái vụ là lợi thế của huyện, tuy
nhiên chủ yếu do hộ gia đình, cá nhân tiến hành
vì vậy trình độ sản xuất kinh nghiệm của người
sản xuất có ảnh hưởng lớn đến quá trình và tập
quán sản xuất này có ưu thế là các hộ có thể chủ
động trong việc bố trí sản xuất, tận dụng lao
động gia đình. Theo kết quả điều tra, việc sản
xuất rau theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa
bàn mới bước đầu triển khai và nhân rộng quy
mô nên trình độ của các hộ không cao. Hiểu biết
của hộ về sản xuất rau an toàn, sản xuất rau
theo quy trình VietGAP còn rất hạn chế.
- Quy hoạch và tổ chức sản xuất rau: Công
tác quy hoạch phát triển vùng sản xuất rau, đặc
biệt trái vụ ở Bắc Hà bước đầu có sự quan tâm,
chỉ đạo và sự vào cuộc của các cấp chính quyền
địa phương từ cấp huyện đến cấp xã, đã hình
thành được một số mô hình kinh tế hợp tác. Tại
thời điểm điều tra, trên địa bàn có các hình thức
tổ chức sản xuất đó là: hộ nông dân, trạm
nghiên cứu và phát triển cây ôn đới, các tổ hợp
tác, các HTX nhưng hình thức tổ chức kinh tế
nông hộ là hình thức chủ đạo nên việc sản xuất
và tiêu thụ còn mang tính tự phát, chưa có quy
hoạch chung. Một số mô hình hợp tác sản xuất
rau thành công như HTX Dì Thàng, tổ nhóm
sản xuất rau Na Khèo nhưng chưa được nhân
rộng và đầu tư nhiều. Công tác quy hoạch sản
xuất trong các mô hình này chưa cụ thể, chi tiết
Nguyễn Hữu Nhuần, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Ngọc Vinh
711
với từng thôn và từng loại rau nên quy mô sản
xuất của các hộ vẫn nhỏ lẻ, phân tán, chưa phát
huy tốt tiềm năng của vùng.
- Thị trường tiêu thụ: Hiện nay trên địa bàn
huyện, sản xuất rau vẫn chủ yếu được người sản
xuất mang trực tiếp ra ngoài chợ bán với lượng
bán được ít, chỉ phù hợp với hộ có quy mô sản
xuất nhỏ. Hình thức bán thông qua thương lái
còn ít. Tiêu thụ qua thương lái sẽ bán được
lượng rau lớn hơn, tập trung hơn, tuy nhiên giá
không được cao do thương lái sẽ mua tại vườn.
Hình thức này phù hợp với nhóm hộ quy mô vừa
và nhóm quy mô lớn.
3.6. Giải pháp phát triển sản xuất rau tại
huyện Bắc Hà
Từ phân tích kết quả và các yếu tố ảnh
hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau của huyện
Bắc Hà, chúng tôi đưa ra các nhóm giải pháp cơ
bản như sau:
- Quy hoạch vùng sản xuất rau: Các cơ
quan quản lý cần tập trung quy hoạch lại vùng
sản xuất rau chính vụ, rau trái vụ và rau bản
địa. Khuyến khích bà con thành lập các tổ
nhóm và các HTX sản xuất rau. Để thực hiện
mục đích này huyện cần chỉ đạo các xã cần
thực hiện tốt các biện pháp sau: (i) Lập phương
án xây dựng đầu tư cho vùng sản xuất; (ii) Xem
xét và tính toán lại diện tích có khả năng trồng
rau chất lượng cao theo các hệ thống sản xuất,
với đủ điều kiện về đất, nước và nhân lực theo
quy định để sản xuất theo qui trình sản xuất
rau chất lượng cao như VietGAP; (iii) Lựa chọn
giống tốt và bố trí luân canh cây trồng phù hợp
để tăng năng suất và sản lượng, hạn chế rủi
ro, phòng trừ sâu bệnh và hạn chế sử dụng
thuốc BVTV
- Nâng cao nhận thức và năng lực cho người
sản xuất: Đối với người dân địa phương, cần
nâng cao hiểu biết về sản xuất rau chất lượng
cao, đặc biệt rau trái vụ và rau bản địa như cải
mèo, bắp cải xòe, và khởi tử thông qua tổ chức
các lớp tập huấn cho nông dân. Tổ chức hội thảo
đầu bờ, hội thi nông dân giỏi nhằm động viên
khích lệ và trao đổi kinh nghiệm sản xuất. Tăng
cường tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến
thương mại, nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất
rau chất lượng cao theo quy trình rau an toàn
đến người sản xuất và người tiêu dùng. Bên
cạnh đó tuyên truyền tác dụng của quy trình
sản xuất an toàn mang lại cho người sản xuất,
người tiêu dùng và môi trường qua nhiều hình
thức như đài báo, website, các tài liệu kỹ thuật,
tờ rơi, tổ chức các tổ chức các hội nghị, tọa đàm
doanh nghiệp và tác nhân.
- Tăng cường ứng khoa học công nghệ sản
xuất rau chất lượng cao: Đối với cây rau trên địa
bàn huyện những năm gần đây năng suất, chất
lượng đã được tăng lên. Tuy nhiên đa số các hộ
điều tra đều cho rằng họ gặp khó khăn về kỹ
thuật, đặc biệt trong sản xuất rau trái vụ. Do đó
để phát triển sản xuất rau chất lượng cao cần chú
trọng đến các yếu tố: (i) Giống rau trái vụ phù
hợp và rau bản địa có chất lượng; thử nghiệm
các giống rau mới thị trường đang có nhu cầu
cao (Umberger & cs., 2018); (ii) Hoàn thiện quy
trình sản xuất rau chất lương cao và xây dựng
các mô hình trình diễn đầu bờ để người dân
tham quan học hỏi; (iii) Tăng cường đưa các loại
phân hữu cơ vi sinh vào sử dụng thay thế phân
vô cơ; (iv) Thực hiện đầy đủ yếu tố kỹ thuật với
thuốc bảo vệ thực vật theo 4 nguyên tắc: đúng
thuốc, đúng nồng độ liều lượng, đúng phương
pháp, đúng nơi, đúng lúc.
- Phát triển thị trường tiêu thụ rau chất
lượng cao:
Trong điều kiện sản xuất rau hiện nay, vấn
đề được các hộ quan tâm nhất là thị trường tiêu
thụ sản phẩm. Thị trường tiêu thụ chính của
các sản phẩm rau trái vụ là các chợ, cửa hàng
tại địa phương và thông qua thương lái, lái buôn
chuyển về các chợ đầu mối hoặc các địa phương
khác. Mặc dù nhu cầu về các loại rau trái vụ ở
một số thị trường đồng bằng đặc biệt là thị
trường Hà Nội cao nhưng việc tiếp cận với các
thị trường này còn gặp nhiều khó khăn.
Địa phương cần hỗ trợ các HTX và người
dân tổ chức hội chợ, hội thảo thử nếm để quảng
cáo sản phẩm rau, đặc biệt rau bản địa của địa
phương. Tiêu chuẩn hóa, xây dựng và phát triển
thương hiệu rau chất lượng cao để góp phần
nâng cao trách nhiệm người tham gia kinh
doanh rau, tạo niềm tin của người tiêu dùng.
Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá rau của địa
phương thông qua khách du lịch đến địa phương
và các phương tiện truyền thông khác.
Đánh giá hiệu quả sản xuất rau của hộ nông dân tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
712
Mở rộng phân phối trực tiếp từ người sản
xuất tới người tiêu dùng. Liên kết với các doanh
nghiệp, HTX trong và ngoài huyện để phân phối
sản phẩm, cũng như trong sản xuất. Tăng cường
mối liên kết giữa người sản xuất và các thương
lái, doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh các
sản phẩm rau an toàn, rau trái vụ. Hướng tới
đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm rau chất lượng cao
qua các kênh siêu thị, nhà hàng hiện có và tiềm
năng, đặc biệt từ các thành phố lớn vùng đồng
bằng sông Hồng như Hà Nội, Hải Phòng và
Quảng Ninh từ đó đẩy mạnh tiêu thụ và nâng
cao thu nhập cho người sản xuất rau.
4. KẾT LUẬN
Trên địa bàn hiện nay tồn tại ba hệ thống
sản xuất rau chính bao gồm: hệ thống sản xuất
Rau - Rau; Cây ăn quả ôn đới - Rau và Lúa -
Rau. Nông dân ở hệ thống sản xuất V-V có chi
phí cao nhất trong cho cả chính vụ và trái vụ do
chi phí thuốc bảo vệ thực vật cao hơn. Bắp cải
trái vụ cũng đòi hỏi đầu tư cao hơn so với bắp
cải chính vụ. Chi phí sản xuất cải mèo thấp
nhất trong các loại rau. Chi phí sản xuất bắp cải
xòe xấp xỉ với chi phí sản xuất cải mèo. Nếu so
sánh các hệ thống sản xuất khác nhau, sản xuất
bắp cải trái vụ cho thu nhập cao hơn so với sản
xuất các loại rau khác ở tất cả các hệ thống sản
xuất rau. Các loại rau cải khác chủ yếu bán cho
người tiêu dùng ở trong tỉnh, trừ rau trái vụ có
lượng tiêu thụ ngoại tỉnh lớn hơn. Lượng cung
rau trái vụ thường thấp hơn rất nhiều so với
nhu cầu ở hầu hết thị trường nhưng chuyển dịch
từ sản xuất cây lương thực như lúa và ngô sang
sản xuất rau vẫn rất hạn chế.
Các vấn đề khó khăn trong sản xuất rau
của hộ được xác định báo gồm: nhận thức và
năng lực sản xuất tiếp cận thị trường của hộ sản
xuất còn thấp, tiêu thụ rau khó và giá bán sản
phẩm thấp lúc chính vụ, bấp bênh; thiếu kỹ
thuật trồng rau trái vụ, năng suất thấp; sâu
bệnh; giá phân bón cao, thiếu phân hữu cơ, đất
tươi bạc màu, thiếu nước tới và ảnh hưởng bởi
các hiện tượng thời tiết cực đoan khác như mưa
đá, bão và hạn hán ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả sản xuất rau, đặc biệt bắp cải xòe. Những
mặt mạnh và cơ hội của sản xuất rau huyện Bắc
Hà được xác định bao gồm: kinh nghiệm sản
xuất rau, đặc biệt rau bản địa; nguồn lực đất đai
và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất
rau; đã có sự liên kết trong sản xuất thông qua
các tổ nhóm và HTX, hình thành một số mô
hình sản xuất rau ứng dụng công nghệ cao trên
địa bàn huyện và nhu cầu tiêu dùng rau chất
lượng cao, đặc biệt rau trái vụ, rau bản địa ngày
càng cao ở thị trường lớn như Hà Nội và các tỉnh
lân cận. Do vậy việc thực hiện đồng bộ từ nâng
cao nhận thức, trình độ kỹ thuật sản xuất rau
cho nông hộ đến quy hoạch và tổ chức sản xuất
theo định hướng thị trường, khai thác thế mạnh
mùa vụ và sản phẩm rau bản địa sẽ góp phần
phát triển sản xuất rau hàng hóa bền vững trên
địa bàn huyện Bắc Hà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đức Nguyễn (2020). Bắc Hà gỡ khó trong sản xuất ứng
dụng công nghệ cao. Báo Lào Cai. Truy cập tại
ong-san-xuat-ung-dung-cong-nghe-cao-z3n202003
27160139191.htm, ngày 30/4/2020.
Huyền Trang (2019). Lào Cai: Triển vọng nhờ trồng
rau sạch. Thời báo kinh doanh. Truy cập tại:
https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/lao-cai-trien-vo
ng-nho-trong-rau-sach/20191129124646000, ngày
20/04/2019.
Hoàng Lê (2019). Lào Cai Lào Cai: Trồng rau an toàn
giúp nhiều hộ dân thoát nghèo. Thời báo kinh
doanh. Truy cập tại https://doanhnghiepvn.vn/kinh-
te/lao-cai-trong-rau-an-toan-giup-nhieu-ho-dan-tho
at-ngheo/20191202034752690, ngày 18/3/2020.
Nguyen Huu Nhuan, Nguyen Thi Thu Huyen, Nguyen
Thi Duong Nga, Pham Van Hung, Pham Kieu My,
Ninh Xuan Trung & Dale Yi (2018). Improving
vegetable farming systems and marketing for
small-scale producers in Bac Ha district, Lao Cai
province. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt
Nam. 16(9).
Wendy Umberger, Nikki Dumbrell, Paul Milham, Phan
Thuy Hien, Pham Thi Mai Huong, Dindo
Campilan, Rosalie Daniel, Chu Thi My, Len
Tesoriero, Nguyen Hoang Viet, Steven Underhill,
Tran Thanh Nhan, Nguyen Huu Nhuan, Nguyen
Anh Duc, Tran Minh Tien, Stephen Harper,
Nguyen Thi Tan Loc, Nguyen Thi Hang, Ha Thi
Tra My, Nguyen Hien, Oleg Nicetic & Christian
Genova. (2018). Project Towards more profitable
and sustainable vegetable farming systems in
north-western Vietnam. ACIAR.
UBND huyện Bắc Hà (2017). Báo cáo kinh tế xã hội
huyện Bắc Hà.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_hieu_qua_san_xuat_rau_cua_ho_nong_dan_tai_huyen_bac.pdf