n tính albumin của hầu hết các cao chiết của nhóm nấm giàu
Se cao hơn nhóm đối chứng, đặc biệt ở cao PE, cao EtOAc và
cao EtOH có khả năng kháng viêm lần lượt tăng 3,1;1,73; 4,39
lần so với đối chứng. Như vậy, việc bổ sung Se vào môi trường
nuôi cấy có thể làm tăng khả năng kháng viêm của nấm O.
sinensis. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh các
hợp chất chứa Se có khả năng kháng viêm tốt như các loại acid
carboxylic (acid methyl-seleno-2-benzoic, acid acetylseleno-2-
benzoic) và các loại benzisoselenazolones [20, 21]. Các nhóm
cao thể hiện hoạt tính tốt là cao PE < cao tổng < cao EtOAc
ở cả lô O. sinenis giàu Se và lô đối chứng. Điều này chứng
tỏ các hoạt chất có khả năng kháng viêm cao có độ phân cực
thấp và trung bình nên tập trung nhiều vào 2 phân đoạn PE và
EtOAc. Wu và cs (2007) [22] đã xác định trong cao EtOAc của
Cordyceps sinensis có các hợp chất như adenosin, cordycepin
và ergosterol, được biết đến như các hợp chất có khả năng điều
trị viêm. Yang và cs (2011) [23] cho thấy, ở các cao hexane, cao
MeOH và cao EtOAc của O. sinensis có hoạt tính kháng viêm
cao thông qua thử nghiệm elastase với % ức chế lần lượt là
70,76; 94,99 và 97,49% ở nồng độ 10 µg/ml, trong khi đó cao
nước có hoạt tính rất thấp với % ức chế là 3,94%.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy khả năng ức chế enzyme
α-glucosidase của các cao chiết khá thấp. Trong đó, % ức chế
enzyme cao nhất là ở cao EtOAc, đạt 23,76% ở nhóm giàu Se
và 12,8% ở nhóm đối chứng tại nồng độ 5000 µg/ml. Trước
đây, nghiên cứu của Nguyen và cs (2017) [24] khảo sát hoạt
tính ức chế α-glucosidase từ các cao chiết ở nấm Cordyceps
neovolkiana cho thấy, mặc dù không tính được giá trị IC50
nhưng khả năng ức chế tốt nhất cũng là trên cao phân đoạn
EtOAc. Các giá trị âm xuất hiện, điều này có thể do các hợp
chất kị nước như lipid, acid béo và các hợp chất sterol trong
Cordyceps giúp hỗ trợ cho việc hình thành trung tâm hoạt động
của α-glucosidase [25]. Ophiocordyceps sinensis được chứng
minh có thể điều hòa lượng glucose trong máu bằng cách tăng
cường tổng hợp insulin, qua đó điều hòa chỉ số insulin - glucose
trong máu [26]. Như vậy có thể thể thấy, cơ chế hỗ trợ điều trị
đái tháo đường của loài nấm này không phải do ức chế enzyme
α-glucosidase.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hoạt tính kháng viêm, kháng khuẩn và ức chế enzyme α-Glucosidase in vitro của nấm Ophiocordyceps sinensis giàu selen, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1962(8) 8.2020
Khoa học Tự nhiên
Đặt vấn đề
Selen (Se) là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể
sinh vật. Chúng được chứng minh là có khả năng ngăn ngừa
bệnh loạn dưỡng cơ, xơ gan và là thành phần chính cấu tạo
nên nhiều enzyme trong cơ thể như glutathione peroxidase,
thioredoxin reductase và deiodinase [1, 2]. Sự thiếu hụt Se là
một trong những nguyên nhân gây rối loạn một số chức năng
trong cơ thể như suy giảm đáp ứng miễn dịch, tăng nguy cơ ung
thư, tăng nguy cơ cao huyết áp, suy giảm chức năng tuyến giáp,
tim và cơ xương [3]. Chính vì thế, con người cần một nguồn
cung cấp Se, và O. sinensis chính là một đối tượng tiềm năng.
O. sinensis là một loại nấm ký sinh thuộc chi
Ophiocordyceps đã được con người khai thác và sử dụng như
một vị thuốc giúp bổ phổi, phục hồi gan thận cũng như bồi
bổ sức khỏe trong y học cổ truyền Trung Hoa từ cách đây
hơn 700 năm [4]. Nhiều hợp chất trong O. sinensis (chủ yếu
là nucleoside, ergosterol, polysaccharide) được các nhà khoa
học chứng minh có nhiều hoạt tính sinh học như kháng oxy
hóa, kháng viêm, kháng khuẩn [5]. Ngoài ra, nhiều nghiên
cứu cho thấy O. sinenis có khả năng điều hòa đường huyết và
hỗ trợ điều trị đái tháo đường. Hiện nay, trên thế giới đã có
nhiều nghiên cứu về việc bổ sung Se vào quá trình nuôi cấy
O. sinensis. Các nghiên cứu đều cho thấy việc bổ sung này sẽ
làm gia tăng hàm lượng các hoạt chất cũng như hoạt tính sinh
học của nấm O. Sinensis [6, 7].
Do đó, nghiên cứu này tập trung đánh giá các hoạt tính kháng
viêm, kháng khuẩn và khả năng ức chế enzyme α-glucosidase
của O. sinensis giàu Se được nuôi cấy tại Việt Nam.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Sinh khối O. sinensis giàu selen nuôi cấy bổ sung 25 mg/ml
selen theo quy trình của Trần Minh Trang và cs (2016) [8] từ
chủng O. sinensis cung cấp bởi TS Trương Bình Nguyên, Viện
Nghiên cứu và Ứng dụng Nông nghiệp Công nghệ cao, Trường
Đánh giá hoạt tính kháng viêm, kháng khuẩn
và ức chế enzyme α-glucosidase in vitro
của nấm Ophiocordyceps sinensis giàu selen
Lê Quốc Phong1, 2, Nguyễn Hoàng Đăng Khoa3*, Đặng Tú Quyên3,
Nguyễn Tài Hoàng4, Đinh Minh Hiệp5, Ngô Kế Sương2
1Học viện KH&CN, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam
2Viện Sinh học Nhiệt đới TP Hồ Chí Minh
3Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
4Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Sinh học TP Hồ Chí Minh
5Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài 3/3/2020; ngày chuyển phản biện 6/3/2020; ngày nhận phản biện 9/4/2020; ngày chấp nhận đăng 1/6/2020
Tóm tắt:
Ophiocordyceps sinensis (O. sinensis) - đông trùng hạ thảo, là một loại nấm dược liệu quý chứa nhiều hợp chất có
hoạt tính sinh học như cordycepin, D-mannitol, polysaccharide... Trong đó, đặc biệt có selen - một nguyên tố vi lượng
cần thiết cho con người, là thành phần cấu tạo chính của một số enzyme như glutathione peroxidase, thioredoxin
reductase và deiodinase. Các enzyme này đóng vai trò quan trọng trong việc chống các gốc tự do, tăng cường chức
năng sinh sản, chức năng cơ và ngăn ngừa ung thư. Nghiên cứu này tiến hành chiết cao và khảo sát các hoạt tính
sinh học như kháng viêm, kháng khuẩn và ức chế enzyme α-glucosidase của các cao chiết từ sinh khối O. sinensis
giàu selen. Kết quả cho thấy, cao Bu (cao chiết bằng n-butanol); cao tổng và cao EtOAc (chiết bằng ethyl acetate)
có khả năng kháng khuẩn S. sonnei ở nồng độ 1000 µg/ml. Đồng thời, hoạt tính kháng viêm thể hiện tốt ở cao tổng,
cao petrolium ether (cao PE) và cao EtOAc với IC
50
lần lượt là 195,58±7,89; 64,19±0,22; 469,27±16,57 (µg/ml). Tuy
nhiên, các cao chiết không có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase. Nghiên cứu này cho thấy, các cao chiết từ sinh
khối O. sinensis giàu selen có hoạt tính kháng viêm rất tốt, làm tiền đề cho các nghiên cứu trên mô hình in vivo.
Từ khóa: hoạt tính kháng khuẩn, hoạt tính kháng viêm, hoạt tính ức chế α-glucosidase, Ophiocordyceps sinensis,
selen.
Chỉ số phân loại: 1.6
*Tác giả liên hệ: Email: dangkhoanguyenhoang1912@gmail.com
2062(8) 8.2020
Khoa học Tự nhiên
Đại học Đà Lạt.
Sinh khối đối chứng (ĐC) là sinh khối O. sinensis nuôi cấy
không bổ sung Se của cùng chủng O. sinensis.
Phương pháp chiết cao
Sử dụng ethanol 96% chiết theo phương pháp ngấm kiệt
để hòa tan các hợp chất có trong nấm O. sinensis giàu selen.
Sinh khối khô được xay nhỏ, bổ sung ethanol 96° cho ngập
nguyên liệu, ngâm trong 24 giờ, sau đó mở van chiết thu nhận
cao chiết đến khi chiết kiệt chất. Thu dịch chiết, sau đó cô
quay chân không loại dung môi và thu được cao tổng. Cao
tổng được chiết phân đoạn theo nguyên tắc chiết lỏng - lỏng
bằng cách hòa tan vào nước, sau đó lắc trong bình lóng với các
dung môi có độ phân cực tăng dần để thu các cao phân đoạn là
cao petrolium ether (cao PE), cao ethtyl acetate (cao EtOAc),
cao n-butanol (cao Bu) và cao nước. Cao poly (cao CPS) được
chiết bằng nước nóng từ bã sinh khối sau khi chiết cao tổng
[9]. Polysaccharide nội bào (IPS) thu nhận bằng cách chiết sinh
khối nấm bằng nước nóng ở 60°C trong 2 giờ, lặp lại 3 lần, dịch
chiết sau đó được tủa với ethanol tuyệt đối lạnh theo tỷ lệ 1:4
(v/v) thu kết tủa là IPS [10]. Bên cạnh đó, dịch nuôi cấy thu
được sau khi thu sinh khối được cô quay để giảm thể tích, sẽ
được tủa với ethanol tuyệt đối lạnh theo tỷ lệ 1:4 (v/v) thu tủa
là polysaccharide ngoại bào (EPS) [11].
Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng viêm
Hoạt tính kháng viêm được đánh giá thông qua khảo sát ức
chế biến tính albumin trên mô hình in vitro của Trần Quốc Tuấn
và cs (2014) [12] với chứng dương là diclofenat. Hút 2 ml đệm
acetate 0,025 M (pH 5,5), bổ sung thêm 1 ml albumin huyết
thanh bò 0,16% và 1 ml cao chiết ở các nồng độ 93,75; 187,5;
375; 750; 1500 μg/ml, sau đó ủ ở 37°C trong 30 phút. Đun cách
thủy ở 67°C trong 3 phút, làm lạnh rồi đo mật độ quang ở bước
sóng 660 nm. Theo đó % ức chế = [(OD
c
-OD
m
)×100]/OD
c
,
trong đó OD
c
: mật độ quang của mẫu trắng (thay cao chiết bằng
đệm); OD
m
: mật độ quang của mẫu. Sau đó, xây dựng phương
trình tương quan tuyến tính (y=ax+b) giữa % ức chế và nồng
độ mẫu, xác định giá trị IC
50
(là nồng độ mà tại đó 50% protein
bị biến tính).
Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng khuẩn
Quy trình khảo sát hoạt tính kháng khuẩn được tham
khảo theo Reis và cs (2013) [13]. Vi khuẩn Samonella typhi
(Sal), Escherichia coli (EC), Escherichia coli kháng kháng
sinh (EC5), Pseudomonas aeruginosa (Pa), Pseudomonas
aeruginosa kháng kháng sinh (Pa1), Shigella sonnei (SS),
Staphylococcus aureus (Sa3), Enterococcus faecalis (Ef),
Enterococcus faecium (Efa), Enterococcus faecium kháng
kháng sinh (Efa1) được nuôi cấy trong môi trường NA (Nutrient
agar) cho tới khi đạt mật độ 106 cfu/ml. Trải 100 µl dịch vi
khuẩn trên đĩa petri chứa 25 ml môi trường MHA (Mueller-
Hinton agar) vô trùng, để khô, sau đó đục các lỗ thạch đường
kính 4 mm. Cho 100 µl dịch cao chiết ở nồng độ 1000 µg/ml
vào mỗi lỗ thạch, ủ 37°C trong vòng 18-24 giờ, đọc kết quả và
In vitro evaluation
of α-glucosidase inhibitory,
anti-inflammatory and antibacterial
activities of selenium enriched
Ophiocordyceps sinensis
Quoc Phong Le1, 2, Hoang Dang Khoa Nguyen3*,
Tu Quyen Dang3, Tai Hoang Nguyen4,
Minh Hiep Dinh5, Ke Suong Ngo2
1Graduate University of Science and Technology, Ha Noi
2Institute of Tropical Biology, Ho Chi Minh city
3University of Science, Vietnam National University, Ho Chi Minh city
4Center of Research and Application Biology, Ho Chi Minh city
5Management Board of Agricultural Hi-Tech Park, Ho Chi Minh city
Received 3 March 2020; accepted 1 June 2020
Abstract:
Ophiocordyceps sinensis (O. sinensis) - commonly
known as Dong Chong Xia Cao, is a valuable medicinal
fungus containing many bioactive compounds such as
cordycepin, D-mannitol, polysaccharide, etc. While
selenium is an essential trace element for humans, it is
the main component of some enzymes such as glutathione
peroxidase, thioredoxin reductase, and deiodinase which
play an important role in scavenging free radicals,
enhancing reproductive and muscle function, and
preventing cancer. Several studies have shown that
inorganic selenium added to O. sinensis culture can be
converted into a beneficial organic form, which increases
the value for the fungus. In this study, extracts from
Se-enriched O. sinensis were evaluated some biological
activities such as anti-inflammatory, antibacterial,
and α-glucosidase inhibition. Results showed that Bu
extract (extracted by n-butanol), crude extract, and
EtOAc extract (extracted by ethyl acetate) can resist
to S. sonnei at a concentration of 1000 µg/ml. Besides,
the anti-inflammatory activity was stronger in crude
extract, PE extract, and EtOAc extracts with IC
50
values
were 195.58±7.89; 64.19±0.22; 469.27±16.57 (µg/ml),
respectively. However, all extracts had no ability to
inhibit α-glucosidase. This study exhibited that extracts
from Se-enriched O. sinensis have an admirable
anti-inflammatory activity, which is a prerequisite for in
vivo model research.
Keywords: antibacterial activity, anti-inflammatory
activity, Ophiocordyceps sinensis, selenium, α-glucosidase
inhibitors.
Classification number: 1.6
2162(8) 8.2020
Khoa học Tự nhiên
đo đường kính vòng kháng khuẩn.
Phương pháp khảo sát hoạt tính ức chế α-glucosidase
Quy trình khảo sát dựa trên phương pháp của Vũ Thị Bạch
Phượng và cs (2016) [14] với arcabose làm chứng dương. Hút
50 µl cao chiết ở các nồng độ cần thử nghiệm, bổ sung thêm
40 µl α-glucosidase 0,05 UI/ml, sau đó ủ ở nhiệt độ phòng
trong 20 phút. Bổ sung thêm 40 µl pNPG (p-Nitrophenyl-α-
D-glucopyranoside) 5 mM, tiếp tục ủ ở nhiệt độ 37°C trong 20
phút. Dừng phản ứng bằng 130 µl Na2CO3 0,2 M rồi tiến hành
đo OD ở bước sóng 405 nm. Khảo sát được thực hiện trên đĩa
96 giếng và đo mật độ quang bằng máy Perkin Elmer VICTOR
X3, Mỹ. Khả năng ức chế α-glucosidase được tính theo công
thức % ức chế = 100%×[(OD
thử không
-OD
so màu thử không
)-(OD
mẫu
-
OD
so màu mẫu
)]/(OD
thử không
-OD
so màu thử không
). Trong đó thử không và
so màu lần lượt là lô thí nghiệm thay mẫu và enzyme bằng đệm
phosphat (0,1 M, pH 6,9).
Xử lý số liệu
Các kết quả được lặp lại 3 lần và tính giá trị trung bình. Xử
lý số liệu bằng phần mềm Excel 2016 và GraphPad Prism 8.
Kết quả được trình bày ở dạng trung bình±độ lệch chuẩn.
Kết quả và bàn luận
Hiệu suất chiết cao
Cao tổng được chiết từ bột sinh khối O. sinensis giàu
Se, sau đó bã cao chiết được chiết cao CPS. Các cao phân
đoạn được chiết phân đoạn từ 50% khối lượng cao tổng.
Hiệu suất chiết cao được thể hiện ở hình 1 thông qua % giữa
khối lượng cao chiết thu được và khối lượng sinh khối đã
chiết cao.
Ngoài ra, EPS thu được từ môi trường nuôi cấy ở nhóm
giàu Se và ĐC có hàm lượng lần lượt là 1,62 và 2,55 g/l.
Hình 1. Hiệu suất chiết cao từ sinh khối nấm O. sinesis giàu Se
và nhóm ĐC.
Hiệu suất chiết cao tổng và IPS ở nhóm Se và ĐC đều có
hiệu suất cao nhất (cao tổng lần lượt là 12,65 và 11,40%, IPS
lần lượt là 16,82 và 8,14%). Trong khi đó, ở cả hai nhóm, hiệu
suất của cao Bu (1,22; 0,98%) và cao EtOAc (0,46; 0,29%) là
rất thấp nhất. Trong các cao phân đoạn, hiệu suất của cao nước
là khá cao.
Kết quả khảo sát kháng khuẩn
Nghiên cứu được thực hiện trên các đối tượng vi khuẩn Gram
âm: Samonella typhi (Sal), Escherichia coli (EC), Escherichia
coli kháng kháng sinh (EC5), Pseudomonas aeruginosa (Pa),
Pseudomonas aeruginosa kháng kháng sinh (Pa1), Shigella
sonnei (SS); vi khuẩn Gram dương: Staphylococcus aureus
(Sa3), Enterococcus faecalis (Ef), Enterococcus faecium (Efa),
Enterococcus faecium kháng kháng sinh (Efa1) và được đánh
giá thông qua đường kính vòng vô khuẩn. Đường kính càng lớn
thể hiện khả năng kháng khuẩn càng cao.
DMSO 20% được sử dụng làm chứng âm và kết quả cho
thấy không xuất hiện vòng kháng khuẩn nên sử dụng DMSO
20% để hòa tan các cao ở các dung môi khác nhau sẽ không gây
ảnh hưởng đến kết quả kháng khuẩn [15]. Tại nồng độ 1000 µg/
ml cao chiết trên các đĩa khuẩn Sal, EC, EC5, Pa, Pa1, Sa3, Ef,
Efa và Efa1 không thấy xuất hiện vòng kháng khuẩn. Trên đĩa
khuẩn S. Sonnei, các cao chiết như cao Bu, cao EtOAc và cao
tổng có xuất hiện vòng tan nhỏ và đường kính lần lượt là 10, 9
và 8 mm. Kết quả này được thể hiện ở hình 2.
Kết quả khảo sát kháng khuẩn
DMSO 20% đư ợc sử dụng làm chứng âm và kết quả cho thấy không xuất hiện vòng
kháng khuẩn nên sử dụng DMSO 20% đ ể hòa tan các cao ở các dung môi khác nhau sẽ
không gây ảnh hưởng đến kết quả kháng khuẩn [15]. Tại nồng độ 1000 µg/ml cao chiết
trên các đĩa khuẩn Sal, EC, EC5, Pa, Pa1, Sa3, Ef, Efa và Efa1 không thấy xuất hiện vòng
kháng khuẩn. Trên đĩa khuẩn S. Sonnei, các cao chiết như cao Bu, cao EtOAc và cao tổng
có xuất hiện vòng tan nhỏ và đường kính lần lượt là 10, 9 và 8 mm. Kết quả này được thể
hiện ở hình 2.
e f
hg
j
j
j
j
i
Hình 2. Khả năng kháng khuẩn của cao chiết O. sinensis giàu se
trên các vi khuẩn: Efa (a); Efa 1 (b); Sal (c); Pa1 (d); Pa (e); Sa3 (f);
EC (g); EC5 (h); Ef (i); SS (j). (1) Cao IPS, (2) Cao H2O, (3) Cao Bu,
(4) EPS, (5) Cao tổng, (6) Cao PE, (7) Cao EtOAc, (8) CPS, (9) Chứng
âm DMSO 20%.
1000 µg/ml vào mỗi lỗ thạch, ủ 37C trong vòng 18-24 giờ, đọc kết quả và đo đường kính
vòng kháng khuẩn.
Phương pháp khảo sát hoạt ính ức chế -glucosidase
Quy trình khảo sát dựa trên phương pháp của Vũ Th ị Bạch Phượng và cs (2016)
[14] với arcabose làm chứng dương. Hút 50 µl cao chiết ở các nồng độ cần thử ng iệm,
bổ sung thêm 40 µl -glucosidase 0,05 UI/ml, sau đó ủ ở nhiệt độ phòng trong 20 phút.
Bổ sung thêm 40 µl pNPG (p-Nitrophenyl-α-D-glucopyranoside) 5 mM, tiếp tục ủ ở nhiệt
độ 37 C trong 20 phút. Dừng phản ứng bằng 130 µl Na2CO3 0,2 M rồi tiến hành đo OD ở
bước sóng 405 nm. Khảo sát được thực hiện trên đĩa 96 giếng và đo mật độ quang bằng
máy Perkin Elmer VICTOR X3, Mỹ. Khả ăng ức chế -gl cosidase được tính theo công
thức % ức chế = 100%×[(ODthử không-ODso màu thử không)-(ODmẫu-ODso màu mẫu)]/(ODthử không-
ODso màu thử khô g). Trong đó thử không và so màu lần lượt là lô thí nghiệm thay mẫu và
enzyme bằng đệm phosphat (0,1 M, pH 6,9).
Xử lý số liệu
Các kết quả được lặp lại 3 lần và tính giá trị trung bình. Xử lý số liệu bằng phần
mềm Excel 2016 và GraphPad Prism 8. Kết quả được trình bày ở dạng trung bình±độ lệch
chuẩn.
Kết quả và bàn luận
Hiệu suất chiết cao
Cao tổng được chiết từ bột sinh khối O. sinensis giàu Se, sau đó bã cao chiết được
chiết cao CPS. Các cao phân đoạn được chiết phân đoạn từ 50% khối lư ợng cao tổng.
Hiệu suất chiết cao được thể hiện ở hình 1 thông qua % giữa khối lư ợng cao chiết thu
được và khối lư ợng sinh khối đã chiết cao.
Ngoài ra, EPS thu được từ môi trường nuôi cấy ở nhóm giàu selen (Se) và đối chứng
(ĐC ) có hàm lượng lần lượt là 1,62 và 2,55 g/l.
Hiệu suất chiết cao tổng và IPS ở nhóm Se và ĐC đều có hiệu suất cao nhất (cao
tổng lần lượt là 12,65 và 11,40%, IPS lần lượt là 16,82 và 8,14%). Trong khi đó, ở cả hai
nhóm, hiệu suất của cao Bu (1,22; 0,98%) và cao EtOAc (0,46; 0,29%) là rất thấp nhất.
Trong các cao phân đoạn, hiệu suất của cao nước là khá cao.
0,00
2,00
4,00
6,00
8,00
10,00
12,00
14,00
16,00
18,00
Cao tổng Cao PE Cao
EtOAc
Cao Bu Cao nước Cao CPS IPS
H
iệ
u
su
ất
(
%
)
Cao chiết
Se ĐC
2262(8) 8.2020
Khoa học Tự nhiên
Kết quả khảo sát kháng viêm
Quá trình viêm trong cơ thể sẽ giải phóng các chất trung
gian, các chất này làm nhiệt độ cơ thể tăng, gây biến tính các
loại protein trong cơ thể thông qua các liên kết của protein như
liên kết hydro, liên kết ion, lực Van der Waals và tương tác tĩnh
điện [16]. Thông qua khả năng bảo vệ protein khỏi sự biến tính
do nhiệt có thể đánh giá khả năng kháng viêm của cao chiết
[12].
Chứng dương diclofenac có giá trị IC
50
là 49,41±0,68 (µg/
ml). Kết quả hoạt tính kháng viêm được đánh giá thông qua giá
trị IC
50
của các cao chiết được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1. Giá trị IC50 của các cao chiết trong khảo sát hoạt tính
kháng viêm.
Mẫu
IC
50
(µg/ml)
O. sinensis giàu Se O. sinensis ĐC
Cao tổng 195,58±7,89 858,04±4,58
Cao PE 64,19±0,22 199,5±15,35
Cao EtOAc 469,27±16,57 810,51±15,17
Cao Bu >1500 >1500
Cao H2O >1500 >1500
Cao CPS 1259,28±46,20 -
Cao IPS 1280,33±135,22 >1500
Cao EPS >1500 1022,40±53,45
Diclofenac 49,41±0,68
Ghi chú: >1500: IC50 có giá trị >1500 µg/ml, (-): chưa khảo sát.
Kết quả cho thấy, giá trị IC
50
của nhóm giàu Se thấp hơn nhóm đối
chứng. Trong đó, hoạt tính kháng viêm thể hiện tốt nhất ở các cao PE,
cao tổng và cao EtOAc ở cả 2 nhóm. Bên cạnh đó, các cao Bu và cao
H2O cho thấy hoạt tính kháng viêm rất thấp ở cả 2 nhóm (IC50>1500
µg/ml).
Kết quả khảo sát ức chế enzyme α-glucosidase
Trong nghiên cứu này, arcarbose được làm chứng dương với giá trị
IC
50
=2134±82 (µg/ml). Các cao chiết được khảo sát hoạt tính ức chế
α-glucosidase ở các nồng độ 5000, 500 và 50 µg/ml với % ức chế của
các cao chiết được thể hiện ở bảng 2.
Ở cả 2 nhóm nấm, % ức chế enzyme tăng dần theo nồng độ
khảo sát nhưng giá trị này <50% nên không tính được giá trị
IC
50
. Trong đó, % ức chế enzyme cao nhất là ở cao EtOAc, đạt
23,76% ở nhóm giàu Se và 12,8% ở nhóm đối chứng tại nồng
độ 5000 µg/ml. Kết quả này cho thấy, nấm O. sinensis không
thể hiện hoạt tính ức chế α-glucosidase.
Bàn luận
Hiệu suất chiết cao khác nhau ở từng phân đoạn cho thấy,
sinh khối nấm O. sinensis giàu Se và nhóm O. sinensis đối
chứng có hàm lượng các hợp chất khác nhau giữa các phân
đoạn cao. Bên cạnh đó, ngoại trừ cao nước, hiệu suất chiết
cao của tất cả các cao chiết khác nhóm Se đều cao hơn nhóm
đối chứng, điều đó chứng minh việc bổ sung Se vào quá trình
nuôi cấy có thể làm gia tăng sự sinh tổng hợp các chất trong
O. Sinensis. Điều này phù hợp với nghiên cứu của Zheng và
cs (2014) [6]. Ở cả hai nhóm, hiệu suất của cao Bu (3,85 và
1,67%) và cao EtOAc (0,46 và 0,29%) là rất thấp, điều này
chứng tỏ các hợp chất có độ phân cực trung bình có hàm lượng
rất thấp trong sinh khối O. sinensis. Dựa vào hiệu suất chiết cao
phân đoạn, ta thấy hiệu suất chiết cao nước ở cả 2 nhóm đều
cao hơn những cao phân đoạn còn lại. Điều này chứng tỏ, sinh
khối O. sinensis ở cả 2 nhóm đều chứa nhiều hợp chất có độ
phân cực cao. Hiệu suất thu nhận IPS khá cao, kết quả này là
hợp lý vì theo nhiều nghiên cứu, polysaccharide là thành phần
chiếm hàm lượng rất lớn trong nấm O. Sinensis [17].
Khả năng kháng khuẩn của các cao chiết từ sinh khối nấm
O. sinensis không quá cao. Tuy nhiên, kết quả này còn phụ
thuộc vào chủng vi khuẩn. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu
vẫn cho thấy khả năng kháng khuẩn của O. sinensis tập trung
ở một số cao như cao Bu và EtOAc. Một số nghiên cứu trước
đây cũng đã cho thấy kết quả tương tự ở một số loài Cordyceps
Bảng 2. Khả năng ức chế α-glucosidase của các cao chiết.
Mẫu
% ức chế enzyme
α-glucosidase
50
(µg/ml)
500
(µg/ml)
5000
(µg/ml)
Nấm O. sinensis giàu Se
Cao EtOH -8,25 -2,81 5,25
Cao PE -2,76 1,18 9,12
Cao EtOAc 0,91 4,60 23,76
Cao n-BuOH -0,37 0,55 3,08
Cao H2O 0,12 2,21 5,41
Cao CPS 0,73 4,82 6,72
Cao IPS 5,38 12,06 4,25
Cao EPS 2,73 1,09 3,22
Nấm O. sinensis
ĐC
Cao EtOH 1,00 -3,65 -3,41
Cao PE -9,90 2,66 3,53
Cao EtOAc -0,15 1,69 12,80
Cao n-BuOH -0,35 1,75 1,13
Cao H2O -3,02 -4,64 -2,85
Cao CPS - - -
Cao IPS 3,14 -0,5 1,07
Cao EPS -0,74 4,44 -3,10
Chú thích: (-) chưa khảo sát.
2362(8) 8.2020
Khoa học Tự nhiên
khác. Theo Tuli và cs (2014) [18], các hợp chất từ cao Bu ở
nấm C. militaris 3936 đem lại khả năng kháng khuẩn cao khi
thử nghiệm với vi khuẩn gram âm K. pneumoniae với đường
kính vòng kháng khuẩn đạt 16 mm, cao hơn cao nước khá nhiều
(đường kính vòng kháng khuẩn 10 mm). Ngoài ra, Dong và cs
(2014) [19] đã chứng minh cao chiết từ sinh khối C. militaris
nuôi cấy nhân tạo gần như không có hoạt tính kháng khuẩn
với một số chủng vi khuẩn được thử nghiệm như B. subtilis, P.
aeruginosa nhưng cao chiết từ quả thể của loài nấm thì lại thể
hiện hoạt tính khá tốt.
Dựa vào kết quả hoạt tính kháng viêm, có thể thấy sự ức chế
biến tính albumin của hầu hết các cao chiết của nhóm nấm giàu
Se cao hơn nhóm đối chứng, đặc biệt ở cao PE, cao EtOAc và
cao EtOH có khả năng kháng viêm lần lượt tăng 3,1;1,73; 4,39
lần so với đối chứng. Như vậy, việc bổ sung Se vào môi trường
nuôi cấy có thể làm tăng khả năng kháng viêm của nấm O.
sinensis. Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh các
hợp chất chứa Se có khả năng kháng viêm tốt như các loại acid
carboxylic (acid methyl-seleno-2-benzoic, acid acetylseleno-2-
benzoic) và các loại benzisoselenazolones [20, 21]. Các nhóm
cao thể hiện hoạt tính tốt là cao PE < cao tổng < cao EtOAc
ở cả lô O. sinenis giàu Se và lô đối chứng. Điều này chứng
tỏ các hoạt chất có khả năng kháng viêm cao có độ phân cực
thấp và trung bình nên tập trung nhiều vào 2 phân đoạn PE và
EtOAc. Wu và cs (2007) [22] đã xác định trong cao EtOAc của
Cordyceps sinensis có các hợp chất như adenosin, cordycepin
và ergosterol, được biết đến như các hợp chất có khả năng điều
trị viêm. Yang và cs (2011) [23] cho thấy, ở các cao hexane, cao
MeOH và cao EtOAc của O. sinensis có hoạt tính kháng viêm
cao thông qua thử nghiệm elastase với % ức chế lần lượt là
70,76; 94,99 và 97,49% ở nồng độ 10 µg/ml, trong khi đó cao
nước có hoạt tính rất thấp với % ức chế là 3,94%.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy khả năng ức chế enzyme
α-glucosidase của các cao chiết khá thấp. Trong đó, % ức chế
enzyme cao nhất là ở cao EtOAc, đạt 23,76% ở nhóm giàu Se
và 12,8% ở nhóm đối chứng tại nồng độ 5000 µg/ml. Trước
đây, nghiên cứu của Nguyen và cs (2017) [24] khảo sát hoạt
tính ức chế α-glucosidase từ các cao chiết ở nấm Cordyceps
neovolkiana cho thấy, mặc dù không tính được giá trị IC
50
nhưng khả năng ức chế tốt nhất cũng là trên cao phân đoạn
EtOAc. Các giá trị âm xuất hiện, điều này có thể do các hợp
chất kị nước như lipid, acid béo và các hợp chất sterol trong
Cordyceps giúp hỗ trợ cho việc hình thành trung tâm hoạt động
của α-glucosidase [25]. Ophiocordyceps sinensis được chứng
minh có thể điều hòa lượng glucose trong máu bằng cách tăng
cường tổng hợp insulin, qua đó điều hòa chỉ số insulin - glucose
trong máu [26]. Như vậy có thể thể thấy, cơ chế hỗ trợ điều trị
đái tháo đường của loài nấm này không phải do ức chế enzyme
α-glucosidase.
Kết luận
Dựa vào kết quả khảo sát, ta thấy hiệu suất chiết của các cao
chiết từ nấm O. sinensis giàu Se cao hơn nhóm đối chứng. Tại
nồng độ 1000 µg/ml, các cao n-BuOH, cao EtOH và EtOAc
cho thấy khả năng kháng vi khuẩn S. sonnei. Hoạt tính kháng
viêm của các cao chiết từ nấm O. sinensis giàu selen cao hơn
nhóm đối chứng, đặc biệt là ở các cao EtOH, EtOAc và cao PE.
Các cao chiết không có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase.
Để đánh giá rõ hơn về hoạt tính của nấm O. sinensis giàu
Se, trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục khảo sát thêm một
số hoạt tính sinh học khác như kháng oxy hóa, bảo vệ DNA, ức
chế xanthine oxidase.
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi cảm ơn Học viện KH&CN, Viện Sinh học Nhiệt
đới TP Hồ Chí Minh và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
- Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận
lợi cho nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài. Chúng tôi cũng xin
cảm ơn TS Trương Bình Nguyên đã cung cấp chủng nấm O.
sinensis cho nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] M.P. Rayman (2012), “Selenium and human health”, The Lancet,
379(9822), pp.1256-1268.
[2] K. Schwarz, and C.M. Foltz (1957), “Selenium as an integral part
of factor 3 against dietary necrotic liver degeneration”, Journal of the
American Chemical Society, 79(12), pp.3292-3293.
[3] E.R. Monsen (2000), “Dietary reference intakes for the antioxidant
nutrients: vitamin C, vitamin E, selenium, and carotenoids”, Journal of
the Academy of Nutrition and Dietetics, 100(6), pp.637-640.
[4] S.Y. Fung, S.S. Lee, N.H. Tan, J. Pailoor (2017), “Safety assessment
of cultivated fruiting body of Ophiocordyceps sinensis evaluated through
subacute toxicity in rats”, Journal of Ethnopharmacology, 206, pp.236-
244.
[5] H.C. Lo, C. Hsieh, F.Y. Lin, T.H. Hsu (2013), “A systematic
review of the mysterious caterpillar fungus Ophiocordyceps sinensis
in DongChongXiaCao (冬蟲夏草 Dōng Chóng Xià Cǎo) and related
bioactive ingredients”, Journal of Traditional and Complementary
Medicine, 3(1), pp.16-32.
[6] L. Zheng, L. Hao, H. Ma, C. Tian, T. Li, X. Sun, M. Jia, L. Jia
(2014), “Production and in vivo antioxidant activity of Zn, Ge, Se-
enriched mycelia by Cordyceps sinensis SU-01”, Current Microbiology,
69(3), pp.270-276.
[7] S. Yang, and H. Zhang (2016), “Production of intracellular
selenium-enriched polysaccharides from thin stillage by Cordyceps
sinensis and its bioactivities”, Food & Nutrition Research, 60(1),
pp.30153.
[8] Trần Minh Trang, Đinh Minh Hiệp, Lê Quốc Phong và Phạm
Tiến Dũng (2016), “Nghiên cứu khả năng hấp thu selen của nấm
Ophiocordyceps sinensis trong nuôi cấy lỏng”, Tạp chí Phát triển Khoa
học và Công nghệ, 19(6T), tr 53-61.
[9] Nguyễn Kim Phi Phụng (2007), Phương pháp cô lập các hợp chất
hữu cơ, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.
[10] S.P. Li, K.J. Zhao, Z.N. Ji, Z.H. Song, T.T. Dong, C.K. Lo,
J.K. Cheung, S.Q. Zhu, K.W. Tsim (2003), “A polysaccharide isolated
from Cordyceps sinensis, a traditional Chinese medicine, protects PC12
cells against hydrogen peroxide-induced injury”, Life Sciences, 73(19),
pp.2503-2513.
2462(8) 8.2020
Khoa học Tự nhiên
[11] W. Zhang, J. Yang, J. Chen, Y. Hou, X. Han (2005),
“Immunomodulatory and antitumour effects of an exopolysaccharide
fraction from cultivated Cordyceps sinensis (Chinese caterpillar fungus)
on tumour‐bearing mice”, Biotechnology and Applied Biochemistry,
42(1), pp.9-15.
[12] Trần Quốc Tuấn, Lê Thị Oanh, Đinh Minh Hiệp và Ngô Đại
Nghiệp (2014), “Chuẩn hóa mô hình sàng lọc in vitro các hợp chất kháng
viêm dựa trên khả năng ức chế biến tính albumin bò do nhiệt”, Tạp chí
Khoa học và Công nghệ, 52(5B), tr.532-538.
[13] F.S. Reis, L. Barros, R.C. Calhelha, A. Ćirić, L.J. Van Griensven,
M. Soković, I.C. Ferreira (2013), “The methanolic extract of Cordyceps
militaris (L.) Link fruiting body shows antioxidant, antibacterial,
antifungal and antihuman tumor cell lines properties”, Food and Chemical
Toxicology, 62, pp.91-98.
[14] Vũ Thị Bạch Phượng, Hoàng Thị Thanh Minh, Phạm Thị Ánh
Hồng và Quách Ngô Diễm Phương (2016), “Khảo sát hoạt tính sinh học
và nghiên cứu cảm ứng tạo rễ tơ cây cối xay Abutilon indicum (L.)”, Tạp
chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, 19(T5), tr.95-102.
[15] R. Brito, G. Silva, T. Farias, P. Ferreira, S. Ferreira (2017),
“Standardization of the safety level of the use of DMSO in viability
assays in bacterial cells”, International Conference on Multidisciplinary
Sciences, 3, DOI:10.3390/mol2net-03-xxxx.
[16] M. Shashidhar, P. Giridhar, K.U. Sankar, B. Manohar (2013),
“Bioactive principles from Cordyceps sinensis: a potent food supplement
- a review”, Journal of Functional Foods, 5(3), pp.1013-1030.
[17] P.H. Leung, S. Zhao, K.P. Ho, J.Y. Wu (2009), “Chemical
properties and antioxidant activity of exopolysaccharides from mycelial
culture of Cordyceps sinensis fungus Cs-HK1”, Food Chemistry, 114(4),
pp.1251-1256.
[18] H.S. Tuli, S. Sandhu, D. Kashyap, A.K. Sharma (2014),
“Optimization of extraction conditions and antimicrobial potential of a
bioactive metabolite, cordycepin from Cordyceps militaris 3936”, World
Journal of Pharmacy and Pharmaceutical Sciences, 3, pp.1525-1535.
[19] C. Dong, T. Yang, T. Lian (2014), “A comparative study of
the antimicrobial, antioxidant, and cytotoxic activities of methanol
extracts from fruit bodies and fermented mycelia of caterpillar medicinal
mushroom Cordyceps militaris (Ascomycetes)”, International Journal of
Medicinal Mushrooms, 16(5), pp.485-495.
[20] M.J. Parnham, and E. Graf (1991), “Pharmacology of synthetic
organic selenium compounds”, Progress in Drug Research, Springer,
pp.9-47.
[21] A.M. Peretz, J.D. Nève, J.P.P. Famaey (1991), “Selenium in
rheumatic diseases”, Seminars in Arthritis and Rheumatism, 20(5),
pp.305-316.
[22] J.Y. Wu, Q.X. Zhang, P.H. Leung (2007), “Inhibitory effects of
ethyl acetate extract of Cordyceps sinensis mycelium on various cancer
cells in culture and B16 melanoma in C57BL/6 mice”, Phytomedicine,
14(1), pp.43-49.
[23] M.L. Yang, P.C. Kuo, T.L. Hwan, T.S. Wu (2011), “Anti-
inflammatory principles from Cordyceps sinensis”, Journal of Natural
Products, 74(9), pp.1996-2000.
[24] C.D. Nguyen, T. Huynh, M.H. Dinh (2017), “Screening for some
biological activities of cultured Cordyceps neovolkiana”, Science and
Technology Development Journal, 20(K3), pp.106-112.
[25] Y. Wang, L. Ma, Z. Li, Z. Du, Z. Liu, J. Qin, X. Wang, Z.
Huang, L. Gu, A.S. Chen (2004), “Synergetic inhibition of metal ions and
genistein on α-glucosidase”, FEBS Letters, 576(1-2), pp.46-50.
[26] T.W. Balon, A.P. Jasman, J.S. Zhu (2002), “A fermentation
product of Cordyceps sinensis increases whole-body insulin sensitivity
in rats”, The Journal of Alternative & Complementary Medicine, 8(3),
pp.315-323.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_hoat_tinh_khang_viem_khang_khuan_va_uc_che_enzyme_g.pdf