Nhiệt độ bắt cặp Tm được tính theo công thức:
Tm = 4(G+C) + 2(A + T), theo đó nhiệt độ bắt cặp lý
thuyết của cả 2 mồi xuôi và mồi ngược đều 62ºC.
Cặp mồi sau đó đã được kiểm tra bằng PCR cho 2
mẫu nghiên cứu SM02, BLC03 (M. bealei), và 4 mẫu đối
chứng gồm B1 (B. hypoxantha), SB01 (B. julianae), DL02
(M. klossii) và C307 (M. jingxiensis). Phản ứng trùng hợp
(PCR) khuếch đại gen ITS-300 được thực hiện với 35 chu
kỳ, bắt cặp ở 58ºC trong 30 giây.
Kết quả PCR sau đó được kiểm tra trên gel agarose 1%
cho thấy 2 mẫu M. bealei (SM02 và BLC03) đều cho một
vạch sắc nét có kích thước ≈300 bp, trong khi 4 mẫu đối
chứng (gồm B1, SB01, DL02 và C307) đều không có vạch
(hình 7). Điều đó cho thấy, khả năng cặp mồi ITS-300 là đặc
hiệu cao cho loài M. bealei. Sản phẩm PCR này sau đó đã
được đọc trình tự và kết quả so sánh trên BLAST cho thấy
đây đúng là đoạn gen ITS của loài M. bealei. Trình tự đoạn
gen ITS-300 này của loài M. bealei đã được chúng tôi đăng
ký lên Genbank và được cấp mã số là MT 008067.
Nghiên cứu của Y.D. Kim và cs năm 1996 [12] (dựa trên
trình tự vùng gen rbcL, ITS) và nghiên cứu năm 2004 [13]
(dựa trên trình tự gen ndhF) đều cho thấy, chi Berberis và
Mahonia tách thành 2 nhóm riêng biệt dù có quan hệ rất
gần gũi với nhau. Trong nghiên cứu này của chúng tôi, dựa
trên phân tích trình tự vùng gen ITS cũng cho thấy mặc
dù khoảng cách di truyền trung bình giữa các loài của chi
Berberis và Mahonia chỉ là 0,0236 nhưng chúng vẫn sắp
xếp thành các nhóm riêng rẽ, điều này hoàn toàn phù hợp
với các nghiên cứu về hình thái và phân tử trước đó.
Việc phát triển cặp mồi khuếch đại được vùng gen ITS
đặc hiệu sẽ giúp cho công tác giám định loài Hoàng liên ô
rô lá dày ở Việt Nam trở nên nhanh chóng, bởi xác định loài
với thông tin chính xác là một trong những chìa khóa để cải
thiện công tác quản lý và bảo tồn loài [14].
Kết luận
Kết quả phân tích trình tự gen ITS loài M. bealei cho thấy
vùng gen này không chỉ được sử dụng hiệu quả như một mã
vạch để xác định các loài thuộc chi Mahonia, mà còn là
vùng gen rất hữu ích cho phân tích phát sinh chủng loại các
loài thuộc họ Berberidaceae nói chung, chi Mahonia nói
riêng.
Việc phát triển cặp mồi khuếch đại vùng gen ITS dài 300
bp đặc hiệu của loài M. bealei góp phần đưa ra phương pháp
nhanh chóng và chính xác để xác định loài này, đây là vấn
đề rất hữu ích, góp phần quan trọng cho công tác bảo tồn
nguồn gen một loài dược liệu quý.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá khả năng phân loại của vùng gen ITS-RDNA đối với loài Hoàng liên ô rô lá dày (Mahonia bealei (Fortune) Pynaert), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1262(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
Mở đầu
Hoàng liên ô rô lá dày hay còn gọi là hoàng mộc, hoàng
liên ô rô, hoàng bá gai, mật gấu là loài cây bụi thường
xanh, cao 2-3 m, thuộc chi Mã hồ (Mahonia Nutt., 1818),
họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) đã được Fortune Robert
mô tả và công bố vào năm 1850 với tên khoa học là Berberis
bealei Fortune, 1850. Đến năm 1875, Pynaert Edouard-
Christophe đã xác định lại loài này thuộc chi Mahonia và
đặt lại tên khoa học là M. bealei (Fortune) Pynaert. Đến nay,
họ Hoàng liên gai được xác định có 17 chi và gần 650 loài
[1]. Các nghiên cứu về phân bố cho thấy, các loài thuộc họ
Hoàng liên gai chủ yếu phân bố ở khu vực ôn đới phía bắc
và vùng núi á nhiệt đới. Theo Bùi Văn Hướng và cs (2017)
[2], Hoàng liên ô rô lá dày được ghi nhận ở Trung Quốc (An
Huy, Phúc Kiến, Quảng Đông) và ở Việt Nam (Lào Cai,
Hà Giang, Lai Châu).
Hoàng liên ô rô lá dày có tính thanh nhiệt, nên có tác
dụng thanh lọc và loại bỏ độc tố, được sử dụng làm thuốc
điều trị các bệnh như tiêu chảy, kiết lỵ, vàng da, viêm loét
dạ dày, áp xe, đau răng, viêm họng [3]. Trong tự nhiên, loài
này phát triển ở những nơi có lượng mùn ít như dưới các tán
rừng thưa, các trảng cây bụi hoặc sườn núi đá vôi, do vậy rất
thích hợp để sử dụng trong công tác trồng rừng ở những khu
vực nghèo dinh dưỡng hoặc địa hình hiểm trở (như ở các
vách núi). Tuy nhiên hiện nay, loài này do bị khai thác và
buôn bán quá mức nên đã bị suy giảm mạnh cả về số lượng
và chất lượng. Sách đỏ Việt Nam 2007 xếp Hoàng liên ô
rô lá dày ở mức nguy cấp (EN). Ở Việt Nam, chi Mahonia
được biết đến với 3 loài gồm, Mahonia japonica, Mahonia
bealei và Mahonia nepalensis, trong đó loài Mahonia bealei
- Hoàng liên ô rô lá dày được coi là bị đe doạ ở mức độ cao
nhất so với 2 loài còn lại do có số lượng cá thể của nó còn
rất ít trong tự nhiên [4].
Đến nay, các nghiên cứu của Việt Nam về loài này chủ
yếu chỉ tập trung vào mô tả hình thái, đặc điểm sinh học,
Đánh giá khả năng phân loại của vùng gen ITS-rDNA đối với
loài Hoàng liên ô rô lá dày (Mahonia bealei (Fortune) Pynaert)
của Việt Nam
Nguyễn Thị Phương Trang1*, Vũ Thị Huế2, Nguyễn Hùng Mạnh1, Bùi Văn Thanh1
1Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam
2Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Ngày nhận bài 28/8/2020; ngày chuyển phản biện 7/9/2020; ngày nhận phản biện 21/10/2020; ngày chấp nhận đăng 6/11/2020
Tóm tắt:
Hoàng liên ô rô lá dày (Mahonia bealei (Fortune) Pynaert) là loài dược liệu quý có nhiều giá trị sử dụng và phạm vi
phân bố hẹp, là một trong những vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền. Trong tự nhiên, loài này trước đây
khá phong phú nhưng do bị khai thác và buôn bán quá mức nên đã bị suy giảm mạnh cả về số lượng và chất lượng.
Hoàng liên ô rô lá dày được Sách đỏ Việt Nam xếp ở mức nguy cấp (EN). Hiện nay, mã vạch DNA được xem là kỹ
thuật phổ biến có tính chính xác cao trong xác định, nhận dạng loài bằng cách giải mã các đoạn DNA đặc trưng cho
loài. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích đặc điểm phân tử vùng gen ITS-rDNA và đánh giá khả năng
phân loại của vùng gen này đối với loài Hoàng liên ô rô lá dày của Việt Nam. Kết quả cho thấy, vùng gen ITS dài
700 bp có chứa 24,1% Thymine, 28,4% Guanine, 23,4% Adenine và 24,1% Cytosine, là vùng gen phù hợp, có thể
sử dụng như một mã vạch DNA để xác định loài Mahonia bealei và nghiên cứu mối quan hệ di truyền cho các loài
thuộc họ Berberidaceae. Sự khác biệt di truyền trung bình giữa chi Mahonia và Berberis dựa trên phân tích trình
tự gen ITS là 2,36%, trong khi với các chi khác là 17-22%. Cặp mồi đặc hiệu khuếch đại vùng gen ITS dài 300 bp
loài M. bealei cũng đã được phát triển và tổng hợp, góp phần hữu ích cho công tác giám định và bảo tồn loài. Trình
tự vùng gen ITS-300 của Hoàng liên ô rô lá dày cũng đã được gửi vào Ngân hàng gen thế giới (Genbank) với mã số
truy cập là MT 008067.
Từ khóa: bảo tồn nguồn gen, Hoàng liên ô rô lá dày, ITS, Mahonia bealei.
Chỉ số phân loại: 3.4
*Tác giả liên hệ: Email: nptrang@gmail.com
1362(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
sinh thái, phân bố, giá trị tài nguyên và các phương pháp
nhân giống mà chưa hề có công trình nào nghiên cứu về
đặc điểm phân tử, hệ thống học phân tử hay phát triển mồi
khuếch đại vùng gen đặc hiệu phục vụ cho công tác giám
định và bảo tồn loài.
Mã vạch DNA (DNA barcoding) là kỹ thuật hiện đại, sử
dụng đoạn DNA chứa thông tin đặc trưng cho loài để phân
biệt [5, 6]. Chúng đã trở thành công cụ hiệu quả cho công
tác phân loại loài, giám định mẫu vật, đánh giá mối quan hệ
di truyền, phát hiện loài mới, quản lý nguồn gốc, xuất xứ,
bản quyền của sản phẩm từ sinh vật [7].
Ở thực vật bậc cao, một số chỉ thị lục lạp (matK, rbcL,
psbA-trnH, atpF-atpH) và gen nhân (ITS, 18S) đã và
đang được sử dụng rộng rãi trong việc phân loại loài, nghiên
cứu về mối quan hệ di truyền và nhận dạng loài hay xác
định/lựa chọn cây giống trên cơ sở phân tích các trình tự
nucleotide.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện giải mã trình
tự nucleotide vùng gen ITS của loài Hoàng liên ô rô lá dày
phân bố ở Việt Nam, với mục tiêu là tìm hiểu về đặc điểm
phân tử cũng như đánh giá khả năng phân loại của vùng gen
này, góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về di truyền cho loài;
tiếp theo là phát triển cặp mồi đặc hiệu phục vụ cho công
tác giám định, bảo tồn nguồn gen loài Hoàng liên ô rô lá dày
của Việt Nam.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu
Hai mẫu lá loài Hoàng liên ô rô lá dày được nhóm
nghiên cứu của Phòng Dân tộc học thực vật, Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật thu tại Hà Giang năm 2018 (ký hiệu
mẫu SM02) và thu tại Bát Xát (Lào Cai) năm 2011 (ký hiệu
mẫu BLC03). Ngoài ra, 4 mẫu khác thuộc họ Berberidaceae
gồm:
- B. hypoxantha thu tại Sa Pa, Lào Cai năm 2016 (ký
hiệu mẫu B1).
- B. julianae thu tại Sa Pa, Lào Cai năm 2007 (SB01).
- M. jingxiensis thu tại Hàm Yên, Tuyên Quang năm
2018 (C307).
- M. klossii thu tại Đà Lạt, Lâm Đồng năm 2017 (DL02).
4 mẫu trên được sử dụng để làm mẫu đối chứng cũng
như để xây dựng cây phát sinh chủng loại nhằm so sánh về
khoảng cách di truyền với loài M. bealei thu tại Hà Giang
và Lào Cai.
Phương pháp nghiên cứu
Tách chiết DNA tổng số: DNA tổng số được tách chiết
theo phương pháp của J.J. Doyle và J.L. Doyle (1990) [8]
Assessment of classification
ability of ITS-rDNA region
on Mahonia bealei (Fortune)
Pynaert in Vietnam
Thi Phuong Trang Nguyen1*, Thi Hue Vu2,
Hung Manh Nguyen1, Van Thanh Bui1
1Institute of Ecology and Biological Resources, VAST
2Hanoi National University of Education
Received 28 August 2020; accepted 6 November 2020
Abstract:
Mahonia bealei is a valuable medicinal plant with high
economic value and a narrow range of distribution. It is
one of the most widely used medicinal herbs in traditional
medicine. In the past, this species was plentiful but due to
over-exploitation and trading, it has sharply declined in
both quantity and quality. At present, M. bealei is listed
on Vietnam’s Red List at the endangered level (EN).
DNA barcoding is considered a popular technique with
high accuracy for species identification by sequencing
of specific DNA fragments. In this research, the authors
studied molecular characteristics of the ITS-rDNA
region and assessed of classification ability of this DNA
marker on M. bealei in Vietnam. The result showed that
the ITS with 700 bp in length contained 24.1% Thymin,
28.4% Guanine, 23.4% Adenine, and 24.1% Cytosine.
The average genetic difference between the Mahonia
genus and Berberis genus is 2.36% while other genera
are from 17 to 22%. The result also demonstrated this
ITS-rDNA region might be suitable for identification
for Mahonia bealei as well as studying the phylogenetic
of Berberidaceae. Specific primer to amplify the ITS
genome in the length of 300 bp of M. bealei species has also
been developed and synthesised, usefully contributing to
M. bealei identification and conservation. The ITS-300
sequence of M. bealei was registered on the Genbank
with accession number MT 008067.
Keywords: Berberidaceae, gene conservation, ITS,
Mahonia bealei.
Classification number: 3.4
1462(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
(có hiệu chỉnh để phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm
của Việt Nam).
Nhân bản gen ITS bằng kỹ thuật PCR: vùng gen ITS dài
700 bp của cả 6 mẫu nghiên cứu được nhân bản bằng PCR
với cặp mồi ITS1/ITS2 (5’-CCTTATCAYTTAGAG
GAAGGAG-3’/5’-CCGCTTAKTGATATGCTTAAA-3’
[9]. Mỗi phản ứng PCR có thể tích 30 µl với các thành phần:
15 µl PCR Master mix kit (2X), 0,5 µl mồi xuôi (10 pmol/
µl), 0,5 µl mồi ngược (10 pmol/µl), 1 µl ADN (10-20 ng) và
cuối cùng là 13 µl H
2
O deion. Phản ứng được thực hiện trên
máy PCR model SimpliAmp của Hãng Applied Biosystems-
Life Technologies-Thermo Fisher Scientic (Hoa Kỳ). Chu
trình nhiệt của phản ứng PCR với 35 chu kỳ gồm: biến tính
DNA ở 94oC trong 3 phút; 94°C trong 45 giây, bắt cặp mồi
ở 55oC trong 30 giây, kéo dài sợi DNA ở 72oC trong 30 giây;
kết thúc phản ứng nhân gen ở 72oC trong 5 phút và giữ sản
phẩm ở 15oC. Kiểm tra sản phẩm PCR bằng điện di trên gel
agarose 1%.
Giải trình tự và xử lý số liệu: quá trình xác định trình tự
nucleotide được thực hiện tại Công ty Firstbase (Malaysia).
Trình tự DNA thu được sau đó được kiểm tra và ghép nối
bằng phần mềm Chromas-Pro2.1.6 (Technelysium Pty Ltd,
Úc). Trình tự nucleotide vùng gen ITS của mẫu Hoàng liên
ô rô lá dày (SM02 và BLC03) sau khi ghép nối và loại bỏ
phần nhiễu được đưa vào BLAST (NCBI) để so sánh với
các trình tự sẵn có trên Genbank nhằm kiểm tra tính chính
xác của vùng gen được khuếch đại. Các trình tự phân tích
được sắp xếp thẳng hàng bằng phần mềm Bioedit v7.0.5.2
[10]. Các vùng nucleotide bị nhiễu hoặc không tương ứng
với nhau sẽ bị loại bỏ trước khi tiến hành phân tích.
Xây dựng cây phát sinh chủng loại: cây phát sinh chủng
loại được xây dựng dựa trên phương pháp xác suất tối đa
ML (Maximum Likelihood). Thực hiện với 1.000 lần lặp
lại để xác định giá trị ủng hộ (bootstrap). Khoảng cách di
truyền (P) giữa các loài trong chi được tính toán bằng phần
mềm Mega 7.0 [11] theo mô hình Kimura hai tham số.
Kết quả và thảo luận
Kết quả tách chiết DNA tổng số
DNA tổng số của 6 mẫu nghiên cứu sau khi tách chiết
được kiểm tra bằng điện di trên gel agarose 1% (hình 1). Kết
quả điện di kiểm tra cho thấy, vạch DNA thu được rõ nét
chứng tỏ DNA tổng số ít bị đứt gãy và tương đối sạch. Kết
quả đo OD cũng cho thấy chỉ số OD
260
/OD
280
của các mẫu
đều từ 1,81 đến 1,83, chứng tỏ hàm lượng DNA thu được có
độ tinh khiết cao.
Hình 1. Kết quả kiểm tra DNA tổng số 6 mẫu nghiên cứu trên gel
agarose 1% (giếng số 1-6: thứ tự các mẫu lần lượt là SM02, BLC03,
B1, SB01, C307, DL02).
Kết quả nhân bản trình tự gen ITS bằng PCR
Kết quả điện di sản phẩm PCR cho thấy cả 6 mẫu đều
xuất hiện 1 vạch rõ nét có kích thước khoảng 700 bp (hình
2), chứng tỏ cặp mồi ITS1/ITS2 đã nhân bản thành công ở
nhiệt độ gắn mồi là 55°C cho cả 6 mẫu nghiên cứu. Sản
phẩm PCR sáng đậm, rõ nét, đủ tiêu chuẩn để giải mã trình
tự nucleotide trực tiếp.
Hình 2. Sản phẩm PCR 6 mẫu nghiên cứu khi kiểm tra bằng điện
di trên gel agarose 1% (M: marker phân tử DNA 1 kb ladder; giếng
1-6: thứ tự các mẫu nghiên cứu lần lượt là SM02, BLC03, B1, SB01,
C307, DL02).
Kết quả phân tích trình tự gen ITS
Kết quả kiểm tra tính tương đồng trình tự vùng gen ITS
của mẫu Hoàng liên ô rô lá dày với các trình tự sẵn có trên
Genbank cho thấy, trình tự vùng gen ITS của cả 2 mẫu M.
bealei SM02 và BLC03 giống hệt nhau và đều cho kết quả
tương đồng 100% với loài B. bealei mã số MG730545 (loài
của Trung Quốc). Điều này chứng tỏ mẫu nghiên cứu là loài
B. bealei và kết quả PCR đã nhân bản chính xác vùng gen
ITS.
Thông thường, kết quả BLAST không cho kết luận
chính xác về loài, nhưng với những trường hợp BLAST có
độ bao phủ và tương đồng cao (trên 98%) thì có thể đưa ra
1562(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
gợi ý về những loài gần gũi với mẫu nghiên cứu. Kết quả
so sánh vùng gen ITS của 4 mẫu nghiên cứu còn lại trên
Genbank cũng đều cho thấy sự gần gũi với các loài trong
chi Berberis, cụ thể mẫu DL02 (M. klossii) gần gũi 93% với
loài B. bealei (mã số MG730545); C307 (M. jingxiensis)
gần gũi 97% với loài B. dictyophylla (mã số X83829.1);
SB01 (B. julianae) gần gũi 97,27% với loài B. hemsleyana
(mã số KY 624390); và B1 (B. hypoxantha) gần gũi 97,89%
với loài B. bealei (mã số MG730545). Điều đó cho thấy
chúng tôi đã khuếch đại thành công vùng gen ITS cho tất cả
6 mẫu nghiên cứu.
Kết quả kiểm tra trình tự nucleotide vùng gen ITS dài 700
bp của loài M. bealei cho thấy tỷ lệ phần trăm các nucleotide
T, G, A và C lần lượt là 24,1, 28,4, 23,4 và 24,1%. Trong đó,
có 59 vị trí biến đổi (variable) và 27 vị trí nucleotide có giá
trị mang thông tin di truyền (Parsimony).
Khoảng cách di truyền và vị trí phân loại của loài
Hoàng liên ô rô lá dày
Trình tự nucleotide vùng gen ITS của mẫu SM02 và
BLC03 sau khi loại bỏ tất cả các vị trí trống thì được so
sánh với 20 loài khác của họ Berberidaceae, trong đó có 17
loài lấy dữ liệu trên Genbank, gồm 16 loài họ Berberidaceae
(7 loài thuộc chi Berberis, 1 loài thuộc Mahonia, 2 loài
thuộc Epimedium, 2 loài thuộc Diphylleia, 2 loài thuộc
Dysosma, 2 loài thuộc Podophyllum) và 1 loài Tinh diệp
thảo (Circaeaster agrestis) được sử dụng là loài ngoài nhóm
(bảng 1); 4 loài khác là các mẫu B1 (B. hypoxantha), SB01
(B. julianae), C307 (M. jingxiensis) và DL02 (M. klossii).
Bảng 1. Danh sách 17 loài lấy dữ liệu từ Genbank dùng để so
sánh với 6 mẫu nghiên cứu.
TT Tên loài Mã số Genbank
1 B. hemsleyana MH258097.1
2 B. vulgaris KX268517.1
3 B. fortune MK524268
4 B. wallichiana KC575611.1
5 B. poiretii JF421477.1
6 B. julianae KM580586.1
7 M. jingxiensis KU221049.1
8 B. bealei MG730545.1
9 Epimedium baojingense MG837277.1
10 Epimedium dewuense MG837288.1
11 Diphylleia sinensis KC494674.1
12 Diphylleia cymosa KC494676.1
13 Dysosma difformis KC494661.1
14 Dysosma pleiantha KC494652.1
15 Podophyllum peltatum KC494685.1
16 Podophyllum hexandrum AF328965.1
17 Circaeaster agrestis AF328965.1
Sơ đồ mối quan hệ di truyền của 23 loài họ Berberidaceae
đã được xây dựng theo phương pháp ML. Theo đó, 23 loài
nghiên cứu chia thành 2 nhánh chính lớn: nhánh chính lớn 1
gồm các loài của chi Berberis và Mahonia; nhánh chính lớn
2 gồm các loài của chi Epimedium, Diphylleia, Dysosma và
Podophyllum. Trong đó, nhánh chính lớn 1 lại chia thành 2
nhánh phụ, gồm nhánh phụ số 1 (các loài thuộc chi Berberis)
và 2 (các loài thuộc chi Mahonia). Nhánh chính lớn 2 cũng
chia thành 4 nhánh phụ nhỏ hơn tương ứng với các chi khác
nhau (nhánh phụ số 3, 4, 5, 6) (hình 3). Điều đó cho thấy,
Berberis và Mahonia là 2 chi có quan hệ rất gần gũi với
nhau, cụ thể khoảng cách di truyền trung bình của 2 chi này
là 0,0236 (≈2,3%) (tính trung bình trên 7 mẫu Mahonia và
8 mẫu Berberis nghiên cứu), trong khi đó khoảng cách di
truyền trung bình giữa chi Mahonia với Dysosma lên đến
0,223 (≈22,3%), với chi Epimedium là 0,198 (≈19,8%) và
Podophyllum là 0,214 (≈21,4%). Ở nhánh chính lớn số 2
kết quả phân tích bảng khoảng cách di truyền cho thấy, chi
Podophyllum có quan hệ gần gũi với Dysosma với khoảng
cách di truyền (P) là 0,041 (≈4,1%) (tính trung bình trên 4
mẫu nghiên cứu) (hình 4).
Hình 3. Sơ đồ mối quan hệ di truyền của 6 mẫu nghiên cứu với
17 loài khác trên cơ sở phân tích trình tự nucleotide vùng gen
ITS-rDNA bằng phương pháp ML [loài Tinh diệp thảo (Circaeaster
agrestis) được sử dụng làm loài ngoài nhóm].
1662(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
Hình 4. Bảng khoảng cách di truyền giữa 24 mẫu nghiên cứu.
Thiết kế cặp mồi khuếch đại đặc hiệu vùng gen ITS-
300 cho loài M. bealei
Trình tự vùng gen ITS dài 700 bp của loài Hoàng liên
ô rô lá dày sau khi được so sánh với trình tự gen ITS của
22 loài khác đã phát hiện ra một đoạn trình tự dài khoảng
300 nucleotide nằm giữa vùng Spacer 2 và 26S có chứa đến
35 vị trí biến đổi, trong đó có 19 vị trí nucleotide có giá trị
mang thông tin di truyền (có ý nghĩa Parsimony) (hình 5).
Điều này gợi ý cho chúng tôi có thể xác định được một vùng
ITS đặc hiệu cho loài M. bealei.
Hình 5. Bảng tổng hợp các vị trí nucleotide biến đổi trong đoạn
300 nucleotide thuộc vùng gen ITS.
Chúng tôi đã tiến hành thiết kế cặp mồi theo nguyên tắc
mồi xuôi có trình tự cùng trình tự với mạch gốc DNA, trong
đó 2/3 trình tự mồi nằm trong vùng bảo thủ, 1/3 trình tự mồi
nằm trong vùng siêu biến đổi (là vùng ITS dài 300 bp); mồi
ngược có trình tự bổ sung với mạch DNA gốc, cũng có 2/3
đoạn trình tự nằm trong vùng bảo thủ bao 2 đầu của đoạn
gen chứa nhiều vị trí biến đổi và 1/3 đoạn trình tự nằm trong
vùng siêu biến đổi (hình 6). Hai đầu mỗi mồi đều có chứa
G, C đảm bảo độ bắt cặp chắc chắn cho mồi trong quá trình
khuếch đại gen bằng PCR. Mỗi mồi (xuôi và ngược) gồm
21 nucleotide, trong đó có 10 GC (chiếm 48%) và và 11 AT
(chiếm 52%).
Hình 6. Sơ đồ đoạn mồi thiết kế để khuếch đại vùng chứa nhiều vị
trí biến đổi dài 300 bp của gen ITS. Trình tự mồi thiết kế như sau (ký
hiệu mồi ITS-300): mồi xuôi (F): 5’- GCA-ATT-CAC-ACC-AAG-TAT-CGC-
3’; mồi ngược (R): 5’- GCG-ATA-CTT-GGT-GTG-AAT-TGC -3’.
Nhiệt độ bắt cặp Tm được tính theo công thức:
Tm = 4(G+C) + 2(A + T), theo đó nhiệt độ bắt cặp lý
thuyết của cả 2 mồi xuôi và mồi ngược đều 62ºC.
Cặp mồi sau đó đã được kiểm tra bằng PCR cho 2
mẫu nghiên cứu SM02, BLC03 (M. bealei), và 4 mẫu đối
chứng gồm B1 (B. hypoxantha), SB01 (B. julianae), DL02
(M. klossii) và C307 (M. jingxiensis). Phản ứng trùng hợp
(PCR) khuếch đại gen ITS-300 được thực hiện với 35 chu
kỳ, bắt cặp ở 58ºC trong 30 giây.
Kết quả PCR sau đó được kiểm tra trên gel agarose 1%
cho thấy 2 mẫu M. bealei (SM02 và BLC03) đều cho một
vạch sắc nét có kích thước ≈300 bp, trong khi 4 mẫu đối
chứng (gồm B1, SB01, DL02 và C307) đều không có vạch
(hình 7). Điều đó cho thấy, khả năng cặp mồi ITS-300 là đặc
hiệu cao cho loài M. bealei. Sản phẩm PCR này sau đó đã
được đọc trình tự và kết quả so sánh trên BLAST cho thấy
đây đúng là đoạn gen ITS của loài M. bealei. Trình tự đoạn
gen ITS-300 này của loài M. bealei đã được chúng tôi đăng
ký lên Genbank và được cấp mã số là MT 008067.
Hình 7. Kết quả PCR kiểm tra tính đặc hiệu của mồi ITS-300 trên
6 mẫu nghiên cứu (giếng số 1, 2: mẫu SM02, BLC 03, M: DNA 1 kb
ladder, Lane 3, 4, 5, 6 lần lượt là các mẫu B1, SB01, DL02, C307).
Nghiên cứu của Y.D. Kim và cs năm 1996 [12] (dựa trên
trình tự vùng gen rbcL, ITS) và nghiên cứu năm 2004 [13]
(dựa trên trình tự gen ndhF) đều cho thấy, chi Berberis và
Mahonia tách thành 2 nhóm riêng biệt dù có quan hệ rất
gần gũi với nhau. Trong nghiên cứu này của chúng tôi, dựa
trên phân tích trình tự vùng gen ITS cũng cho thấy mặc
dù khoảng cách di truyền trung bình giữa các loài của chi
Berberis và Mahonia chỉ là 0,0236 nhưng chúng vẫn sắp
xếp thành các nhóm riêng rẽ, điều này hoàn toàn phù hợp
với các nghiên cứu về hình thái và phân tử trước đó.
1762(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
Việc phát triển cặp mồi khuếch đại được vùng gen ITS
đặc hiệu sẽ giúp cho công tác giám định loài Hoàng liên ô
rô lá dày ở Việt Nam trở nên nhanh chóng, bởi xác định loài
với thông tin chính xác là một trong những chìa khóa để cải
thiện công tác quản lý và bảo tồn loài [14].
Kết luận
Kết quả phân tích trình tự gen ITS loài M. bealei cho thấy
vùng gen này không chỉ được sử dụng hiệu quả như một mã
vạch để xác định các loài thuộc chi Mahonia, mà còn là
vùng gen rất hữu ích cho phân tích phát sinh chủng loại các
loài thuộc họ Berberidaceae nói chung, chi Mahonia nói
riêng.
Việc phát triển cặp mồi khuếch đại vùng gen ITS dài 300
bp đặc hiệu của loài M. bealei góp phần đưa ra phương pháp
nhanh chóng và chính xác để xác định loài này, đây là vấn
đề rất hữu ích, góp phần quan trọng cho công tác bảo tồn
nguồn gen một loài dược liệu quý.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được hỗ trợ kinh phí từ đề tài của Quỹ
Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (mã số 106-
NN.03-2016.49) và của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh
vật (mã số IEBR ĐT.13-20). Các tác giả xin chân thành cảm
ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] J.M. He, Q. Mu (2015), “The medicinal uses of the genus
Mahonia in traditional Chinese medicine: an ethnopharmacological,
phytochemical and pharmarcological review”, Journal of
Ethnopharmacol., 175, pp.668-683.
[2] Bui Van Huong, Ngo Duc Phuong, Nguyen Trung Thanh,
Tran Van Tu, Nguyen Thai Son, Nguyen Thi Van Anh, Bui Van Thanh
(2017), “Biological and ecological characteristics of Mahonia bealei
(Fortune) Pynaert in Vietnam”, Journal of Science and Technology,
33, pp.51-57.
[3] Do Tat Loi (2004), Vietnamese medicinal plants and herbs,
Medicine Publishing House.
[4] Bui Van Huong, Bui Van Thanh, Nguyen Thi Van Anh, Pham
Huyen (2017), “Research on cutting propagation of Mahonia bealei
(Fortune) Pynaert”, National conference on ecology and biological
resources.
[5] W.J. Kress (2005), “Use of DNA barcodes to identify flowering
plants”, PNAS 102, pp.8369-8374.
[6] R. Lahaye (2008), “DNA barcoding the floras of biodiversity
hotspots”, PNAS, 105, pp.2923-2928.
[7] S. Chen (2010), “Validation of the ITS2 region as a novel
DNA barcode for identifying medicinal plant species”, PLOS ONE,
5, p.e8613.
[8] J.J. Doyle, J.L. Doyle (1990), “Isolation of plant DNA from fresh
tissue”, Focus, 12, pp.13-15.
[9] T. Cheng (2016), “Barcoding the kingdom plantae: new
PCR primer for ITS region of plants with improved universality and
specificity”, Molecular Ecology Resources, 16, pp.138-149.
[10] T.A. Hall (1999), “BioEdit v7.0.5.2: a user-friendly biological
sequence alignment editor and analysis program for Windows 95/98/
NT”, Nucleic Acids Symposium Series, 41, pp.95-98.
[11] S. Kumar, G. Stecher, K. Tamura (2016), “MEGA7:
Molecular evolutionary genetics analysis version 7.0 for bigger
datasets”, Molecular Biology and Evolution, 33, pp.1870-1874.
[12] Y.D. Kim, K.J. Robert (1996), “Phylogenetic implications of
rbcL and ITS sequence variation in the Berberidaceae”, Systematic
Botany., 21, pp.381-396.
[13] Y.D. Kim (2004), “Phylogeny of Berberdaceae based on
sequences of the chloroplast gene ndhF”, Biochemistry Systematics
and Ecology, 32, pp.291-301.
[14] A.T. Blasi, M. Vorontsova (2015), “Plant identification is key to
conservation”, Nature, 521, p.161.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_kha_nang_phan_loai_cua_vung_gen_its_rdna_doi_voi_lo.pdf