- Năng suất thực thu (NSTT): Năng suất thực
thu của các giống đậu xanh có sự chênh lệch ở hai
vụ trồng, trong đó vụ Hè năm 2019 các giống đậu
xanh đều có NSTT cao hơn so với vụ Xuân. Ở vụ
Xuân, NSTT của các giống đậu xanh dao động từ
1,43 - 1,74 tấn/ha. Trong đó có 3 giống TX01, TX02
và TX05 có NSTT đạt khá cao, tương ứng các giá
trị 1,68; 1,67 và 1,74 tấn/ha và vượt hơn đối chứng
(đạt 1,49 tấn/ha) ở độ tin cậy 95%. Trong điều
kiện vụ Hè, NSTT của các giống đậu xanh đạt từ
1,53 - 2,12 tấn/ha. Trong đó 4 giống có NSTT cao
vượt trội hơn đối chứng - đạt 1,53 tấn/ha ở mức
có ý nghĩa thống kê là TX01, TX02, TX05 và TX06
(NSTT đều đạt trên 1,95 tấn/ha).
Qua kết quả đánh giá đã tuyển chọn được hai
giống đậu xanh TX01 và TX05 phù hợp trồng ở
Thanh Hóa, cho năng suất thực thu cao trong cả hai
vụ: vụ Xuân và vụ Hè.
IV. KẾT LUẬN
Các giống đậu xanh thích ứng tốt với điều kiện khí
hậu, đất đai và hệ thống canh tác trong cả hai vụ trồng,
đặc biệt là vụ Hè, các giống sinh trưởng phát triển tốt
và cho năng suất cao. Đã tuyển chọn được hai giống
đậu xanh mới là TX01 và TX05 cho năng suất thực
thu cao vượt hơn so với đối chứng ở mức có ý nghĩa
P = 95%, giống TX01 đạt 1,68 tấn/ha (vụ Xuân) và
1,99 tấn/ha (vụ Hè); giống TX05 đạt đạt 1,74 tấn/ha
(vụ Xuân) và 2,12 tấn/ha (vụ Hè) (vụ Hè). Hai giống
này có thể đưa vào cơ cấu giống và mở rộng diện tích
trồng đậu xanh tại Thanh Hóa.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 34 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu xanh mới chọn tạo tại Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
103
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 4(113)/2020
than LVN99 (checks) from 6 to 10 days. The single crosses 4, 8 and 10 were recorded to be good in the diallen cross
experiment in spring and winter crop season. S1 and S4 lines had high general and specific combining ability and
could be used for creating hybrids.
Keywords: Combining ability, diallel cross, short duration maize inbred line
Ngày nhận bài: 10/4/2020
Ngày phản biện: 22/4/2020
Người phản biện: TS. Đào Ngọc Ánh
Ngày duyệt đăng: 29/4/2020
1 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 2 Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU XANH MỚI CHỌN TẠO TẠI THANH HÓA
Nguyễn Thanh Tuấn1, Nguyễn Văn Lộc1, Phạm Thị Xuân2
TÓM TẮT
Nghiên cứu tiến hành đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của 8 giống đậu xanh mới chọn
tạo và giống đối chứng (Tằm TH) trong vụ Xuân và vụ Hè năm 2019 nhằm tuyển chọn được giống đậu xanh mới
phục vụ sản xuất tại Thanh Hóa. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giống đậu xanh có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện thời tiết
tại Thanh Hóa. Năng suất thực thu của các giống đậu xanh đạt 1,43 - 1,74 tấn/ha (vụ Xuân) và 1,53 - 2,12 tấn/ha
(vụ Hè). Các giống đậu xanh mới có khả năng cho năng suất cao hơn so với đối chứng ở cả hai vụ thí nghiệm. Trong
đó, 2 giống TX01 và TX05 có khả năng chống chịu tốt và năng suất cao nhất được lựa cho sản xuất tại Thanh hóa.
Từ khóa: Giống đậu xanh mới, sinh trưởng, năng suất, Thanh Hóa
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đậu xanh là cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao,
được trồng phổ biến ở nước ta và nhiều nước trên
thế giới. Hạt đậu xanh có hàm lượng dinh dưỡng
cao, là nguồn năng lượng cần thiết cho con người
(Keatinge et al., 2011), đồng thời còn có hương
thơm đặc trưng nên đã trở thành một nguyên liệu
quan trọng trong sản xuất thực phẩm, bánh kẹo,
súp, miến, nước giải khát, đồ hộp và đồ ăn chay...
(Trần Văn Lài và ctv., 1993). Đặc biệt, đậu xanh còn
được sử dụng như một dược liệu trong việc hỗ trợ
điều trị các bệnh tiêu hóa, thần kinh, tim mạch và
giải độc (Đỗ Tất Lợi, 2001).
Đậu xanh đóng vai trò quan trọng trong nông
nghiệp ở một số quốc gia thuộc miền Nam và
Đông Nam châu Á như Thái Lan, Sri Lanca, Ấn Độ,
Myanma, Bangladesh, Indonesia Cây trồng này
cũng được trồng nhiều ở Australia, Trung Quốc,
Iran, Kenya, Hàn Quốc, Malaxia, Peru, Hoa Kỳ, các
nước vùng Trung Đông. Hiện nay, có 29 quốc gia
trồng đậu xanh với diện tích khoảng 6 triệu ha và
sản lượng 3 triệu tấn (Nair et al., 2014).
Ở Việt Nam, đậu xanh là cây trồng có ý nghĩa
quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, có thể được
trồng xen canh, gối vụ và mang lại hiệu quả kinh
tế cao cho các nông hộ, đặc biệt đối với người dân
ở các tỉnh miền Trung, trong đó có Thanh Hóa.
(Phạm Văn Thiều, 2009). Cây đậu xanh được xác
định là cây trồng thay thế phù hợp cho các cây trồng
khác trong vụ Hè vì sự thích ứng với thời tiết và tiềm
năng kinh tế cao. Tuy nhiên, diện tích và sản lượng
đậu xanh còn hạn chế, năng suất còn thấp, bộ giống
đậu xanh chưa phong phú. Bên cạnh đó, cây đậu
xanh không được xem là cây trồng chính, người dân
chủ yếu chỉ trồng các giống địa phương để tăng gia
và không chú trọng nhiều đến các biện pháp kỹ thuật
canh tác.
Nghiên cứu này đánh giá nhằm tìm ra giống đậu
xanh sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao và
thích ứng với điều kiện trồng tại Thanh Hóa, góp
phần đa dạng bộ giống đậu xanh, đáp ứng nhu cầu
sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu gồm 8 giống đậu xanh mới
do Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo bằng
phương pháp lai hữu tính và chọn lọc phả hệ, được
ký hiệu là TX01, TX02, TX03, TX04, TX05, TX06,
TX07, TX08 và 1 giống đối chứng là Tằm TH (giống
địa phương).
104
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 4(113)/2020
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy
đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại. Diện tích ô thí nghiệm
là 10 m2 (5 m ˟ 2 m). Khoảng cách hạt gieo là 40 ˟
15 cm.
2.2.2. Chỉ tiêu theo dõi
Các chỉ tiêu theo dõi áp dụng theo QCVN
01-62:2011/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT,
2011), bao gồm: Thời gian sinh trưởng (ngày); chiều
cao cây (cm); số cành cấp 1 (cành); mức độ nhiễm
sâu cuốn lá, sâu đục quả, bệnh đốm nâu, khả năng
chống đổ và tính tách vỏ quả; số quả chắc/cây (quả);
số hạt/quả (hạt); khối lượng 1000 hạt (g); năng suất
thực thu (tấn/ha).
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm
IRRISTAT 5.0.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong vụ Xuân và vụ
Hè năm 2019 tại khu ruộng trồng màu của xã Nga
Hải, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của
các giống đậu xanh
Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các
giống đậu xanh ít có sự khác biệt giữa vụ Xuân và
vụ Hè trong năm 2019 (Bảng 1). Ở giai đoạn sau
gieo hạt, điều kiện thời tiết thuận lợi, nhiệt độ và độ
ẩm thích hợp nên sau 3 - 4 ngày các giống đậu xanh
đã nảy mầm. Thời gian từ mọc đến ra hoa của các
giống đậu xanh có sự khác biệt ở hai vụ trồng, vụ
Xuân thời gian từ mọc đến ra hoa của các giống đậu
xanh dao động từ 39 - 43 ngày, kéo dài hơn so với vụ
Hè (chỉ 31 - 36 ngày). Nguyên nhân dẫn tới sự khác
biệt này là do ở vụ Xuân điều kiện thời tiết không
mấy thuận lợi, mưa nhiều, nhiệt độ thấp và ánh sáng
yếu làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của
đậu xanh.
Thời gian ra hoa của các giống đậu xanh không
có sự khác biệt trong hai vụ trồng, đạt từ 10 - 17 ngày
ở vụ Xuân và 11 - 16 ngày ở vụ Hè. Trong cả hai vụ
trồng tất cả các giống đều thuộc dạng hoa nở tập
trung - thời gian ra hoa dưới 15 ngày (Đường Hồng
Dật, 2006) ngoại trừ giống Tằm TH có thời gian ra
hoa trung bình (16 ngày), trong đó giống TX05 và
TX08 có thời gian ra hoa ngắn nhất (đều đạt 11 -
ở vụ Xuân; 11 và 12 ngày ở vụ Hè).
Bảng 1. Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống đậu xanh ở vụ Xuân và Hè năm 2019
Đơn vị tính: ngày
TT Kí hiệu Gieo - mọc Mọc - ra hoa Thời gian ra hoa TGST VX VH VX VH VX VH VX VH
1 Tằm TH (đ/c) 3 3 42 35 17 16 73 71
2 TX01 4 3 43 36 12 12 76 70
3 TX02 3 3 39 35 11 13 71 68
4 TX03 4 3 43 31 13 13 75 66
5 TX04 4 4 43 34 10 14 72 71
6 TX05 4 3 40 32 11 11 73 70
7 TX06 3 3 41 35 13 14 74 72
8 TX07 4 3 41 34 11 13 70 72
9 TX08 3 3 43 33 11 12 74 70
Ghi chú: VX - vụ Xuân; VH - vụ Hè.
Thời gian sinh trưởng (TGST) của các giống đậu
xanh ở vụ Xuân dao động từ 70 - 75 ngày, trong đó
hai giống TX02 và TX07 có TGST ngắn nhất, chỉ sau
71 và 70 ngày đã cho thu hoạch. Trong vụ Hè, TGST
của các giống đậu xanh ngắn hơn so với vụ Xuân, tuy
nhiên sự chênh lệch không lớn và dao động từ 66 - 72
ngày. Giống TX02 và TX03 có TGST ngắn nhất,
tương ứng giá trị 68 và 66 ngày. Giống đối chứng
có TGST đạt 73 ngày ở vụ Xuân và 71 ngày ở vụ Hè.
3.2. Chiều cao cây và số cành cấp 1 của các giống
đậu xanh nghiên cứu
Qua số liệu đánh giá ở bảng 2 cho thấy:
- Chiều cao cây của các giống đậu xanh trong vụ
Xuân đạt từ 63,2 - 75,6 cm, trong đó cao nhất là các
giống TX01; TX04 và TX08, chiều cao trên 70 cm,
vượt hơn so với đối chứng ở độ tin cậy 95%. Ở vụ
Hè, chiều cao cây của các giống đậu xanh dao động
từ 83,5 - 91 cm, trong đó các giống TX01 và TX04
105
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 4(113)/2020
có chiều cao vượt hơn đối chứng ở mức có ý nghĩa
thống kê, tương ứng 89,5 cm và 91 cm. Các giống
còn lại có chiều cao tương đương so với đối chứng
(đạt 84,3 cm). Có thể thấy sự chênh lệch đáng kể
về chiều cao giữa vụ Xuân và vụ Hè của các giống
đậu xanh trồng tại Thanh Hóa. Nguyên nhân của sự
khác biệt này là do ở vụ Hè điều kiện thời tiết rất
thuận lợi, nhiệt độ và ẩm độ thích hợp cho sự phát
triển của đậu xanh. Còn trong vụ Xuân 2019, nhiệt
độ thấp và ánh sáng yếu hơn nên đã ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng của đậu xanh.
Bảng 2. Chiều cao cây và số cành cấp 1
của các giống đậu xanh trong vụ Xuân và Hè năm 2019
TT Kí hiệu
Chiều cao cây
(cm)
Số cành cấp 1
(cành)
VX VH VX VH
1 Tằm TH (đ/c) 63,9 84,3 1,1 1,5
2 TX01 75,6 89,5 1,1 1,4
3 TX02 66,7 87,8 1,2 1,5
4 TX03 68,3 88,2 1,1 1,4
5 TX04 71,2 91,0 1,2 1,5
6 TX05 63,2 83,5 1,1 1,7
7 TX06 68,4 87,3 1,5 2,0
8 TX07 67,5 85,5 1,3 1,6
9 TX08 70,5 84,7 1,2 1,5
CV (%) 4,7 10,8 7,7 7,0
LSD0,05 3,28 4,17 0,16 0,19
Ghi chú: VX - vụ Xuân; VH - vụ Hè.
- Số cành cấp 1: Các giống đậu xanh nhìn chung
ít phân cành, số cành cấp 1 tùy thuộc ở giống và điều
kiện canh tác (Đường Hồng Dật, 2006). Ở vụ Xuân,
số cành cấp 1 của các giống đậu xanh dao động từ
1,1 - 1,5 cành, trong đó phân cành nhiều nhất là
giống TX06 (1,5 cành cấp 1). Trong vụ Hè số cành
cấp 1 của các giống từ 1,4 - 2,0 cành, trong đó TX05
và TX06 phân cành mạnh hơn so với các giống còn
lại, kể cả đối chứng ở độ tin cây 95%.
3.3. Mức độ nhiễm sâu bệnh hại, khả năng chống
đổ và tính tách vỏ quả
Các giống đậu xanh nghiên cứu trong điều kiện
vụ Xuân và vụ Hè năm 2019 bị sâu cuốn lá, sâu đục
quả và bệnh đốm nâu gây hại, tuy nhiên chỉ ở mức
độ nhẹ (Bảng 3).
Sâu cuốn lá: Tỷ lệ lá bị gây hại ở các giống dao
động từ 3,4 - 5,2% trong vụ Xuân và từ 2,4 - 6,5%
trong vụ Hè. Sâu đục quả xuất hiện khi đậu xanh bắt
đầu giai đoạn hình thành quả non đến khi thu hoạch
quả. Kết quả cho thấy, các giống đậu xanh nghiên
cứu đều bị sâu đục quả gây hại ở cả hai vụ trồng, tuy
nhiên mức độ gây hại ở mức nhẹ, trong đó ở vụ Xuân
tỷ lệ bị hại từ 5,2 - 8,8%, ở vụ Hè từ 4,9 - 7,2%. Bệnh
đốm nâu xuất hiện trong cả hai vụ trồng, các giống
đậu xanh nghiên cứu bị gây hại ở mức nhẹ, điểm từ
1 - 3. Các giống TX01; TX03; TX05 và TX07 chỉ bị
hại ở mức điểm 1 trong cả hai vụ Xuân và vụ Hè.
Khả năng chống đổ của các giống đậu xanh
đều ở mức nhẹ trong cả vụ Xuân và vụ Hè, ngoại
trừ 3 giống là TX01, TX03 và TX05 không bị đổ
(hầu hết các cây đều đứng thẳng). Giống TX04,
TX06, TX08 và giống đối chứng bị đổ nhẹ ở cả vụ
Xuân và vị Hè, chỉ có < 25% số cây bị đổ rạp. Kết
quả đánh giá tính tách vỏ quả đồng ruộng cho thấy,
tất cả các giống đậu xanh đều không bị tách vỏ quả
trong cả hai vụ trồng.
Bảng 3. Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại, khả năng chống đổ và tính tách vỏ quả
của các giống đậu xanh trong vụ Xuân và vụ Hè năm 2019
Kí hiệu
Sâu cuốn lá (%) Sâu đục quả (%) Bệnh đốm nâu (điểm) Khả năng chống đổ
VX VH VX VH VX VH VX VH
Tằm TH (đ/c) 4,5 6,5 5,4 5,4 3 1 Nhẹ Nhẹ
TX01 3,8 4,7 7,2 6,9 1 1 Không đổ Không đổ
TX02 4,1 3,1 8,3 6,7 3 1 Không đổ Nhẹ
TX03 4,7 2,4 5,7 5,3 1 1 Không đổ Không đổ
TX04 4,2 2,5 8,8 7,2 1 3 Nhẹ Nhẹ
TX05 3,4 2,6 5,2 5,8 1 1 Không đổ Không đổ
TX06 4,6 3,4 6,1 4,9 3 1 Nhẹ Nhẹ
TX07 5,2 3,3 7,1 6 1 1 Không đổ Nhẹ
TX08 3,8 2,8 6,0 6,1 3 3 Nhẹ Nhẹ
Ghi chú: VX - vụ Xuân; VH - vụ Hè.
106
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 4(113)/2020
3.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
của các giống đậu xanh
Kết quả đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của các giống đậu xanh trong vụ Xuân
và vụ Hè năm 2019 ở bảng 4 cho thấy:
- Số quả chắc/cây: Qua số liệu ở bảng 4 có thể
thấy rõ sự khác biệt về số quả chắc/cây giữa hai
vụ trồng. Trong điều kiện vụ Xuân 2019, số quả
chắc/cây của các giống đậu xanh thấp hơn so với vụ Hè
và dao động từ 10,3 - 15,7 quả, trong đó TX02 và TX05
có số quả chắc/cây cao nhất, đạt tương ứng 15,7 và
14,5 quả/cây. Còn ở vụ Hè số quả chắc/cây của
các giống đậu xanh nghiên cứu cao hơn và đạt từ
18 - 23,8 quả. Các giống TX02 và TX05 có số quả
chắc/cây cao vượt trội và hơn hẳn đối chứng ở mức
có ý nghĩa thống kê, tương ứng 23,8 và 23,2 quả.
Giống đối chứng có số quả chắc/cây ở vụ Xuân là
10,3 quả, vụ Hè - 19,8 quả.
- Số hạt/quả của đậu xanh phụ thuộc vào đặc
điểm của từng giống (Đường Hồng Dật, 2006). Kết
quả nghiên cứu cho thấy, các giống đậu xanh có số
hạt/quả biến động từ 9,7 - 11,5 hạt/quả ở vụ Xuân
và từ 10,4 - 13,1 hạt/quả ở vụ Hè. Trong vụ Xuân
giống TX05, TX07 và TX08 có số hạt/quả đạt cao
nhất và vượt hơn đối chứng ở mức ý nghĩa thống
kê (đạt 11,3; 11,5 và 11,2 hạt/quả). Ở vụ Hè, số
hạt/quả dao động từ 10,4 - 13,1 quả, trong số các
giống nghiên cứu chỉ có TX01 và TX04 có số hạt/
quả thấp hơn hoặc tương đương đối chứng, các
giống còn lại đều cao vượt đối chứng ở mức có ý
nghĩa thống kê, nổi trội là TX03 và TX08, tương ứng
giá trị 13,1 và 12,8 hạt/quả.
- Khối lượng 1000 hạt của các giống đậu xanh
ở vụ Xuân biến động trong khoảng 54,8 - 64,0 g và
ở vụ Hè khoảng 58,4 - 65,1 g. Qua số liệu ở bảng 4
cho thấy, hai giống TX01, TX03 và TX05 đều có khối
lượng 1000 hạt đạt cao trong cả hai vụ trồng, đây là
những giống có tiềm năng năng suất cao.
Bảng 4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
của các giống đậu xanh trong vụ Xuân và vụ Hè năm 2019
TT Kí hiệu
Số quả chắc/cây
(quả) Số hạt/quả (hạt) m1000 hạt (g)
Năng suất thực thu
(tấn/ha)
VX VH VX VH VX VH VX VH
1 Tằm TH (đ/c) 10,3 19,8 10,0 10,4 56,4 58,7 1,49 1,53
2 TX01 12,3 21,4 10,5 11,8 60,7 61,4 1,68 1,99
3 TX02 15,7 23,8 10,3 12,4 59,7 63,4 1,67 1,96
4 TX03 10,6 18,0 10,4 13,1 61,4 63,0 1,65 1,94
5 TX04 11,3 18,8 9,7 11,1 54,8 62,2 1,60 1,90
6 TX05 14,5 23,2 11,3 12,2 64,0 65,8 1,74 2,12
7 TX06 12,8 21,8 10,8 12,4 55,5 62,3 1,64 1,99
8 TX07 12,4 20,0 11,5 12,1 57,2 63,6 1,55 1,87
9 TX08 13,6 20,7 11,2 12,8 55,1 58,4 1,43 1,77
CV (%) 11,8 7,8 5,3 3,1 2,9 1,7 5,9 7,4
LSD0,05 2,58 2,82 0,97 0,69 2,91 1,83 0,17 0,42
Ghi chú: VX - vụ Xuân; VH - vụ Hè.
- Năng suất thực thu (NSTT): Năng suất thực
thu của các giống đậu xanh có sự chênh lệch ở hai
vụ trồng, trong đó vụ Hè năm 2019 các giống đậu
xanh đều có NSTT cao hơn so với vụ Xuân. Ở vụ
Xuân, NSTT của các giống đậu xanh dao động từ
1,43 - 1,74 tấn/ha. Trong đó có 3 giống TX01, TX02
và TX05 có NSTT đạt khá cao, tương ứng các giá
trị 1,68; 1,67 và 1,74 tấn/ha và vượt hơn đối chứng
(đạt 1,49 tấn/ha) ở độ tin cậy 95%. Trong điều
kiện vụ Hè, NSTT của các giống đậu xanh đạt từ
1,53 - 2,12 tấn/ha. Trong đó 4 giống có NSTT cao
vượt trội hơn đối chứng - đạt 1,53 tấn/ha ở mức
có ý nghĩa thống kê là TX01, TX02, TX05 và TX06
(NSTT đều đạt trên 1,95 tấn/ha).
Qua kết quả đánh giá đã tuyển chọn được hai
giống đậu xanh TX01 và TX05 phù hợp trồng ở
Thanh Hóa, cho năng suất thực thu cao trong cả hai
vụ: vụ Xuân và vụ Hè.
IV. KẾT LUẬN
Các giống đậu xanh thích ứng tốt với điều kiện khí
hậu, đất đai và hệ thống canh tác trong cả hai vụ trồng,
đặc biệt là vụ Hè, các giống sinh trưởng phát triển tốt
và cho năng suất cao. Đã tuyển chọn được hai giống
107
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 4(113)/2020
đậu xanh mới là TX01 và TX05 cho năng suất thực
thu cao vượt hơn so với đối chứng ở mức có ý nghĩa
P = 95%, giống TX01 đạt 1,68 tấn/ha (vụ Xuân) và
1,99 tấn/ha (vụ Hè); giống TX05 đạt đạt 1,74 tấn/ha
(vụ Xuân) và 2,12 tấn/ha (vụ Hè) (vụ Hè). Hai giống
này có thể đưa vào cơ cấu giống và mở rộng diện tích
trồng đậu xanh tại Thanh Hóa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QCVN 01-62:2011/BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng
của giống đậu xanh.
Đường Hồng Dật, 2006. Cây đậu xanh - Kỹ thuật thâm
canh và biện pháp tăng năng suất, chất lượng sản
phẩm. NXB Lao động - Xã hội.
Trần Văn Lài, Trần Nghĩa, Ngô Quang Thắng, Lê Trần
Tùng và Ngô Đức Dương, 1993. Kỹ thuật gieo trồng
Lạc, Đậu, Vừng. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội.
Đỗ Tất Lợi, 2001. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.
NXB Y học. Hà Nội.
Phạm Văn Thiều, 2009. Cây đậu xanh: Kỹ thuật trồng
và chế biến sản phẩm. Tái bản lần thứ 6. NXB Nông
nghiệp.
Keatinge J.; W. Easdown; Y. S. Chadha and S.
Shanmugasundaram, 2011. Overcoming chronic
malnutrition in a future warming world: the key
inportance of mungbean and vegetable soybean.
Euphytica, 80: 129-141.
Nair R. M., R. Y. Yang, W. J. Easdown, D. Thavarajah, J.
A. Hughes and J. D. Keatinge, 2014. Biofortification
of mungbean (Vigna radiate L.) as a whole food
to enhance human health. J. Sci. Food Agric.,
93: 1805-1815.
Evaluation of growth, development and grain yield
of newly bred mung bean cultivars in Thanh Hoa province
Nguyen Thanh Tuan, Nguyen Van Loc, Pham Thi Xuan
Abstract
This study was carried out to evaluate the growth, development and yield of 8 newly bred mung bean cultivars and
control cultivar (Tam TH) in Spring and Summer seasons of 2019 to select suitable varieties for production in Thanh
Hoa province. The experiments were performed with 3 replications in a completely randomized block (CRB) design.
The results showed that all mung bean cultivars had good growth and development ability, and high yield in both season.
The average yield ranged from 1.43 to 1.74 tons/ha in spring season and from 1.53 to 2.12 tons/ha in summer season.
The newly bred cultivars showed better growth and actual yield as compared with control cultivar. Of these, TX01 and
TX05 with good tolerance and the highest yield potential were selected for production in Thanh Hoa province.
Keywords: New mung bean cultivars, growth, yield, Thanh Hoa province
Ngày nhận bài: 13/4/2020
Ngày phản biện: 25/4/2020
Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Chinh
Ngày duyệt đăng: 29/4/2020
1 Học viên cao học K27, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3 Công ty Green Techno 21, Nhật Bản; 4 Công ty cổ phần Sanshin Vietnam, Nhật Bản
ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT VỎ TRỨNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG LẠC L27 TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ THU ĐÔNG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
Nguyễn Thị Thu Thủy1, Vũ Ngọc Thắng2, Lê Thị Tuyết Châm2,
Trần Anh Tuấn2, Vũ Đình Chính2, Shimo Koji3, Shugo Hama4
TÓM TẮT
Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến sinh trưởng và năng suất của giống
lạc L27 trong điều kiện vụ Thu Đông năm 2019 tại Gia Lâm - Hà Nội. Thí nghiệm gồm 10 công thức bón bột vỏ
trứng (0, 100; 200; 300; 400; 500; 600; 700; 800; 900 kg/ha bột vỏ trứng) được so sánh với công thức đối chứng
(500 kg/ha vôi thường). Bột vỏ trứng và vôi thường được bón cho lạc vào giai đoạn khi cây ra hoa rộ. Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng bột vỏ trứng làm tăng các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, chiều dài cành, số lá/thân chính,
khối lượng tươi và khô của rễ, thân lá, diện tích lá và chỉ số diện tích lá của của giống lạc L27. Bên cạnh đó, bột vỏ
trứng còn làm tăng số lượng và khối lượng nốt sần, chỉ số SPAD, hiệu suất huỳnh quang diệp lục (Fv/Fm). Đồng thời
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lạc L27 cũng được cải thiện khi được bón bột vỏ trứng. So sánh
giữa các công thức cho thấy công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng cho các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý đạt giá trị cao,
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_kha_nang_sinh_truong_phat_trien_va_nang_suat_cua_mo.pdf