KẾT LUẬN
Đánh giá đặc điểm nông sinh học, năng
suất, chất lượng và khả năng kháng bệnh khảm
lá CMV của 12 vật liệu sắn có nguồn gốc trong
nước và nhập nội với 2 giống đối chứng KM140
và KM94 cho thấy các vật liệu nhìn chung sinh
trưởng tốt, cho năng suất khá nhưng không vượt
các giống đối chứng về cả năng suất và chất
lượng. Khuyến cáo sử dụng các vật liệu này
trong lai tạo biến dị để nghiên cứu chọn giống
sắn mới.
Thực hiện thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo
trong nhà lưới bằng phương pháp ghép, phân
tích ADN kiểm tra sự có mặt của virus trên các
vật liệu sau ghép 2 tuần và đánh giá mức độ
nhiễm bệnh sau ghép 3 tháng, nhóm các mẫu
giống kháng và kháng cao được xác định gồm
CM15 (Sắn lùn Cao Bằng), CM16 (Sắn ăn
Hoàng Su Phì), CM21 (Trắng Điện Biên), CM60
(SSC205), CM88 (CuBa.Q15), ĐC2 (KM94),
CM50 (Mì cao sản Đăk Lắk) và CM61 (DT4).
Kết quả đánh giá trên đồng ruộng và đánh
giá tính kháng bệnh CMV trong thí nghiệm lây
nhiễm nhân tạo cho thấy bên cạnh 2 giống đối
chứng, CM15 (Sắn lùn Cao Bằng) là 1 vật liệu
triển vọng quy tụ cả năng suất cao và tính
kháng bệnh tốt. Bên cạnh đó, nhóm các giống
kháng cũng là những nguồn gen quý phục vụ
công tác chọn giống sắn lai năng suất cao và
kháng bệnh khảm lá CMV, cần được duy trì và
phát triển trong tương lai.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của các vật liệu sắn (manihot esculenta crantz) trên đồng ruộng và sàng lọc khả năng kháng bệnh khảm lá cmv trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo bằng phương pháp ghép, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.12: 1114-1121 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(12): 1114-1121
www.vnua.edu.vn
1114
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC
CỦA CÁC VẬT LIỆU SẮN (Manihot Esculenta Crantz) TRÊN ĐỒNG RUỘNG
VÀ SÀNG LỌC KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH KHẢM LÁ CMV
TRONG ĐIỀU KIỆN LÂY NHIỄM NHÂN TẠO BẰNG PHƯƠNG PHÁP GHÉP
Hoàng Thị Thùy*, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Thị Bích Hạnh,
Nguyễn Văn Hà, Dương Thị Loan, Vũ Văn Liết
Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: htthuyctc@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 11.02.2020 Ngày chấp nhận đăng: 11.08.2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá một số đặc điểm của 14 vật liệu sắn trong nước và nhập nội
trong điều kiện ở Gia Lâm, Hà Nội và đánh giá khả năng kháng bệnh của các vật liệu thông qua thí nghiệm lây nhiễm
nhân tạo bằng phương pháp ghép. Các vật liệu được trồng trên đồng ruộng trong một thí nghiệm tuần tự không nhắc
lại, theo dõi một số đặc điểm nông sinh học. Các vật liệu cho thu hoạch sau 8-11 tháng trồng. Chiều cao cây của các
vật liệu ở mức trung bình và dao động không nhiều (165,2-183,2cm), có 6 vật liệu có phân cành. Hầu hết các vật liệu
chỉ có 1 thân/khóm, CM15, CM21 có 2 thân/khóm và CM60 có 3 thân/khóm. Số củ/cây của các vật liệu dao động từ
4,3-15,8 củ/cây. Khối lượng củ tươi cao nhất ở CM15 (5,0 kg/cây) và 2 giống đối chứng (5,26-5,82 kg/cây). Sử dụng
phương pháp ghép, sau 2 tuần thu được 40 cây ghép thành công của 13 vật liệu. Kiểm tra kiểu gen của các cây
ghép này bằng chỉ thị JSP1/JSP2 và JSP1/JSP3 đã xác định được sự có mặt của ACMV ở 8 vật liệu (CM2, CM3,
CM8, CM15, CM20, CM60, KM140 và KM94). Đánh giá mức độ nhiễm bệnh của các vật liệu sau ghép 3 tháng, xác
định nhóm vật liệu kháng gồm CM15, CM16, CM21, CM60, CM88 và ĐC2 (KM94), nhóm kháng cao gồm CM50
và CM61.
Từ khóa: Sắn, bệnh khảm lá CMV, lây nhiễm nhân tạo.
Evaluation of Agro-Biological Characteristics of some Cassava (Manihot Esculenta
Crantz) Materials in Field Conditions and Screening of the Resistance to CMV in Artificial
Infection
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate some agro-biological characteristics of 14 domestic and exotic cassava
materials in Gia Lam, Hanoi condition, and to evaluate the resistance of the materials through artificial infection
experiments by the transplanting method. The material was grown in the field in a sequential experiment without
repeating, tracking some agro-biological characteristics. The materials were havested after 8-11 months. The plant
height of the materials ranged from 165.2-183.2cm, there are 8 materials with branching height. Most materials have
only 1 stem/cluster, CM15, CM21 had 2 stems/cluster and CM60 had 3 stems/cluster. The number of tubers/tree
varies from 4.3-15.8 tubers/tree. The highest weight of fresh tubers was obtained CM15 (5.0 kg/tree) and 2 control
varieties (5.26-5.82 kg/tree). Using the tranplanting method, evaluated after 2 weeks, 40 successful transplanted
trees of 13 materials were evaluated. Genotyping of these transplanted trees was checked by JSP1/JSP2 and
JSP1/JSP3 primers detected the presence of ACMV in plants of 8 materials (CM2, CM3, CM8, CM15, CM20, CM60,
KM140 and KM94). Assessing the level of infection after 3 months of transplantation, the group of resistant and
highly resistant varieties were identified including CM15, CM16, CM21, CM60, CM88, CM50, CM61 and KM94.
Keywords: Cassava, cassava mosaic virus CMV, artificial infection.
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.12: 1115-1122 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(12): 1115-1122
www.vnua.edu.vn
1115
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây sắn đã góp phần quan trọng vào an
ninh lương thực, đặc biệt là trong các giai đoạn
khó khăn của đất nước. Trước năm 1986, các
giống sắn được trồng ở Việt Nam đều là các
giống sắn địa phương như Gòn, Xanh Vĩnh
Phú với các đặc điểm ăn tươi ngon nhưng năng
suất củ thấp tươi thấp (chỉ đạt trên dưới 10
tấn/ha), tỷ lệ tinh bột thấp (20-25%). Một trong
những yếu tố chính giúp nâng cao năng suất và
sản lượng sắn là nhờ sự tăng cường nghiên cứu,
nhập nội, lai tạo, ứng dụng công nghệ mới trong
chọn tạo và nhân giống sắn lai (Hoàng Kim &
cs., 2008).
Công tác nghiên cứu và phát triển giống
sắn của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã có
những bước tiến quan trọng, với bộ giống sắn
gồm nhiều giống tốt như HL23, HL24, HL20,
Xanh Vĩnh Phúc, KM60, KM94, KM95, SM37-
26, KM98-1 và KM140.
Giá trị sản xuất sắn đang bị ảnh hưởng
nghiêm trọng do dịch bệnh khảm lá CMV. Chọn
tạo giống sắn có khả năng chống chịu bệnh khảm
lá có ý nghĩa quan trọng, giúp bổ sung vào bộ
giống sắn hiện tại ở Việt Nam. Trong điều kiện
nhà kính hoặc phòng thí nghiệm, đánh giá nhiễm
hay khả năng chống chịu bệnh CMV được thực
hiện bằng cách lây nhiễm bệnh lên cây khỏe
bằng ghép hoặc sử dụng KIT chuẩn đoán virus,
trong đó sử dụng KIT cho kết quả nhanh, chính
xác, giúp xác định được hàm lượng virus trong
cây, từ đó phán đoán mức độ gây hại.
Gần đây, cơ chế truyền lây truyền bệnh
khảm lá CMV bằng phương pháp ghép đã được
chứng minh là rất hiệu quả (Wagaba, 2013). Từ
đó cho thấy công cụ này có thể là công cụ mạnh
để sàng lọc nhanh nguồn gen sắn kháng bệnh
trong điều kiện nhà kính nhà lưới. Đến nay, 3
gen kháng CMD là, CMD1 (recessive gene),
CMD2 (major dominant gene) và CMD3
(quantitative trait loci, QTL, conferring
resistance) đã được khám phá cùng với các chỉ
thị phân tử quan trọng liên kết với CMD2 và
CMD3 đã được nhận biết (Akano, 2002;
Fregene, 2001; Okogbenin, 2012).
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh
giá sơ bộ một số đặc điểm nông sinh học của các
mẫu giống sắn, và nhận biết mẫu giống sắn
kháng CMV thông qua phương pháp ghép trong
nhà lưới và phân tích phân tử. Từ đó đưa ra
khuyến cáo sử dụng trong chọn tạo giống và sản
xuất để giảm thiểu tác hại của bệnh.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu đánh giá trong thí nghiệm đồng
ruộng gồm 14 mẫu giống sắn mới được thu thập,
trong đó 10 mẫu giống có nguồn gốc trong nước,
2 mẫu giống có nguồn gốc nước ngoài với đối
chứng là 2 giống sắn KM94 và KM140 hiện
đang được trồng phổ biến trong sản xuất. Danh
sách vật liệu được cho dưới bảng 1.
Vật liệu sử dụng làm nguồn lây nhiễm bệnh
khảm lá CMV trong thí nghiệm lây nhiễm nhân
tạo là hom giống sắn bệnh của giống KM419
được vận chuyển từ Tây Ninh trong điều kiện
cách ly nghiêm ngặt: hom giống được bọc trong
giấy ẩm và bao kín hai lần trong túi nilon kín
suốt quá trình vận chuyển. Sau khi tiếp nhận,
tiến hành thiêu hủy vật liệu bao gói và trồng
hom sắn bệnh trong nhà lưới có mái che với hệ
thống lưới chống côn trùng, phun phòng bọ phấn
trắng định kỳ.
2.1. Đánh giá đặc điểm nông sinh học, năng
suất và yếu tố cấu thành năng suất của
nguồn vật liệu trên đồng ruộng:
- Các vật liệu được trồng trong vườn tập
đoàn, bố trí thí nghiệm theo kiểu tuần tự không
nhắc lại, mỗi vật liệu trồng 10 hom, ô thí
nghiệm 10m2.
- Kỹ thuật chăm sóc, phương pháp lấy mẫu
tham khảo QCVN 01-61:2011/BNNPTNT.
- Theo dõi một số chỉ tiêu tham khảo QCVN
01-61:2011/BNNPTNT, bao gồm:
+ Một số đặc điểm nông sinh học tiêu biểu:
thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, chiều cao
phân cành, số thân/khóm;
+ Một số yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất gồm số củ/cây, khối lượng củ tươi/cây,
năng suất củ tươi, khối lượng sắn lát khô/cây,
năng suất sắn lát khô;
+ Chỉ tiêu đánh giá chất lượng: hàm lượng
tinh bột.
Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của các vật liệu sắn (Manihot Esculenta Crantz) trên đồng ruộng và sàng
lọc khả năng kháng bệnh khảm lá CMV trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo bằng phương pháp ghép
1116
Bảng 1. Danh sách vật liệu nghiên cứu
Tên gọi Nguồn gốc Kí hiệu Địa điểm thu thập
Lá tre Sơn La Sơn La CM2 Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Lai đỏ Lai Châu Lai Châu CM3 Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Đờ hơ Hòa Bình Hòa Bình CM8 Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Sắn lùn Cao Bằng CM15 Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Sắn ăn Hoàng Su Phì Hà Giang CM16 Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Cao sản Tủa Chùa Điện Biên CM20 Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trắng Điện Biên Điện Biên CM21 Điện Biên
Mì cao sản Đăk Lắk CM50 Đăk Lắk
SC205 Bắc Giang CM60 Trung tâm NC&PT Cây có củ
DT4 Phú Thọ CM61 Trung tâm NC&PT Cây có củ
CuBa.Q15 Cu Ba CM88 Trung tâm NC&PT Cây có củ
Mozambic tím Mozambic CM169 Trung tâm NC&PT Cây có củ
KM140 Giống công nhận cấp Quốc gia ĐC1
KM94 ĐC2
Bảng 2. Danh sách các mồi đặc hiệu được sử dụng trong thí nghiệm
Mồi Trình tự mồi Kích thước sản phẩm (bp)
JSP1/JSP2 L- ATGTCGAAGCGACCAGGAGAT
R- TGTTTATTAATTGCCAATACT
770
JSP1/JSP3 L- ATGTCGAAGCGACCAGGAGAT
R- CCTTTATTAATTTGTCACTGC
770
- Phân tích phương sai ANOVA, hệ số biến
động (CV%) và sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
(LSD0,05) sử dụng phần mềm IRRISTAT 5.0.
2.2. Đánh giá khả năng chống chịu bệnh
CMV của nguồn vật liệu sắn thông qua thí
nghiệm lây nhiễm nhân tạo bằng phương
pháp ghép
- Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu khối
ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần lặp lại, mỗi lần
lặp lại là một khối.
- Phương pháp thí nghiệm:
+ Sử dụng phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ
tham khảo theo phương pháp của Rwegasira &
cs. (2015), mắt ghép lấy trên vật liệu sắn đã bị
nhiễm virus CMV trồng trong nhà lưới có hệ
thống lưới chống côn trùng và được phun phòng
bọ phấn trắng định kỳ để tránh lây lan nguồn
bệnh ra bên ngoài. Mỗi vật liệu thực hiện ghép
trên 9 hom, chia thành 3 lần nhắc lại, tạo nên
tổng số 126 cây ghép; trong đó CM2 thực hiện
ghép 4 mắt/cây, CM3 thực hiện ghép 5 mắt/cây,
CM21 thực hiện ghép 3 mắt/cây, các vật liệu còn
lại ghép 6 mắt/cây. Số mắt ghép thực hiện/cây
phụ thuộc vào số mắt của đoạn cắt.
+ Cắt đoạn ghép (25-30cm) và nhúng vào
nước ấm (45-50°C) trong 30 phút trước khi
trồng vào bầu (kích thước bầu (39 × 31,3cm).
+ Đánh giá kiểu gen: Sau trồng 2 tuần thu
mẫu lá non và kiểm tra sự có mặt của virus
trong cây bằng các cặp mồi đặc hiệu tham khảo
kết quả nghiên cứu của Jerome & cs. (2019)
trong bảng 2.
Tách chiết ADN từ lá tươi theo phương
pháp của Dellaporta & cs. (1983) có một số cải
tiến; mô lá non (lá ở chồi phát sinh từ mắt ghép)
được nghiền trong nitơ lỏng cùng 15ml đệm
chiết (EB) và thêm 10ml SDS 20%. Kết tủa
ADN được rửa 2 lần với 700l ethanol 80% và
sau đó làm khô tại nhiệt độ 25-30°C. Sau đó
ADN được hòa tan trong 50 l đệm 1 × TE (Tris,
EDTA) và cất trữ tại nhiệt độ −20°C.
Hoàng Thị Thùy, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà, Dương Thị Loan, Vũ Văn Liết
1117
Bảng 3. Đặc điểm của các mẫu giống sắn trong điều kiện năm 2019 tại Gia Lâm, Hà Nội
Ký hiệu
TGST
(ngày)
CCC
(cm)
CCPC
(cm)
Số
thân/khóm
Số
củ/cây
Kl củ tươi
(kg)
NS củ tươi
(tấn/ha)
Kl sắn lát khô
(kg)
NS sắn lát
khô (tấn/ha)
Hàm lượng
tinh bột (%)
CM2 263 168,1 - 1 8,3 5,0 17,1 ± 0,34 1,1 6,0 ± 0,21 12,7
CM3 272 171,9 23,6 1 7,5 3,6 18,4 ± 0,46 0,9 7,3 ± 0,18 11,6
CM8 256 165,5 78,5 1 6,3 3,7 20,2 ± 0,41 1,0 7,9 ± 0,11 19,6
CM15 311 167,8 - 2 11,1 4,5 24,4 ± 0,65 1,9 12,5 ± 0,27 21,6
CM16 287 183,2 121,4 1 7,2 3,8 20,6 ± 0,72 1,2 8,0 ± 0,25 12,5
CM20 242 171,2 77 1 12,9 3,6 22,4 ± 0,21 1,1 9,1 ± 0,34 23,1
CM21 265 179,9 - 2 12,7 4,1 15,6 ± 0,34 1,5 7,9 ± 0,42 19,9
CM50 287 181,3 - 1 4,5 3,5 13,7 ± 0,63 0,9 5,4 ± 0,15 22,1
CM60 275 158,4 - 3 9,1 3,8 22,7 ± 0,54 1,3 9,1 ± 0,09 21,2
CM61 265 173,8 37,9 1 10,4 4,3 23,7 ± 0,52 1,8 11,6 ± 0,28 19,4
CM88 296 165,2 53,6 1 7,8 4,3 22,5 ± 0,45 1,7 11,2 ± 0,15 17,1
CM169 307 173,5 - 1 4,3 3,4 21,6 ± 0,57 0,9 5,8 ± 0,08 13,3
ĐC1 251 169,3 - 1 15,8 5,8 30,7 ± 0,38 2,7 20,1 ± 0,37 26,2
ĐC2 312 178,1 - 1 13,4 5,3 29,9 ± 0,44 2,2 17,4 ± 0,21 25,1
Ghi chú: TGST: thời gian sinh trưởng; CCC: chiều cao cây; CCPC: chiều cao phân cành; KL: khối lượng;
NS: năng suất.
PCR thực hiện trong tổng thể tích 10l sử
dụng 5l master mix, 1l mỗi mồi, 1l của
khuôn ADN (150 ng/l) và 1l nước cất khử
trùng. Sản phẩm PCR chuyển lên gel agarose
1,8% sau đó quan sát bằng máy soi gel.
+ Đánh giá kiểu hình sau 3 tháng: quan sát
triệu chứng bệnh trên lá non và đánh giá theo
thang điểm như sau:
Điểm 1: các cây không có triệu chứng bệnh
Điểm 2: các cây có các chấm úa vàng trung
bình hoặc một số biến màu
Điểm 3: các cây có các chấm trên toàn bộ bề
mặt lá, xoăn lá
Điểm 4: các cây có bản lá biến màu hoặc
nhăn nheo (đến 2/3 diện tích lá)
Điểm 5: các cây có nhiều triệu chứng của
bệnh CMV và/hoặc tổng 4/5 diện tích lá biến
màu, cây còi cọc.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả đánh giá đặc điểm nông sinh
học, năng suất và yếu tố cấu thành năng
suất của nguồn vật liệu trên đồng ruộng
Các vật liệu được trồng thành vườn tập
đoàn trong khu thí nghiệm của Viện Nghiên cứu
và Phát triển cây trồng từ tháng 11/2018. Một
số tính trạng nông sinh học chính được theo dõi
và ghi nhận lại dưới bảng 3.
Đánh giá sơ bộ một số đặc điểm của 14 vật
liệu nghiên cứu cho thấy, các vật liệu có nguồn
gốc khác nhau, do đó các tính trạng quan sát
được cũng có sự sai khác đáng kể. Các vật liệu
nhìn chung cho thu hoạch sau 8-11 tháng trồng,
CM15 và CM169 có thời gian sinh trưởng >10
tháng, giống đối chứng 2 (KM94) có thời gian
sinh trưởng dài nhất trong số các vật liệu trong
nghiên cứu.
Chiều cao cây của các vật liệu ở mức trung
bình, không sai khác nhau đáng kể, dao động từ
160,0 đến 183,2cm. Có 6/14 vật liệu có phân cành
với chiều cao phân cành tương đối khác biệt, dao
động từ 23,6 đến 121,4cm. Có 11/14 mẫu giống có
1 thân/khóm, 3 mẫu giống còn lại có số
thân/khóm là 2 (CM15 và CM21) và 3 (CM60).
Khi 85% số cây của quần thể chín (khi cây
rụng khoảng 2/3 số lá, các lá còn lại trên thân
ngả vàng) tiến hành dỡ củ đánh giá sơ bộ năng
suất. Số củ/cây của các vật liệu có sự khác biệt
lớn, dao động từ 4,3-15,8 củ/cây. Giống đối
chứng 1 (KM140) có số củ/cây lớn nhất, trung
bình 15,8 củ/cây, CM169 (Mozambic tím) chỉ cho
Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của các vật liệu sắn (Manihot Esculenta Crantz) trên đồng ruộng và sàng
lọc khả năng kháng bệnh khảm lá CMV trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo bằng phương pháp ghép
1118
trung bình 4,3 củ/cây, CM50 (Mỳ cao sản) cho
trung bình 4,5 củ/cây. Nhìn chung không có
tương quan giữa số lượng củ/cây và khối lượng
củ tươi thu được. Các vật liệu cho lượng củ
tươi/cây dao động từ 3,4 đến 5,8kg, cao nhất là 2
giống đối chứng, ngoài ra CM2 (lá tre Sơn La)
cũng cho 5,0kg củ tươi/cây. Khối lượng củ tươi
thu được là yếu tố quan trọng giúp đánh giá
năng suất củ tươi cũng như năng suất sắn lát
khô, nhưng cũng là yếu tố chịu ảnh hưởng lớn
của điều kiện ngoại cảnh, điều kiện canh tác và
bệnh dịch hại. Năng suất củ tươi của các vật
liệu khi thu tất cả các hom trong quần thể dao
động từ 20,4 đến 30,7 tấn/ha, cao nhất là 2
giống đối chứng. Các vật liệu có năng suất củ
tươi thấp dưới 20 tấn/ha bao gồm CM2 (Lá tre
Sơn La), CM3 (Lai đỏ Lai Châu), CM21 (Trắng
Điện Biên) và CM50 (Mì cao sản), trong đó đáng
lưu ý CM2 có khối lượng củ tươi thu hoạch khá
tốt nhưng năng suất quần thể thấp do khuyết
mật độ.
Từ lượng củ tươi thu được, chúng tôi tiến
hành cắt lát, sấy khô và cân năng suất. Khối
lượng củ tươi thu được ở các vật liệu có tương
quan rõ rệt với khối lượng sắn lát khô, dao động
từ 0,87 đến 2,65kg. Năng suất sắn lát khô thu
được cao nhất ở giống đối chứng KM140, đạt
20,1 tấn/ha. Có thể thấy không có sự tương
quan chặt giữa năng suất củ tươi và năng suất
sắn lát khô do năng suất sắn lát khô chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố như độ xơ, độ bở, hàm
lượng nước.
Hàm lượng tinh bột của các vật liệu thu
được tương đối sai khác, dao động từ 11,6-
26,2%. Hai giống đối chứng là các giống có hàm
lượng tinh bột khá tốt đạt 26,2 và 25,1%. Có
4/12 vật liệu còn lại có hàm lượng tinh bột đạt
trên 20% gồm CM15, CM20, CM50 và CM60.
Sơ bộ đánh giá một số chỉ tiêu nông sinh
học của 14 vật liệu nghiên cứu, có thể thấy được
mức độ đa dạng về kiểu hình của các mẫu giống
sắn trong nghiên cứu này. Nhìn chung các mẫu
vật liệu mới thu thập có các đặc điểm về năng
suất và chất lượng kém hơn các giống đối chứng,
có thể sử dụng làm vật liệu lai tạo biến dị phục
vụ công tác chọn tạo giống sau này.
Bảng 4. Kết quả ghép mắt trên các vật liệu
Vật liệu
Số mắt ghép
thực hiện
Số mắt ghép
thành công
Tỷ lệ ghép thành công
(%)
Số cây ghép
thành công
Tỷ lệ cây ghép thành công
(%)
CM2 36 13 36,11 4 44,44
CM3 45 14 31,11 3 33,33
CM8 54 14 25,93 3 33,33
CM15 54 22 40,74 3 33,33
CM16 54 19 35,19 3 33,33
CM20 54 15 27,78 4 44,44
CM21 27 7 25,93 3 33,33
CM50 54 21 38,89 4 44,44
CM60 54 11 20,37 4 44,44
CM61 54 9 16,67 2 22,22
CM88 54 17 31,48 3 33,33
CM169 54 0 0 0 0
ĐC1 54 11 20,37 2 22,22
ĐC2 54 13 24,07 2 22,22
Tổng - 186 - 40 -
Trung bình - - 26,97 - 32,15
Hoàng Thị Thùy, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà, Dương Thị Loan, Vũ Văn Liết
1119
3.2. Kết quả đánh giá khả năng chống chịu
bệnh CMV của nguồn vật liệu sắn thông
qua thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo bằng
phương pháp ghép
3.2.1. Kết quả ghép mắt
Các vật liệu sau khi ghép mắt theo phương
pháp ghép mắt nhỏ có gỗ được trồng trong bầu
đất. Bầu được đặt trong khu cách ly (nhà lưới có
hệ thống màn chống côn trùng), che lưới đen và
tưới ẩm thường xuyên để đảm bảo tỷ lệ sống.
Sau khi ghép mắt 2 tuần, chúng tôi tiến hành
đánh giá tỷ lệ sống của mắt ghép và số cây ghép
thành công. Các cây ghép thành công duy trì
màu xanh sau ghép 2 tuần. Bảng 4 thể hiện tỷ
lệ mắt ghép thành công cũng như số cây ghép
thành công của mỗi giống sắn.
Kết quả đánh giá cho thấy tỷ lệ mắt ghép
thành công sau 2 tuần của các mẫu giống có sự
sai khác tương đối lớn, trong đó mẫu giống
CM169 (Mozambic tím) không thu được mắt
ghép thành công sau 2 tuần, các vật liệu còn lại
có tỷ lệ mắt ghép sống dao động từ 16,67%
(CM61-DT4) đến 40,74% (CM15 - Sắn lùn Cao
Bằng). Sau 2 tuần chúng tôi thu được 40 cây
ghép thành công (mỗi cây có 1-6 mắt ghép) của
13 mẫu giống.
3.2.2. Đánh giá kiểu gen của các vật liệu
sau ghép
Sau ghép 2 tuần, chúng tôi tiến hành thu
mẫu lá non của các vật liệu để kiểm tra sự có
mặt của virus CMV sử dụng 2 mồi đặc hiệu
JSP1/JSP2 kiểm tra sự có mặt của virus ACMV
và JSP1/JSP3 kiểm tra sự có mặt của
virus EACMV.
Kết quả phân tích cho thấy mồi JSP1/JSP2
cho xuất hiện band ở 8 mẫu giống với kích thước
band từ 750-800bp (Hình 1) trong khi không
quan sát thấy sản phẩm PCR ở mồi JSP1/JSP3
(Hình 2). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
của Jerome & cs. (2019). Như vậy có thể khẳng
định, trong phạm vi nghiên cứu này chỉ có virus
ACMV đã được lây nhiễm cho 8 vật liệu CM2,
CM3, CM8, CM15, CM20, CM60 và 2 giống đối
chứng thông qua phương pháp ghép.
3.2.3. Đánh giá kiểu hình của các vật liệu
sau ghép
Đánh giá kiểu hình được tiến hành 3 tháng
sau ghép. Kết quả đánh giá được thể hiện ở
bảng 6.
Sau 3 tháng, các vật liệu thể hiện mức độ
nhiễm khác nhau đối với virus CMV. Giống đối
chứng 1 (KM140) nhiễm nặng nhất với 1 cây
nhiễm bệnh điểm 4 và 1 cây nhiễm bệnh điểm 5.
Mẫu giống CM3 nhiễm nặng với mức độ nhiễm
bệnh điểm 4. Có 2 mẫu giống không có biểu hiện
bệnh là CM50 và CM61.
Trên cơ sở mức điểm bệnh, 13 mẫu giống
được phân thành 4 nhóm:
- Nhóm các mẫu giống nhiễm cao gồm các
mẫu giống có mức điểm hại trung bình 3,1-5:
CM2 (Lá tre Sơn La), CM3 (Lai đỏ Lai Châu),
ĐC1 (KM140).
- Nhóm các mẫu giống nhiễm gồm các mẫu
giống có mức điểm hại trung bình từ 2,1-3:
CM8 (Đờ Hơ Hòa Bình) và CM20 (Cao sản
Tủa Chùa).
- Nhóm các mẫu giống kháng có mức điểm
hại trung bình 1,1-2: CM15 (Sắn lùn Cao Bằng),
CM16 (Sắn ăn Hoàng Su Phì), CM21 (Trắng
Điện Biên), CM60 (SSC205), CM88 (CuBa.Q15),
ĐC2 (KM94).
Hình 1. Sản phẩm PCR kiểm tra sự có mặt
của virus ACMV với mồi JSP1/JSP2
Hình 2. Sản phẩm PCR kiểm tra sự có mặt
của virus EACMV với mồi JSP1/JSP3
Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của các vật liệu sắn (Manihot Esculenta Crantz) trên đồng ruộng và sàng
lọc khả năng kháng bệnh khảm lá CMV trong điều kiện lây nhiễm nhân tạo bằng phương pháp ghép
1120
Bảng 5. Chú thích kết quả chạy PCR
Ký hiệu giếng Vật liệu Ký hiệu giếng Vật liệu
1 CM2 8 CM50
2 CM3 9 CM60
3 CM8 10 CM61
4 CM15 11 CM88
5 CM16 12 ĐC1
6 CM20 13 ĐC2
7 CM21 M Thang chuẩn
Bảng 6. Kết quả đánh giá mức độ bệnh của các vật liệu sau ghép
Vật liệu Điểm nhiễm bệnh Vật liệu Điểm nhiễm bệnh
CM2 3,25 CM50 1,00
CM3 4,00 CM60 1,25
CM8 2,67 CM61 1,00
CM15 1,67 CM88 1,33
CM16 2,00 ĐC1 4,50
CM20 2,25 ĐC2 1,50
CM21 2,00
A B C
Ghi chú: A: Mẫu sắn sau ghép 30 ngày; B: Mẫu sắn CM15 - Sắn lùn Cao Bằng sau ghép 65 ngày; C: Mẫu sắn
sau ghép 3 tháng - một cây ghép của giống ĐC1 (KM140) với mức đánh giá nhiễm bệnh điểm 4).
Hình 3. Đánh giá các mẫu vật liệu sau ghép
- Nhóm các mẫu giống kháng cao có mức
điểm hại trung bình 1: CM50 (Mì cao sản Đăk
Lắk), CM61 (DT4).
Có thể thấy, các vật liệu CM15, CM60 và
ĐC1 có mang virus qua kết quả kiểm tra PCR 2
tuần sau ghép, nhưng sau 3 tháng các vật liệu
đều có biểu hiện triệu chứng bệnh ở mức nhiễm
rất nhẹ hoặc không nhiễm, cho thấy sự nhân lên
và gây hại của virus trong các vật liệu này là
không đáng kể. Đây có thể được coi là các vật
liệu kháng tốt, cần tiếp tục có những nghiên cứu
tiếp theo để có thể khẳng định chắc chắn hơn.
Hoàng Thị Thùy, Trần Thị Thanh Hà, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Văn Hà, Dương Thị Loan, Vũ Văn Liết
1121
Kết quả thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo
bằng phương pháp ghép cho thấy: sử dụng
phương pháp ghép giúp tạo ra tổ hợp các cây
ghép có mức độ nhiễm virus khác nhau nghĩa là
có thể sử dụng phương pháp này để lây truyền
virus phục vụ công tác nhận biết và đánh giá
các giống sắn kháng bệnh. Trong khuôn khổ
nghiên cứu này, tỷ lệ ghép thành công nhìn
chung còn thấp. Sau ghép 2 tuần các vật liệu
được phân tích ADN nhận biết được sự có mặt
của ACMV trong 7 vật liệu sử dụng chỉ thị
JPS1/JPS2, sơ bộ kết luận phương pháp ghép có
thể lan truyền ACMV.
4. KẾT LUẬN
Đánh giá đặc điểm nông sinh học, năng
suất, chất lượng và khả năng kháng bệnh khảm
lá CMV của 12 vật liệu sắn có nguồn gốc trong
nước và nhập nội với 2 giống đối chứng KM140
và KM94 cho thấy các vật liệu nhìn chung sinh
trưởng tốt, cho năng suất khá nhưng không vượt
các giống đối chứng về cả năng suất và chất
lượng. Khuyến cáo sử dụng các vật liệu này
trong lai tạo biến dị để nghiên cứu chọn giống
sắn mới.
Thực hiện thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo
trong nhà lưới bằng phương pháp ghép, phân
tích ADN kiểm tra sự có mặt của virus trên các
vật liệu sau ghép 2 tuần và đánh giá mức độ
nhiễm bệnh sau ghép 3 tháng, nhóm các mẫu
giống kháng và kháng cao được xác định gồm
CM15 (Sắn lùn Cao Bằng), CM16 (Sắn ăn
Hoàng Su Phì), CM21 (Trắng Điện Biên), CM60
(SSC205), CM88 (CuBa.Q15), ĐC2 (KM94),
CM50 (Mì cao sản Đăk Lắk) và CM61 (DT4).
Kết quả đánh giá trên đồng ruộng và đánh
giá tính kháng bệnh CMV trong thí nghiệm lây
nhiễm nhân tạo cho thấy bên cạnh 2 giống đối
chứng, CM15 (Sắn lùn Cao Bằng) là 1 vật liệu
triển vọng quy tụ cả năng suất cao và tính
kháng bệnh tốt. Bên cạnh đó, nhóm các giống
kháng cũng là những nguồn gen quý phục vụ
công tác chọn giống sắn lai năng suất cao và
kháng bệnh khảm lá CMV, cần được duy trì và
phát triển trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Akano O., Dixon O., Mba C., Barrera E. & Fregene M.
(2002). Genetic mapping of a dominant gene
conferring resistance to cassava mosaic disease.
Theor. Appl. Genet. 105: 521-525.
Dellaporta S.L., Wood J. & Hisks J.B. (1983). A plant
DNA minipreparation: version II, Plant Mol. Biol.
Rep. 1: 19-21.
Fregene M., Okogbenin E., Mba C., Angel F., Suarez
M.C., Guitierez J., Chavarriaga P., Roca W.,
Bonierbale M. & Tohme J. (2001). Genome
mapping in cassava improvement: challenges,
achievements and opportunities. Euphytica.
120: 159-165.
Hoang Kim, Nguyen Van Bo, Reinhardt H. & Hernan
C. (2008). Current Situation of Cassava in Vietnam
and the selection of cassava doubled haploid (DH)
lines derived from CIAT. Paper presented at
“Cassava meeting the challenges of the new
millennium” hosted by IPBO- Ghent University,
Belgium 21-25 July 2008.
Jerome A.H., Martine Z.T., Hermine B.N. ,Justin S.P.,
Gilles H.T.C., Sergine E.N. & Joseph M.B.C.A.
(2019). Evaluation of resistance to cassava mosaic
disease in selected African cassava cultivars using
combined molecular and greenhouse grafting tools.
Physiological and Molecular Plant Pathology.
105: 47-53.
Okogbenin E., Egesi C.N., Olasanmi B., Ogundapo O.,
Kahya S., Hurtado P., Marin J., Akinbo A.O., Mba
C., Gomez H., Vicente C., Baiyeri S., Uguru M.,
Ewa F. & Fregene M. (2012). Molecular marker
analysis and validation of resistance tocassava
mosaic disease in elite cassava cultivars in Nigeria.
Crop Sci. 52: 2576-2586.
Rwegasira G.M. & Chrissie M.E.R. (2015). Efficiency
of non-vector methods of cassava brown streak
virus transmission to susceptible cassava plants,
Afr. J. Food Agr. Nut. pp. 1684-5374.
Wagaba H., Beyene G., Trembley C., Alicai T.,
Fauquet C.M. & Taylor N.J. (2013). Efficient
transmission of Cassava brown streak disease viral
pathogens by chip bud grafting. BMC Res. Notes.
6: 516.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_mot_so_dac_diem_nong_sinh_hoc_cua_cac_vat_lieu_san.pdf