KÊT LUẬN
Các quần thể nhện đỏ P. citri tại các vùng
nghiên cứu đã kháng với các thuốc của các hoạt
chất: Silsau 10WP, Reasgant 1.8EC, Abatimec
3.6EC, Catex 3.6EC (Abamectin); Bini-58 40EC,
Vidithoat 40EC (Dimethoate); Tasieu 1.9EC,
Eagle 5EC (Emamectin benzoate); Ortus 5SC
(Fenpyroximate); Danitol 10EC (Fenpropathrin);
Alfamite 15EC, Koben 15EC (Pyridaben);
Comite 73EC (Propargite) với chỉ số kháng biến
động từ 11,5- 19,6.
Các quần thể nhện đỏ cam chanh có biểu
hiện kháng với các loại thuốc cùng nhóm, chưa
biểu hiện kháng chéo với các thuốc khác nhóm.
Nòi nhện đỏ cam chanh kháng Abamectin biểu
hiện tính kháng mạnh nhất đối với chính
Abamectin (Ri = 38,2) và Emamectin benzoate
(Ri= 29,2). Nòi nhện đỏ kháng Pyridaben biểu
hiện tính kháng mạnh nhất với chính Pyridaben
(Ri = 19,5).
Việc quản lý tính kháng thuốc trong hai mô
hình bưởi Sửu tại Phú Thọ và cam Sành tại Hậu
Giang thông qua việc sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật hợp lý, sau 2 năm thực hiện, chỉ số kháng
thuốc Ri của nhện với một số thuốc giảm đi rõ rệt.
Ở ngoài mô hình, người dân vẫn sử dụng thuốc
theo thói quen và chỉ số Ri tiếp tục tăng lên. Với
các nhóm thuốc chưa biểu hiện tính kháng là
nhóm thuốc thảo mộc (Azadirachtin, Matrine,
Rotenone, ) và dầu khoáng thì chỉ số kháng
thuốc không biến động nhiều.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá mức độ mẫn cảm của nhện đỏ cam chanh (panonychus citri mcgregor) (acari: tetranychidae) hại cây ăn quả có möi với các thuốc trừ nhện và biện pháp quản lý tính kháng thuốc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
28
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ MẪN CẢM CỦA NHỆN ĐỎ CAM CHANH
(Panonychus citri McGregor) (Acari: Tetranychidae) HẠI CÂY ĂN QUẢ CÓ MÖI
VỚI CÁC THUỐC TRỪ NHỆN VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TÍNH KHÁNG THUỐC
Evaluation on The Susceptibily of Citrus Red Mite
(Panonychus citri McGregor) (Acari: Tetranychidae) to [Acaricides]
and Resistance Management
Nguyễn Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Minh Đức,
Nguyễn Thị Thanh Hoài và Nguyễn Phạm Thu Huyền
Viện Bảo vệ thực vật
Ngày nhận bài: 15.08.2018 Ngày chấp nhận: 18.09.2018
Abstract
Citrus red mite (Panonychus citri McGregor) (Acari: Tetranychidae) is a dangerous pest in citrus in Viet Nam and
the use chemical acaricides is the main control method. During 2014-2016, the populations of citrus red mite in Phu
Tho, Hoa Binh, Nghe An and Hau Giang were tested for their resistant levels to acaricides of Abamectin (Silsau
10WP, Reasgant 1.8EC, Abatimec 3.6EC and Catex 3.6EC), Dimethoate (Bini-58 40EC and Vidthoat 40EC),
Emamectin benzoate (Billaden 50EC, Eagle 5EC , Tasieu 1.9EC), Fenpyroximate (Ortus 5SC, May 50SC)
Fenpropathrin (Danitol 10EC), Pyridabe (Alfamite 15EC and Koben 15EC), Proargite (Comite 73EC). The results
indicated that their resistance indexes (Ri) to miticides tested were ranged from 11.5 to 19.6, indicating that, citrus
red mites started to resist to acaricides which are commonly used.
The results showed that the resistant strains of citrus red mite generated from selection by using Reasgant
1.8EC và Alfamite 15EC exhibiting cross resistance to acaricides among Avermectin group. The strain that was
resistant to Abamectin (Ri = 38.2) was found to resist to Emamectin benzoate (Ri=29.2). The strain that was resistant
to Pyridaben also exhibiter resistance to Pyridaben (Ri =19.5). However, these strains were not resistant to other
acaricides (Amitraz, Azadirachtin, Dimethoate, Fenpyroximate, Pyridaben and Hexythiazox, Fenpropthrin ...)
because the their Rivalues were <10.
The models of acaricide resistance management (in Phu Tho and Hau Giang provinces) were successfuly
achieved by proper using of acaricides. The Ri was significantly reduced in the models in comparison with that in
farmer practice control (citrus red mites only exhibited resistance to 2 acariciades with Ri was 10.2 and 10.3).
Meanwhile, the Ri in the farmer practice field continued rising as a result of their habit in using insecticides
Keywords: Citrus red mite, acaricides, resistance index, cross-resistance, resistance management.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, tại các vùng
trồng CAQCM ở nước ta, nhện đỏ cam chanh
(Panonychus citri McGregor) được đánh giá là
một trong những loài sinh vật gây hại phổ biến.
Mặc dù việc phòng trừ nhện đỏ cam chanh ở
nước ta đã đi theo hướng phòng trừ tổng hợp
(Nguy n Văn Cảm và nnk, 2001; Nguy n Thị
Thủy, 2003) nhưng biện pháp hóa học (sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học) hiện vẫn
đang giữ vai trò chủ đạo. Kết quả nghiên cứu
đã cho thấy nhện đỏ cam chanh có vòng đời
ngắn, sức sinh sản cao nên mật độ quần thể
tăng rất nhanh và d gây hại nặng cho cây
(Nguy n Văn Đĩnh, 1992; Hoàng Lâm, 1991;
Donald, 2001; Gao, 1990). Bên cạnh đó, trong
việc phòng trừ nhện đỏ, nông dân thường sử
dụng nhiều loại thuốc hóa học khác nhau với
liều lượng cao hơn khuyến cáo 1,5 - 3 lần,
phun định kỳ 10- 15 ngày/lần, thậm chí 7
ngày/lần (Trần Xuân Dũng, 2001; Nguy n Văn
Cảm và nnk, 2001; Nguy n Văn Đĩnh, 1992) là
các nguyên nhân khiến cho nhện đỏ trên
CAQCM trải qua sự chọn lọc khắc nghiệt và
tăng nguy cơ phát triển tính kháng thuốc dẫn
đến việc phòng chống nhện đỏ trong sản xuất
ngày càng khó khăn và kém hiệu quả.
Các dẫn liệu trong bài viết này cung cấp kết
quả về thực trạng mức độ kháng thuốc và giải
pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong
quản lý tính kháng của nhện đỏ cam chanh tại
một số vùng sản xuất CAQCM hiện nay ở
nước ta.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
29
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
Quần thể nhện đỏ cam chanh (P.citri) mẫn cảm
với thuốc BVTV được duy trì và nhân nuôi từ năm
2011 tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thuốc, Cỏ dại
và Môi trường (Viện Bảo vệ thực vật).
Các quần thể nhện đỏ cam chanh (P.citri) thu
thập tại một số vùng sản xuất CAQCM (Phú Thọ,
Nghệ An, Hòa Bình, Hậu Giang).
Các hoạt chất của thuốc BVTV trừ nhện đỏ:
Abamectin, Dimethoate, Emamectin benzoate,
Fenpropathrin, Fenpyroximate, Propargite,
Pyridaben, Amitraz, Azadirachtin, Diafenthiuron,
Matrine, Petroleum spray oil, Rotenone.
2.2 Phƣơng pháp
- Đánh giá tính kháng thuốc của nhện đỏ cam
chanh hại CAQCM bằng phương pháp nhúng lá
theo IRAC (2009) trong phòng thí nghiệm, ẩm độ
70-75%, nhiệt độ 25-28
o
C.
+ Thu thập quần thể nhện đỏ cam chanh
trưởng thành tại các vùng nghiên cứu để lấy
nguồn nhện thí nghiệm. Sử dụng lá cam Sành
làm thức ăn cho nhện (cây được trồng cách ly
trong nhà lưới, không phun thuốc BVTV).
+ Nhúng lá thức ăn trong thời gian 5 giây vào
dung dịch nước thuốc đã pha theo nồng độ chủ
đích đối với công thức thuốc thí nghiệm và nhúng
lá vào nước cất đối với công thức đối chứng.
+ Lá sau khi nhúng thuốc được hong khô ở
điều kiện trong phòng. Dùng bút lông mềm bắt 20
nhện cái trưởng thành từ nguồn nuôi chuyển lên
bề mặtlá thí nghiệm. Đặt lá đã nhi m nhện trong
hộp petri có lót bông ẩm phía dưới.
+ Theo dõi số lượng nhện đỏ cam chanh còn
sống sau khi thả nhện 48, 72 và 96 giờ tùy đặc
tính của thuốc thí nghiệm.
+ Các thuốc thí nghiệm gồm: Abamectin
(Silsau 10WP, Catex 3.6EC, Reasgant 3.6EC,
Abatimec 3.6EC), Dimethoate (Vidithoat 40EC,
Bini-58 40EC ), Emamectin benzoate (Billaden
50EC, Eagle 5EC, Tasieu 1.9EC), Fenpropathrin
(Danitol 10EC), Fenpyroximate (Ortus 5SC, May
50SC), Propargite (Comite 73EC), Pyridaben
(Alfamite 15EC, Koben 15EC), Amitraz (Mitac 20
EC ), Azadirachtin (Sarkozy 1EC, Trutat 0.32EC),
Diafenthiuron (Detect 50WP), Matrine (Sokupi
0.36SL, Kobisuper1SL ), Petroleum spray oil (SK
Enspay 99EC), Rotenone (Trusach 2.5EC).
- Đánh giá tính kháng chéo của nhện đỏ cam
chanh theo phương pháp của Sato et al., (2005).
Cụ thể như sau:
Nhện đỏ cam chanh (nòi mẫn cảm) được nuôi
qua nhiều thế hệ dưới sức ép chọn lọc của thuốc
Reasgant 1.8EC và Alfamite 15EC. Nồng độ
thuốc được tăng lên (tạo sức ép chọn lọc ) ở mỗi
thế hệ nhện thí nghiệm sao cho đảm bảo tỷ lệ
sống sót của nhện thí nghiệm ở mỗi thế hệ chọn
lọc từ 30- 40% sau xử lý 48 giờ. Tiến hành chọn
lọc với nhện đến thế hệ (n) khi thử nghiệm có giá
trị LC50 ổn định với thuốc Reasgant 1.8EC và
Alfamite 15EC (tức là đã tạo ra nòi kháng).
Sau khi đã có 2 nòi nhện kháng với thuốc
Reasgant1.8EC và Alfamite 15EC thì tiến hành
thí nghiệm xác định khả năng kháng thuốc của
nhện với các nhóm thuốc khác.
Thí nghiệm được tiến hành theo phương
pháp nhúng lá như đã nêu trên.
- Tính toán số liệu: hiệu lực của thuốc đối với
nhện đỏ cam chanh được tính theo công thức
Abbott (1925); giá trị LC50 theo chương trình
POLO (LeOra Software, Berkeley, USA) và giá trị
LC50với giới hạn tin cậy 95% bằng chương trình
Probit của Finney 1971; mức độ kháng thuốc (chỉ
số Ri) được tính theo phương pháp của Lê
Trường và Nguy n Trần Oánh (1978):
Giá trị LC50 (LD50) của thuốc đối với quần thể dịch hại bị nghi là kháng thuốc
Ri = ------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giá trị LC50 (LD50) của thuốc đối với quần thể dịch hại mẫn cảm
Với: Nếu Ri ≥ 10: Quần thể dịch hại đã kháng thuốc
Nếu Ri< 10: Quần thể dịch hại chưa kháng thuốc
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Xác định mức độ kháng thuốc của các
quần thể nhện đỏ
Theo kết quả điều tra về tình hình sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật trên CAQCM tại các
vùng nghiên cứu, các quần thể nhện đỏ thu
thập ở các vùng này đã được đánh giá mức
độ mẫn cảm với các thuốc sử dụng (bảng 1).
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
30
Bảng 1. Mức độ kháng thuốc của các quần thể nhện đỏ P.citri với một số thuốc BVTV
(Phòng thí nghiệm - Viện Bảo vệ thực vật, năm 2014-2016)
TT Tên hoạt chất Tên thương phẩm
Chỉ số
kháng (Ri)
Biểu hiện
tính kháng
1 Abamectin Silsau 10WP, Catex 3.6EC,
Reasgant 3.6EC, Abatimec 3.6EC
11,5- 18,6
Đã có
2 Dimethoate Vidithoat 40EC, Bini-58 40EC 13,2-18,3
3 Emamectin benzoate Billaden 50EC, Eagle 5EC, Tasieu
1.9EC
12,0- 17,8
4 Fenpropathrin Danitol 10EC 13,3- 17,4
5 Fenpyroximate Ortus 5SC, May 50SC 13,7- 19,2
6 Propargite Comite 73EC, 12,4- 18,7
7 Pyridaben Alfamite 15EC, Koben 15EC 13,6- 19,6
8 Amitraz Mitac 20 EC 3,7-4,3
Chưa
9 Azadirachtin Sarkozy 1EC, Trutat 0.32EC 3,6 – 5,5
10 Diafenthiuron Detect 50WP 8,1-10,0
11 Matrine Sokupi 0.36SL, Kobisuper1SL 5,1-7,5
12 Petroleum spray oil SK Enspay 99EC 3,1-3,5
13 Rotenone Trusach 2.5EC 3,4-4,8
Kết quả đánh giá quần thể nhện đỏ cam
chanh đã bắt đầu biểu hiện tính kháng với một số
thuốc thường sử dụng thuộc các nhóm:
Abamectin (Ri từ 11,5- 18,6), Dimethoate (Ri từ
13,2-18,3), Emamectin benzoate (Ri từ 12,0-
17,8), Fenpropathrin (Ri từ 13,3- 17,4),
Fenpyroximate (Ri từ 13,7- 19,2), Pyridaben (Ri
từ 13,6- 19,6), Propargite (Ri từ 12,4- 18,7).
Như vậy, trong các năm tiếp theo, nếu người
sản xuất vẫn duy trì cách thức sử dụng các thuốc
trừ nhện như hiện nay thì hiệu lực các thuốc tiếp
tục giảm và việc phòng trừ nhện đỏ sẽ trở thành
thách thức đối với người sản xuất.
3.2 Nghiên cứu xác định khả năng kháng
chéo của nhện đỏ với một số loại thuốc
Trong phòng thí nghiệm, nòi nhện mẫn cảm
là vật liệu để tạo nòi kháng với các hoạt chất
Abamectin và Pyridaben. Quần thể nhện đã
được chọn lọc qua nhiều thế hệ cho đến khi
giá trị LC50 của chúng ổn định với 2 nhóm hoạt
chất trên thì tiến hành thử nghiệm tính kháng
chéo của nhện đỏ cam chanh với các thuốc.
Hai nòi nhện kháng này sẽ cho tiếp xúc với 11
loại thuốc khác nhau đang sử dụng phổ biến
trong phòng trừ và được xác định về chỉ số
kháng của chúng với các nhóm hoạt chất thí
nghiệm. Kết quả xác định chỉ số R i về khả
năng kháng chéo của quần thể nhện thí
nghiệm được trình bày trong bảng 2.
Bảng 2. Khả năng kháng chéo của nòi nhện đỏ P.citri kháng Abamectin
với các loại hoạt chất trừ nhện khác
(Viện Bảo vệ thực vật, 2014-2016)
Hoạt chất
thử nghiệm
Tên
thương phẩm
LC50 (ppm) Chỉ số
kháng
(Ri)
Nòi nhện đỏ cam
chanh kháng
Abamectin
Nòi nhện đỏ
cam chanh
mẫn cảm
Abamectin Reasgant1.8EC 2,6570 0,0695 38,2
Emamectin benzoate Tasieu 1.9EC 907,8091 31,1320 29,2
Amitraz Mitac 20EC 4,4201 3,9116 1,1
Azadirachtin Trutat 0,32EC 2,7873 2,4450 1,1
Diafentiuron Kyodo 25SC 60,0921 24,4277 2,5
Dimethoate Bini- 58 40EC 310,5300 86,9832 3,6
Rotenone Trusach 2.5EC 2,8299 2,7211 1,0
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
31
Hoạt chất
thử nghiệm
Tên
thương phẩm
LC50 (ppm) Chỉ số
kháng
(Ri)
Nòi nhện đỏ cam
chanh kháng
Abamectin
Nòi nhện đỏ
cam chanh
mẫn cảm
Fenpyroximate Ortus 5SC 5,6021 4,1807 1,3
Matrine Sokupi 0.36SA 0,5147 0,6772 0,8
Propargite Comite 73EC 20,7740 16,3575 1,3
Pyridaben Alfamite 15EC 9,6076 2,9653 3,2
Kết quả cho thấy, nòi nhện đỏ cam chanh
kháng hoạt chất Abamectin biểu hiện tính kháng
mạnh nhất đối với chính Abamectin (Ri = 38,2) và
thuốc cùng nhóm với Abamectin là Emamectin
benzoate (Ri = 29,2). Đối với các hoạt chất còn
lại, nòi kháng này biểu hiện tính kháng chưa rõ
ràng (giá trị Ri từ 0,8- 3,6) (bảng 2).
Tương tự, với nòi nhện đỏ cam chanh kháng
với hoạt chất Pyridaben cũng chỉ biểu hiện kháng
với chính nó. Nòi nhện đã kháng Pyridaben khi
cho tiếp xúc với 10 hoạt chất khác nhóm thì nòi
nhện này chưa có biểu hiện tính kháng rõ ràng
với bất cứ nhóm hoạt chất nào mà mới đang ở
mức độ chịu thuốc (Ri<10) (bảng 3).
Bảng 3. Khả năng kháng chéo của nòi nhện đỏ cam chanh kháng Pyridaben
với các loại hoạt chất trừ nhện khác (Viện Bảo vệ thực vật, 2014-2016)
Hoạt chất
thử nghiệm
Tên
thương phẩm
LC50 (ppm)
Ri Nòi nhện đỏ cam
chanh kháng
Pyridaben
Nòi nhện đỏ
cam chanh mẫn
cảm
Abamectin Reasgant1.8EC 0,2474 0,0695 3,6
Emamectin benzoate Tasieu 1.9EC 86,5470 31,132 2,8
Amitraz Mitac 20EC 5,3589 3,9116 1,4
Azadirachtin Trutat 0,32EC 1,2959 2,445 0,5
Diafentiuron Kyodo 25SC 52,7638 24,4277 2,2
Dimethoate Bini- 58 40EC 267,9083 86,9832 3,1
Rotenone Trusach 2.5EC 1,9320 2,7211 0,7
Fenpyroximate Ortus 5SC 4,6824 4,1807 1,1
Matrine Sokupi 0.36SA 0,2641 0,6772 0,4
Propargite Comite 73EC 18,4840 16,3575 1,1
Pyridaben Alfamite 15EC 57,6751 2,9653 19,5
3.3 Mức độ bền vững của tính kháng thuốc
của nhện đỏ cam chanh tại hai mô hình
Theo xu hướng chung để phòng trừ nhanh và
có hiệu quả các đối tượng dịch hại, thuốc hóa
học vẫn được xem là biện pháp tích cực được
dùng phổ biến ở các địa phương. Quan điểm của
các nhà khoa học cho rằng biện pháp phòng trừ
tổng hợp không nhằm mục tiêu loại bỏ việc sử
dụng các thuốc BVTV mà là sử dụng hợp lý và
chọn lọc các hóa chất BVTV.
Đã tiến hành xây dựng mô hình quản lý tính
kháng thuốc của nhện đỏ cam chanh trên cây
bưởi Sửu 10 năm tuổi tại Đoan Hùng (Phú Thọ).
Dựa vào kết quả điều tra năm 2013 về việc sử
dụng thuốc BVTV trên CAQCM và kết quả đánh
giá tính kháng thuốc của nhện đỏ cam chanh
năm 2014 -2016 tại vùng này để lựa chọn và áp
dụng thí nghiệm sử dụng thuốc trừ nhện hợp lý.
Kết quả thu được cho thấy, việc sử dụng thuốc
trừ nhện hợp lý, kết hợp đồng thời với việc áp
dụng các biện pháp quản lý sâu bệnh hại
CAQCM trên cơ sở IPM đã làm chậm quá trình
hình thành tính kháng thuốc của nhện ở vùng
nghiên cứu.
Sau 2 năm theo dõi, mức độ kháng thuốc của
nhện đỏ với một số thuốc BVTV ở trong và ngoài
mô hình đã có sự thay đổi rõ rệt thể hiện qua chỉ
số kháng thuốc của chúng với một số thuốc khảo
sát (bảng 4).
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
32
Bảng 4. Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ P.citri đối với một số thuốc BVTV
trên cây bƣởi Sửu sau khi thực hiện mô hình
(Phương Trung, Đoan Hùng, Phú Thọ, tháng 9-10/2016)
TT
Tên hoạt chất Tên thương phẩm
Chỉ số kháng thuốc (Ri)
Trước khi
thực hiện MH
(năm 2014)
Sau khi thực hiện MH
(năm 2016)
MH NMH
1 Abamectin Reasgant 1.8EC 12,3 8,8 18,8
2 Amitraz Mitac 20 EC 4,2 4,0 4,3
3 Azadirachtin Trutat 0.32EC 3,6 4,0 3,8
4 Diafenthiuron Kyodo 25SC 5,1 5,5 5,2
5 Dimethoate Bini-58 40EC 15,8 10,2 16,8
6 Emamectin benzoate Tasieu 1.9EC 12,0 8,7 12,6
7 Rotenone Trusach 2.5EC 4,7 4,9 4,8
8 Fenpyroximate Ortus 5SC 14,2 9,4 14,7
9 Pyridaben Alfamite 15EC 13,6 8,4 14,8
10 Matrine Sokupi 0.36SL 7,3 7,5 7,5
11 Propargite Comite 73EC 12,4 8,1 13,8
12 Petroleum spray oil SK Enspay 99EC 3,4 3,4 3,4
Ghi chú: MH: Mô hình; NMH: Ngoài mô hình
Trong mô hình, giá trị Ri thuốc Comite 73EC
đã giảm từ 12,4 (năm 2014) xuống 8,1 (năm
2016) và chỉ số Ri đối với thuốc Alfamite 15EC
đã giảm từ 13,6 (năm 2014) xuống 8,4 (năm
2016).
Ngoài mô hình, nông dân sử dụng thuốc
BVTV theo kinh nghiệm. Trong gần 2 năm, một
số thuốc được sử dụng 2- 3 lần, có thuốc được
sử dụng tới 5 lần. Điều này dẫn đến chỉ số Ri
biến động theo hướng tăng lên. Thuốc Reasgant
1.8EC với 5 lần sử dụng (2 lần trừ nhện và 3 lần
trừ các sâu hại khác) nên nhện đỏ cam chanh
chịu sức ép chọn lọc cao, giá trị Ri đã tăng từ
12,3 (năm 2014) lên 18,8 (năm 2016); thuốc
Tasieu 1.9EC giá trị Ri tăng từ 12,0 lên 12,6;
thuốc Ortus 5SC giá trị Ri tăng từ 14,2 lên 14,7;
thuốc Alfamite 15EC giá trị Ri tăng từ 13,6 lên
14,8; thuốc Comite 73EC giá trị Ri tăng từ 12,4
lên 13,8 (bảng 4).
Với mô hình quản lý tính kháng thuốc của
nhện đỏ cam chanh trên cây cam Sành tại Hậu
Giang cũng cho kết quả tương tự. Kết quả cho
thấy, với sự chỉ đạo về việc sử dụng thuốc hợp lý
trong mô hình, giá trị Ri với một số thuốc giảm
mạnh. Thuốc Reasgant 3.6EC (Abamectin) có
chỉ số Ri giảm từ 15,0 xuống 9,6; thuốc Comite
73EC (Propargite) Ri giảm từ 15,3 xuống 9,2; các
thuốc khác Bini-58 40EC (Dimethoate), Ri giảm
từ 14,2 xuống 10,2; Alfamite 15EC (Pyridaben),
Ri giảm từ 18,2 xuống 10,3. Các thuốc Tasieu
1.9EC (Emamectin benzoate), Danitol 10EC
(Fenpropathrin) không dùng trong mô hình và giá
trị Ri cũng giảm xuống dưới mức kháng (Ri<10)
(bảng 5).
Bảng 5. Mức độ kháng thuốc của nhện đỏ P.citri đối với một số thuốc BVTV
trên cây cam Sành sau khi thực hiện mô hình
(TT Ngã Sáu, Châu Thành, Hậu Giang, tháng 9/2016)
TT
Tên hoạt chất Tên thương phẩm
Chỉ số kháng (Ri)
Trước khi
thực hiện MH
(năm 2014)
Sau khi thực hiện
MH (năm 2016)
MH NMH
1 Abamectin Reasgant 3.6EC 15,0 9,6 18,6
2 Amitraz Binhtac 20 EC 3,8 3,5 3,0
3 Azadirachtin Trutat 0.32EC 4,1 4,3 3,8
4 Diafenthiuron Kyodo 25SC 7,1 8,3 6,1
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
33
TT
Tên hoạt chất Tên thương phẩm
Chỉ số kháng (Ri)
Trước khi
thực hiện MH
(năm 2014)
Sau khi thực hiện
MH (năm 2016)
MH NMH
5 Dimethoate Bini-58 40EC 14,2 10,2 18,3
6 Emamectin benzoate Tasieu 1.9EC 14,7 8,6 17,8
7 Fenpropathrin Danitol 10EC 13,3 8,0 17,4
8 Fenpyroximate Ortus 5SC 17,4 10,2 19,2
9 Matrine Sokupi 0.36SL 5,8 5,0 6,1
10 Propargite Comite 73EC 15,3 9,2 18,7
11 Pyridaben Alfamite 15EC 18,2 10,3 19,6
12 Rotenone Trusach 2.5EC 3,4 3,4 3,5
13 Petroleum spray oil SK Enspay 99EC 3,5 3,5 3,5
Ghi chú: MH: Mô hình, NMH: Ngoài mô hình
Ngoài mô hình, chỉ số kháng thuốc Ri của
nhện đỏ với các thuốc có biểu hiện kháng từ
2014 đều tăng ở các mức độ khác nhau. Thuốc
Reasgant 3.6EC (Abamectin); Bini-58 40EC
(Dimethoate); Danitol 10EC (Fenpropathrin),
Ortus 5SC (Fenpyroximate) được người dân sử
dụng 4 lần (2 lần liên tiếp/năm) có chỉ số Ri biến
động từ 13,3 – 17,4 tăng lên 17,4 - 19,2. Các
thuốc sử dụng 3 lần có giá trị Ri biến động từ
15,3 – 18,2 tăng lên 17,8- 19,6 là Comite 73EC
(Propargite), Alfamite 15EC (Pyridaben), Tasieu
1.9EC (Emamectin benzoate).
4. KÊT LUẬN
Các quần thể nhện đỏ P. citri tại các vùng
nghiên cứu đã kháng với các thuốc của các hoạt
chất: Silsau 10WP, Reasgant 1.8EC, Abatimec
3.6EC, Catex 3.6EC (Abamectin); Bini-58 40EC,
Vidithoat 40EC (Dimethoate); Tasieu 1.9EC,
Eagle 5EC (Emamectin benzoate); Ortus 5SC
(Fenpyroximate); Danitol 10EC (Fenpropathrin);
Alfamite 15EC, Koben 15EC (Pyridaben);
Comite 73EC (Propargite) với chỉ số kháng biến
động từ 11,5- 19,6.
Các quần thể nhện đỏ cam chanh có biểu
hiện kháng với các loại thuốc cùng nhóm, chưa
biểu hiện kháng chéo với các thuốc khác nhóm.
Nòi nhện đỏ cam chanh kháng Abamectin biểu
hiện tính kháng mạnh nhất đối với chính
Abamectin (Ri = 38,2) và Emamectin benzoate
(Ri= 29,2). Nòi nhện đỏ kháng Pyridaben biểu
hiện tính kháng mạnh nhất với chính Pyridaben
(Ri = 19,5).
Việc quản lý tính kháng thuốc trong hai mô
hình bưởi Sửu tại Phú Thọ và cam Sành tại Hậu
Giang thông qua việc sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật hợp lý, sau 2 năm thực hiện, chỉ số kháng
thuốc Ri của nhện với một số thuốc giảm đi rõ rệt.
Ở ngoài mô hình, người dân vẫn sử dụng thuốc
theo thói quen và chỉ số Ri tiếp tục tăng lên. Với
các nhóm thuốc chưa biểu hiện tính kháng là
nhóm thuốc thảo mộc (Azadirachtin, Matrine,
Rotenone,) và dầu khoáng thì chỉ số kháng
thuốc không biến động nhiều.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguy n Văn Cảm, Phạm Văn Lầm, Đinh Thị Thảo,
Nguy n Văn Liêm, Nguy n Hồng Yến, Nguy n Thị Hiền
(2001), Nghiên cứu sử dụng dầu khoáng trong phòng
trừ tổng hợp sâu hại cây có múi tại nông trường Cao
Phong tỉnh Hòa Bình. Tuyển tập công trình nghiên cứu
BVTV 1996-2000, tr.269-275.
2. Trần Xuân Dũng (2003), Đặc điểm phát sinh, gây
hại và khả năng phòng chống nhện hại cam quýt ở
vùng đồi tỉnh Hoà Bình. Tóm tắt luận án Tiến sĩ Nông
nghiệp, 24 trang.
3. Nguy n Văn Đĩnh (1992), Những vấn đề phòng
chống nhện hại cây trồng hiện nay. Tạp chí BVTV, số
1, tr 12-13.
4. Nguy n Văn Đĩnh (1997), Nghiên cứu nhện hại
cam chanh vùng Hà Nội. Kết quả nghiên cứu khoa học
1992- 1996, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.92-96.
5. Hoàng Lâm (1991), Hiện tượng giảm hiệu lực của
các thuốc Pyrethroid đối với nhện đỏ Panonychus citri,
Tạp chí BVTV, số 6, tr.26
6. Nguy n Thị Thủy (2003). Nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học sinh thái của nhện đỏ hại cam quýt và biện
pháp phòng trừ vùng ngoại thành Hà Nội. Báo cáo Thạc sĩ
Nông nghiệp.
7. Lê Trường và Nguy n Trần Oánh (1978), Giáo
trình Hóa Bảo vệ thực vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
8. Abbott W.S. (1925). A method for computing the
effectiveness of an insecticide. Journal of Economic
Entomology, 18: 265-267.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_muc_do_man_cam_cua_nhen_do_cam_chanh_panonychus_cit.pdf