KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm TSVKHK và E. coli trong thịt
lợn đang tiêu thụ tại 3 chợ Mường Thanh, Him
Lam, Trung Tâm của tỉnh Điện Biên lần lượt là
98,89% và 75,56%, trong đó tỷ lệ mẫu không
đạt tiêu chuẩn vệ sinh về TSVKHK là 48,89%
và E. coli là 42,22%.
Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn E. coli tăng dần và tỷ lệ
thuận với thời gian sau giết mổ và tăng cao trong
mùa Hè - Thu so với thời điểm mùa Đông - Xuân.
Các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được
đều thể hiện các đặc tính sinh vật, hóa học đặc
trưng của giống.
Cả 5 chủng đem thử đều có độc lực rất cao,
gây chết 100% động vật thí nghiệm trong vòng
48 giờ sau khi tiêm.
Vi khuẩn E. coli mẫn cảm với Enrofloxacin,
Norfloxacin Gentamycin và Spectinomycin với
tỷ lệ 67,65 % - 91,18%. Một số chủng E. coli đã
kháng với kháng sinh Streptomycin, Oxacillin,
Cephalexin (57,35% - 77,94%) và kháng rất cao
với Tetracyclin (80,88 %).
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá mức độ ô nhiễm vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh thực phẩm, đặc điểm sinh học của vi khuẩn E. Coli trong thịt lợn tại tỉnh Điện Biên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
61
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
ÑAÙNH GIAÙ MÖÙC ÑOÄ OÂ NHIEÃM VI KHUAÅN CHÆ ÑIEÅM VEÄ SINH THÖÏC PHAÅM,
ÑAËC ÑIEÅM SINH HOÏC CUÛA VI KHUAÅN E. COLI TRONG THÒT LÔÏN
TAÏI TÆNH ÑIEÄN BIEÂN
Nguyễn Văn Tuyên
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
TÓM TẮT
Chúng tôi đã phân tích 90 mẫu thịt lợn thu tại các chợ bán lẻ của tỉnh Điện Biên từ tháng 6/2016
- 4/2017 để khảo sát mức độ ô nhiễm về chỉ tiêu tổng số vi khuẩn hiếu khí (TSVKHK) và E. coli ở
thịt lợn. Kết quả phân tích cho thấy có 98,89% mẫu thịt dương tính với TSVKHK, trong đó tỷ lệ mẫu
không đạt tiêu chuẩn vệ sinh là 48,89%. Có 75,56% mẫu thịt nhiễm E. coli với tỷ lệ mẫu không đạt
tiêu chuẩn an toàn thực phẩm về mức nhiễm E. coli dao động từ 30% - 53,33% và số lượng vi khuẩn
E. coli nhiễm trong các mẫu thịt này dao động trong khoảng 1,03 x 102 CFU/g đến 5,23 x 102 CFU/g.
Trong đó, thịt lợn bán ở chợ trung tâm có tỷ lệ và cường độ nhiễm khuẩn vượt quá giới hạn cho phép
là cao nhất. Tỷ lệ nhiễm khuẩn E. coli tăng dần và tỷ lệ thuận với thời gian sau giết mổ và tăng trong
mùa Hè - Thu so với mùa Đông - Xuân. Các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được mang đầy đủ các
đặc tính sinh vật, hóa học đặc trưng của giống và được xác định là có khả năng gây độc cho con người.
Kết quả kiểm tra mức độ mẫn cảm với kháng sinh của 68 chủng vi khuẩn phân lập cho thấy có 67,65
% - 91,18% số lượng chủng mẫn cảm với enrofloxacin, norfloxacin và gentamycin, spectinomycin.
Các chủng E. coli phân lập đã kháng lại tetramycine (80,88%), streptomycin (77,94%), oxacillin
(66,18%) và erythromycin (42,65%). Các chủng vi khuẩn đều có độc lực rất cao, gây chết 100% động
vật thí nghiệm trong vòng 8 - 48 giờ sau khi tiêm.
Từ khóa: Escherichia coli, ngộ độc thực phẩm, ô nhiễm vi sinh vật, thịt lợn, Điện Biên.
Survey on microbial contamination, characteristics of E. coli bacteria
in pork samples collected in Dien Bien province
Nguyen Van Tuyen
SUMMARY
This study was carried out to determine the prevalence of aerobic bacteria total and E. coli in
pork selling in some markets of Dien Bien province. A total of 90 pork samples collected randomly
at 3 local markets in Dien Bien province from June, 2016 to April, 2017 were analysed to
determine the bacterial contamination in pork. The studied result showed that 98.89% of samples
were positive with aerobic bacteria total. Of which, 48.89% of samples were contaminated with
aerobic bacteria total over the limited level; 75.56% of samples were contaminated with E. coli.
Of which, 30 - 53.33% of samples were contaminated with E. coli over the permitted level of
food safety, with the bacterial numbers ranging from 1.03x102 CFU/g to 5.23x102 CFU/g. The
highest infection rate and intensity of E. coli in pork were in the central market. The prevalence
of E. coli in pork was gradually increased and proportional to the time after slaughter and also
increased in summer - autumn rather than in winter - spring. The isolated E. coli strains carried
all the bio-chemistry characteristics of the E.coli bacteria and caused poison for human. The
antibiotic susceptibility test of 68 E. coli strains showed that 67.65% - 91.18% of the isolated
strains were susceptible to enrofloxacine, norfloxacine, gentamycine and spectinomycine. The
isolated E. coli strains were strongly resistant to tetramycine (80.88%), streptomycin (77.94%),
62
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
oxacillin (66.18%) and erythromycin (42.65%). All (100%) of the isolated E. coli strains were
virulent, killing the experimental guinea pigs within 8 to 48 hours.
Keywords: Escherichia coli, food poisoning, microbial contamination, pork, Dien Bien province.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, ngộ độc thực
phẩm xảy ra thường xuyên và với số lượng vụ
ngộ độc thực phẩm rất lớn làm ảnh hưởng không
nhỏ đến sức khoẻ con người và kinh tế của người
dân. Nguyên nhân là do thức ăn không đảm bảo
vệ sinh, nhiều tạp chất, chất hoá học đặc biệt
do thức ăn nhiễm một số loại vi khuẩn như: E.
coli, Salmonella spp., Staphylococcus aureus và
Listeria monocytogenes
Những năm gần đây, tình trạng ngộ độc thực
phẩm ở nước ta đang có xu hướng tăng và ảnh
hưởng không nhỏ tới sức khỏe con người. Việt
Nam là nước đang phát triển thuộc vùng nhiệt
đới, trình độ sản xuất còn thấp cộng với khí hậu
nóng ẩm đã tạo điều kiện cho nhiều loài vi sinh
vật gây hại thực phẩm phát triển. Theo Tổng
cục thống kê (2018), trong 6 tháng đầu năm
2018, cả nước xảy ra 44 vụ ngộ độc thực phẩm
làm 1.207 người bị ngộ độc, trong đó có 7 trường
hợp tử vong. Riêng tại tỉnh Điện Biên, chưa có
kết quả nghiên cứu chính thức nào được báo cáo
về tình hình ngộ độc thực phẩm có liên quan đến
vi sinh vật.
Thực tế hiện nay, thực phẩm có nguồn gốc từ
động vật, đặc biệt là thịt lợn bán ở một số chợ,
cửa hàng lại không đảm bảo chất lượng. Điều
đó cũng lý giải tại sao hàng năm có rất nhiều
vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra. Nguyên nhân gây
ngộ độc thực phẩm là do ăn, uống một lượng lớn
các vi sinh vật và các độc tố của chúng. Điều
đáng chú ý ở đây là một số độc tố của chúng
bền với nhiệt và khó bị phân hủy ở nhiệt độ cao
như độc tố ruột enterotoxin của nhóm vi khuẩn
enterotoxigenic E. coli. Hơn nữa vi khuẩn này
còn có khả năng kháng kháng sinh streptomycin,
spectinomycin, khi gặp điều kiện thuận lợi có
thể gây những bệnh nguy hiểm.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến
hành xác định mức độ ô nhiễm vi khuẩn chỉ
điểm vệ sinh thực phẩm và đặc điểm sinh học
của vi khuẩn E. coli trong thịt lợn bán tại một số
chợ của tỉnh Điện Biên.
II. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu thịt lợn thu thập ngẫu nhiên tại 3 chợ
bán lẻ khác nhau tại tỉnh Điện Biên.
- Các loại môi trường dùng trong nghiên
cứu là các loại môi trường tổng hợp sẵn như
Nutrient broth, BHI broth, Plate Count Agar,
MacConkey agar, blood agar dùng cho nuôi cấy,
giám định một số đặc tính sinh học của các vi
khuẩn phân lập được.
- Các khoanh giấy tẩm kháng sinh của hãng
Oxoid (Anh)
- Chuột bạch khỏe khối lượng từ 18 - 20 g/
con.
- Hóa chất, dụng cụ, máy móc thuộc phòng
thí nghiệm vi sinh vật.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Phân lập, xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm
TSVKHK, vi khuẩn E. coli từ các mẫu thịt lợn
thu thập từ các chợ bán lẻ của thành phố Điện
Biên Phủ vào các thời điểm khác nhau trong
ngày và các mùa khác nhau trong năm.
- Xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học
của các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được.
- Xác định khả năng gây độc trên động vật
thí nghiệm của 1 số chủng vi khuẩn E. coli phân
lập được.
- Xác định tính mẫn cảm với một số kháng
sinh của một số chủng E. coli.
63
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp lấy mẫu
- Lấy mẫu thịt tươi theo TCVN 4833-1:2002,
TCVN 4833-2:2002, ISO 3100-2:1988.
- Thu thập ngẫu nhiên 90 mẫu thịt lợn tại
3 chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Điện Biên
Phủ. Mẫu được lấy vào 2 thời điểm là sau giết
mổ 2 - 3 giờ và sau giết mổ 6 - 8 giờ. Thời gian
từ tháng 6/2016 đến 4/2017. Mỗi mẫu được
đựng riêng rẽ vào một túi nilong sạch, có ghi
rõ ký hiệu. Các mẫu được bảo quản trong nhiệt
độ lạnh (4 - 8oC) và chuyển ngay về phòng thí
nghiệm Vi sinh, Viện Khoa học sự sống (Đại
học Thái Nguyên) để xử lý mẫu trong ngày.
2.3.2. Phương pháp phân lập, giám định vi
khuẩn
- Phương pháp phân lập vi khuẩn chỉ điểm an
toàn thực phẩm trên thịt
Phân lập vi khuẩn theo TCVN 5667:1992 để
xác định chỉ tiêu TSVKHK và TCVN 5155:1990
để xác định chỉ tiêu E. coli trên thịt lợn.
- Phương pháp phát hiện, giám định vi khuẩn
E. coli trên mẫu thịt
Sau khi pha loãng mẫu và nuôi cấy mẫu
theo quy trình trên môi trường MacConkey, bồi
dưỡng ở nhiệt độ 37oC trong 24 giờ, chọn những
khuẩn lạc điển hình để giám định các đặc tính
sinh hóa, làm cơ sở xác định chính xác loài E.
coli.
- Kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn E.
coli phân lập được bằng phương pháp gây bệnh
cho động vật thí nghiệm (Theo Carter và cộng sự,
1994). Canh trùng được tạo ra bằng cách lấy khuẩn
lạc nuôi cấy vào môi trường BHI, bồi dưỡng tủ
ấm 37oC trong 24 giờ, nồng độ vi khuẩn đạt 106
- 107 vi khuẩn/ml. Tiến hành tiêm canh trùng vào
xoang phúc mạc của chuột bạch, liều tiêm 0,5ml
canh trùng/con. Theo dõi trong vòng 7 ngày. Sau
khi chuột chết, mổ khám kiểm tra bệnh tích rồi lấy
máu tim cấy vào môi trường nước thịt, thạch máu
và thạch MacConkey, bồi dưỡng tủ ấm 37oC trong
24 giờ, kiểm tra tính chất mọc, phết kính kiểm tra
hình thái vi khuẩn và kết luận.
Phương pháp thử tính mẫn cảm kháng sinh:
Xác định tính mẫn cảm của kháng sinh theo
phương pháp của Kirby- Bauer.
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phương pháp
thống kê sinh học của Nguyễn Văn Thiện
(2000), Minitab 14, Excel.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Xác định mức độ ô nhiễm vi khuẩn chỉ
điểm vệ sinh thực phẩm trên thịt lợn
3.1.1. Kết quả kiểm tra TSVKHK trong thịt lợn
Bảng 1. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu tổng số VKHK trong thịt lợn tươi
TT Địa điểm
Chỉ tiêu khảo sát Cường độ nhiễm ở các mẫu không đạt TCVN
Số
mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương
tính
Tỷ
lệ
(%)
Số mẫu
không đạt
TCVN *
Tỷ
lệ
(%)
Mức thấp
nhất
(CFU/g)
Mức
cao
nhất
(CFU/g)
Mức
trung bình
(CFU/g)
1 Mường Thanh 30 29 96,67 15 50,00 1,01x106 5,37x106 3,49x106
2 Him Lam 30 30 100 13 43,33 1,16x106 4,25x106 2,55x106
3 Trung Tâm 30 30 100 16 53,33 1,02x106 6,27x106 3,68x106
Tính chung 90 89 98,89 44 48,89 1,01x106 6,27x106 3,49x106
* Quy định kỹ thuật theo TCVN 7046:2002, số khuẩn lạc (tổng số VK hiếu khí) ≤106 CFU/g
CFU: Colony Forming Unit
64
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Từ bảng 1, các kết quả thu được cho thấy:
Tỷ lệ các mẫu dương tính với TSVKHK rất cao
(98,89%), số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh dao
động từ 43,33% đến 53,33%. Mức nhiễm cao nhất
từ 4,25x106– 6,27x106 CFU/g; thấp nhất từ 1,01x106
- 1,16x106 CFU/g. Tại 3 địa điểm lấy mẫu, không
có sự khác biệt rõ rệt (P=0,128). Kết quả nghiên
cứu này thấp hơn kết quả của Khiếu Thị Kim Anh
(2009), Nguyễn Thị Thu Trang (2008); các tác giả
cho biết tỷ lệ mẫu thịt lợn nhiễm TSVKHK dao
động từ 46,6% - 60,9%. Sở dĩ mức độ nhiễm khuẩn
cao, vượt quá mức cho phép là do: địa điểm giết
mổ mang tính chất tạm bợ, không đảm bảo vệ sinh,
dụng cụ thủ công Nguồn nước sử dụng cho các
khâu giết mổ không đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Sau khi
giết mổ, thịt được vận chuyển thẳng tới các khu chợ
bằng các phương tiện không đảm bảo tiêu chuẩn vệ
sinh thú y, không được bao gói bảo quản. Việc bày
bán thịt ở chợ tự do suốt cả ngày. Công tác kiểm
tra vệ sinh thú y chỉ được diễn ra 1 lần, thường
vào buổi sáng. Mức độ đánh giá sơ bộ chủ yếu ở
cảm quan. Do đó, không thể đảm bảo thịt luôn tươi
ngon, không bị nhiễm khuẩn. Nhận xét này phù hợp
với kết quả nghiên cứu của một số tác giả Lê Minh
Sơn (2003) và Tô Liên Thu (2006) cho rằng thịt bị
nhiễm khuẩn chủ yếu là do đất, nước, dụng cụ và
quá trình vận chuyển từ điểm giết mổ đến nơi tiêu
thụ.
3.1.2. Kết quả kiểm tra vi khuẩn E. coli trong
thịt lợn
Đối với thực phẩm tươi sống, đặc biệt là
thực phẩm có nguồn gốc động vật, việc kiểm
tra chỉ tiêu E. coli là yêu cầu bắt buộc, nó là
một trong những tiêu chuẩn cần thiết để đánh
giá tình trạng vệ sinh thực phẩm.
Kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn E.
coli trên thịt lợn lấy từ 3 chợ bán lẻ đại diện
cho phương thức buôn bán thịt lợn tại Điện
Biên. Kết quả được tổng hợp trong bảng 2 và
biểu đồ 1.
Bảng 2. Kết quả xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm khuẩn E. coli trên thịt lợn
TT Địa điểm(chợ)
Chỉ tiêu khảo sát Cường độ nhiễm ở các mẫu không đạt TCVN
Số mẫu
kiểm
tra
Số mẫu
dương
tính
Tỷ
lệ (%)
Số mẫu
không đạt
TCVN *
Tỷ
lệ
(%)
Mức
thấp nhất
(CFU/g)
Mức
cao nhất
(CFU/g)
Mức
trung bình
(CFU/g)
1 Mường Thanh 30 23 76,67 13 43,33 1,05x102 4,29x102 2,01x102
2 Him Lam 30 19 63,33 9 30,00 1,03x102 3,68x102 1,89x102
3 Trung Tâm 30 26 86,67 16 53,33 1,19x102 5,23x102 2,28x102
Tính chung 90 68 75,56 38 42,22 1,03x102 5,23x102 2,01x102
Quy định kỹ thuật theo TCVN 7046:2002, số vi khuẩn E. coli ≤ 102 CFU/g; CFU: Colony Forming Unit
Biểu đồ 1. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn E. coli trên thịt lợn
%
65
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Kết quả thu được ở bảng 2 và biểu đồ 1
cho thấy: trong 90 mẫu thịt lợn được kiểm tra,
có 75,56% mẫu dương tính với E. coli, với 38
mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm,
chiếm 42,22%. Mức nhiễm khuẩn tại các điểm
lấy mẫu cao nhất từ 3,68 x 102 CFU/g – 5,23 x
102 CFU/g; mức nhiễm thấp nhất từ 1,03 x 102
CFU/g – 1,19 x 102 CFU/g; trung bình từ 1,89
x 102 CFU/g – 2,28 x 102 CFU/g. Tuy nhiên tỷ
lệ này không có sự sai khác rõ rệt về địa điểm
lấy mẫu (P = 0,299). Điều này phản ánh thực
tế về tình trạng vệ sinh tại các chợ cũng như
tại các địa điểm giết mổ.
Kết quả này phù hợp với công bố của Đỗ
Bích Duệ và cs (2012), Trần Thị Ngọc Ánh
(2015) cho biết tỷ lệ nhiễm E. coli không đạt
TCVN là dao động từ 38,40% - 48,33%.
Trên thực tế, thịt lưu hành tại các chợ bị ô
nhiễm là do: Việc giết mổ trên địa bàn phần
lớn do tư nhân đảm nhiệm, địa điểm tạm
bợ, dụng cụ giết mổ thô sơ, nguồn nước sử
dụng bị ô nhiễm. Thịt lợn được bày bán xen
kẽ với các mặt hàng khác (nội tạng), thực
phẩm sống và chín bày trên cùng một bàn
mà không có phân cách. Việc bày bán thịt tự
do ở chợ diễn ra suốt cả ngày, thịt trên bàn
không được che đậy, bảo quản. Nền chợ tuy
đã được láng xi măng nhưng rãnh nước thải
được thiết kế nổi, vệ sinh môi trường chợ
kém, sau khi trời mưa rất bẩn. Đây là điều
kiện thuận lợi để vi khuẩn có hại gây ô nhiễm
vi khuẩn vào thịt.
E. coli là một chỉ tiêu quan trọng để xác
định mức độ ô nhiễm vi khuẩn đối với thịt lợn,
khi tiến hành xét nghiệm, nếu cường độ vượt
quá 102 CFU/g chứng tỏ thịt đã bị ô nhiễm, vi
phạm tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.
Mặt khác, tỷ lệ ô nhiễm của chỉ tiêu vi khuẩn
nói lên tình trạng vệ sinh và quản lý thú y của
các chợ, các địa điểm lấy mẫu. Địa điểm nào có
tỷ lệ ô nhiễm cao chứng tỏ khu chợ đó chưa đạt
tiêu chuẩn vệ sinh. Nhận xét này phù hợp với
Lê Minh Sơn (2003) và Tô Liên Thu (2005).
a. Xác định chỉ tiêu vi khuẩn E. coli trên thịt
lợn theo thời gian lấy mẫu
Để kiểm tra mức độ nhiễm vi khuẩn E. coli
trên thịt lợn theo thời gian lấy mẫu trong ngày,
chúng tôi đã tiến hành thu thập mẫu thịt lợn
bán tại chợ ở các thời điểm sau giết mổ 2 - 3
giờ và sau 6 - 8 giờ để xác định tỷ lệ nhiễm E.
coli. Kết quả trình bày ở bảng 3 và biểu đồ 2.
Tiến hành kiểm tra 36 mẫu thịt lợn sau
thời gian giết mổ 2 - 3 giờ, có 22 mẫu dương
tính với E. coli, 9 mẫu không đạt tiêu chuẩn
vệ sinh, chiếm 25%. Số lượng vi khuẩn E.
coli từ mẫu không đạt TCVS cao nhất là
3,76x102 CFU/g và thấp nhất là 1,03x102
CFU/g. Kiểm tra 54 mẫu thịt sau giết mổ 6 - 8
giờ, có 46 mẫu dương tính với E. coli, 53,7%
mẫu không đạt TCVS, ở các mẫu không đạt
TCVS cao nhất là 5,23x102 CFU/g và thấp
nhất là 1,19x102 CFU/g. Mức độ nhiễm vi
khuẩn E. coli theo thời gian thu thập mẫu
có sự sai khác rõ rệt (P=0,00). Sở dĩ có sự
chênh lệch về tỷ lệ nhiễm này là do: tại các
chợ chúng tôi tiến hành điều tra thường giết
mổ lợn vào thời điểm 4 - 5h sáng nên tại thời
điểm chúng tôi lấy mẫu đều cách lúc giết mổ
khoảng 2 - 3 tiếng, thịt chưa bị ôi thiu, ruồi
nhặng bám vào ít, do vậy mức độ nhiễm sẽ
chênh lệch không đáng kể. Tuy nhiên, mức
độ nhiễm khuẩn chênh lệch như trên chủ yếu
là do số lượng thịt bán vào buổi sáng còn
tồn dư lại được tiếp tục bán vào buổi chiều,
thêm vào đó thịt để lâu mà không được che
đậy, bảo quản, nhiều ruồi nhặng bám vào nên
rất dễ ôi thiu, tạo điều kiện thuận lợi cho vi
khuẩn sinh trưởng và phát triển. Những thức
ăn được chế biến nếu sử dụng các sản phẩm
từ thịt ôi thiu thì bản thân nó đã mang một
nguồn vi khuẩn rất lớn. Ngoài ra, mức độ
nhiễm khuẩn còn tùy thuộc vào từng thời
điểm trong ngày, từng khu vực, vào những
ngày thời tiết, khí hậu thay đổi, sự hoạt động
của vi khuẩn càng có điều kiện phát triển
mạnh hơn.
66
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
B
ản
g
3.
K
ết
q
uả
x
ác
đ
ịn
h
vi
k
hu
ẩn
E
. c
ol
i n
hi
ễm
tr
ên
th
ịt
lợ
n
tư
ơ
i t
he
o
th
ờ
i g
ia
n
Đ
ịa
đi
ểm
Tổ
ng số
m
ẫu
ki
ểm
tr
a
M
ẫu
k
iể
m
tr
a
sa
u
gi
ết
m
ổ
2
- 3
g
iờ
M
ẫu
k
iể
m
tr
a
sa
u
gi
ết
m
ổ
6
- 8
g
iờ
C
hỉ
ti
êu
k
hả
o
sá
t
C
ư
ờ
ng
đ
ộ
nh
iễ
m
c
ủa
m
ẫu
k
hô
ng
đ
ạt
T
C
VN
C
hỉ
ti
êu
k
hả
o
sá
t
C
ư
ờ
ng
đ
ộ
nh
iễ
m
c
ủa
m
ẫu
k
hô
ng
đ
ạt
T
C
VN
Số
m
ẫu
ki
ểm
tr
a
Số m
ẫu
dư
ơ
ng
tín
h
Tỷ
lệ
(%
)
S
ố
m
ẫu
kh
ôn
g
đạ
t
TC
V
N
Tỷ lệ
(%
)
M
ứ
c
th
ấp
nh
ất
(C
FU
/g
)
M
ứ
c
ca
o
nh
ất
(C
FU
/g
)
S
ố
m
ẫu
ki
ểm
tr
a
Số m
ẫu
dư
ơ
ng
tín
h
Tỷ lệ (%
)
S
ố
m
ẫu
kh
ôn
g
đạ
t
TC
V
N
Tỷ lệ
(%
)
M
ứ
c
th
ấp
nh
ất
(C
FU
/g
)
M
ứ
c
ca
o
nh
ất
(C
FU
/g
)
M
ườ
ng
Th
an
h
30
12
7
58
,3
3
3
25
,0
0
1,
05
x1
02
3,
26
x1
02
18
16
88
,8
9
10
55
,5
6
1,
19
x1
02
4,
29
x1
02
H
im
La
m
30
12
6
50
,0
0
2
16
,6
7
1,
03
x1
02
2,
55
x1
02
18
13
72
,2
2
7
38
,8
9
1,
28
x1
02
3,
68
x1
02
Tr
un
g
Tâ
m
30
12
9
75
,0
0
4
33
,3
3
1,
19
x1
02
3,
76
x1
02
18
17
94
,4
4
12
66
,6
7
1,
86
x1
02
5,
23
x1
02
Tổ
ng
90
36
22
61
,1
1
9
25
,0
0
1,
03
x1
02
3,
76
x1
02
54
46
83
,3
3
29
53
,7
0
1,
19
x1
02
5,
23
x1
02
Q
uy
đ
ịn
h
kỹ
th
uậ
t t
he
o
T
C
V
N
7
04
6:
20
02
, s
ố
vi
k
hu
ẩn
E
. c
ol
i ≤
1
02
C
F
U
/g
;
C
F
U
:
C
ol
on
y
F
or
m
in
g
U
ni
t
B
iể
u
đồ
2
. M
ứ
c
độ
n
hi
ễm
k
hu
ẩn
E
. c
ol
i t
rê
n
th
ịt
lợ
n
th
eo
th
ờ
i g
ia
n
lấ
y
m
ẫu
%
67
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
b. Xác định chỉ tiêu vi khuẩn E. coli trên thịt lợn theo mùa
Qua kết quả ở bảng 4 cho thấy: Tỷ lệ
thịt lợn nhiễm khuẩn E. coli ở mùa Hè -
Thu (87,76%) cao hơn mùa Đông - Xuân
(60,98%). Mức độ nhiễm khuẩn E. coli theo
mùa có sự khác biệt khi P = 0,001 (P<0,05).
Sở dĩ có sự chênh lệch về tỷ lệ nhiễm khuẩn
như trên là do: vào mùa Hè - Thu, thời tiết
nóng ẩm, khí hậu thay đổi thất thường, thời
gian nóng bức kéo dài kèm theo nhiều cơn
mưa lớn, nhiệt độ môi trường cao, ẩm độ
cao, tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh trưởng
phát triển. Trong khi mùa Đông nhiệt độ môi
trường giảm mạnh, thời tiết khô hanh và lạnh
nên số mẫu nhiễm khuẩn E. coli cũng giảm
đi đáng kể. Nhận định này phù hợp với thông
báo của các chuyên gia ATTP: nguy cơ bị
bệnh tả, lỵ ngộ độc thực phẩm thường gặp
trong mùa Hè và chiếm tỷ lệ cao hơn so với
các mùa khác trong năm.
3.2. Giám định đặc tính sinh vật hóa học
của các chủng vi khuẩn E. coli phân lập
được
Đã tiến hành kiểm tra một số đặc tính sinh
vật, hóa học của 68 chủng vi khuẩn E.coli phân
lập được. Kết quả thu được trình bày ở bảng 5.
Từ bảng 5, các kết quả thu được cho
thấy: các chủng E. coli phân lập được đều
bắt màu đỏ, thuộc nhóm vi khuẩn Gram (-),
đều có khả năng sinh Indol, lên men các loại
đường Lactose, Maltose, Glucose, Fructose
(100%); 100% dương tính với phản ứng
MR và Sorbitol nhưng âm tính với phản
ứng Citrat và VP. Các chủng vi khuẩn này
đều không sinh H
2
S. Có 67/68 chủng có khả
năng di động (98,53%), còn 1/68 củng không
có khả năng di động (1,47%); Đặc biệt, khi
nuôi cấy trên môi trường thạch máu, có 1/68
chủng có khả năng dung huyết mạnh. Điều
này chứng tỏ các chủng E. coli này có khả
năng gây bệnh cho người.
Như vậy, các chủng E. coli chúng tôi phân
lập được đều thể hiện các đặc tính sinh vật,
hóa học đặc trưng của giống E. coli và phù
hợp với những đặc điểm về hình thái, tính
chất nuôi cấy vi khuẩn và đặc tính sinh hóa
mà Nguyễn Như Thanh và cs (2001), Lê Minh
Sơn (2003) , Tô Liên Thu (2006) đã công bố
khi nghiên cứu về E. coli.
Bảng 4. Tỷ lệ nhiễm khuẩn E. coli trên thịt lợn theo mùa
Địa điểm Mùa
Chỉ tiêu khảo sát
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương tính Tỷ lệ (%)
Số mẫu
không đạt
TCVN
Tỷ lệ
(%)
Mường Thanh
Hè -Thu 18 16 88,89 10 55,56
Đông - Xuân 12 7 58,33 3 25,00
Him Lam
Hè -Thu 14 11 78,57 7 50,00
Đông - Xuân 16 8 50,00 2 12,50
Trung Tâm
Hè -Thu 17 16 94,12 11 64,71
Đông - Xuân 13 10 76,92 5 38,46
Tính chung
Hè - Thu 49 43 87,76 28 57,14
Đông - Xuân 41 25 60,98 10 24,39
68
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
3.3. Thử độc lực của các chủng vi khuẩn E.
coli phân lập được trên chuột thí nghiệm
Sử dụng chuột bạch để tiêm truyền canh
khuẩn nuôi cấy sau 24 giờ nhằm xác định độc
lực của các chủng vi khuẩn E. coli phân lập
được. Kết quả được tổng hợp trong bảng 6.
Bảng 6. Kết quả xác định độc lực của các chủng E. coli phân lập được
Số chủng
thử
Số chủng giết chết chuột
Số chủng không giết
chuột
Thời gian
chuột
chết (giờ)
Phân
lập lại vi
khuẩn
(-/+)
Giết 2/2 chuột
thí nghiệm
Giết 1/2 chuột
thí nghiệm
Số chủng Tỷ lệ (%) Số chủng Tỷ lệ (%) Số chủng Tỷ lệ (%)
5
1 20,00 1 20,00
0 0,00
8 - 24 giờ +
0 0,00 3 60,00 24 - 48 giờ +
Kết quả thu được cho thấy: 100% số chủng
đem thử đều gây chết chuột. Trong đó có 1
chủng gây chết 100% chuột và 1 chủng gây chết
50% số chuột thí nghiệm trong vòng 8 - 24 giờ,
3 chủng gây chết 50% chuột trong 24 - 48 giờ.
Điều này chứng tỏ độc lực của các chủng E. coli
phân lập được là rất mạnh.
Chuột chết mổ khám thấy bệnh tích đặc
trưng: Chỗ tiêm thủy thũng; ruột, dạ dày đầy
hơi; gan sưng nhão có nhiều điểm xuất huyết;
lách, thận sưng, tím bầm. Từ gan, máu tim, phân
lập được E. coli. Phân lập vi khuẩn từ bệnh tích
(máu tim, gan, lách, ruột non...) của chuột chết
đều tìm thấy E. coli.
3.4. Kết quả thử tính mẫn cảm với kháng sinh
của các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được
Để cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực
tiễn trong việc hỗ trợ điều trị ngộ độc thực phẩm
Bảng 5. Kết quả giám định đặc tính sinh vât hóa học của các chủng vi khuẩn E. coli
TT Các thử nghiệm xác định đặc tính sinh vật hóa học
Kết quả giám định
Số chủng
kiểm tra
Số chủng
dương tính Tỷ lệ %
Số chủng
âm tính Tỷ lệ %
1 Tính chất bắt màu gram âm 68 68 100 0 0
2 Sản sinh Indol 68 68 100 0 0
3 VP 68 0 0 68 100
4 MR 68 68 100 0 0
5 Phản ứng Citrat 68 0 0 68 100
6 Lên men Lactose 68 68 100 0 0
7 Lên men Maltose 68 68 100 0 0
8 Lên men Glucose 68 68 100 0 0
9 Lên men Fructose 68 68 100 0 0
10 Sorbitol 68 68 100 0 0
11 Sản sinh H2S 68 0 0 68 100
12 Khả năng di động 68 67 98,53 1 1,47
13 Khả năng dung huyết 68 1 1,47 67 98,53
69
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
ở người, 68 chủng vi khuẩn E. coli phân lập
được đã được tiến hành thử tính mẫn cảm với
một số loại kháng sinh. Kết quả thu được trình
bày ở bảng 7.
Bảng 7. Kết quả xác định tính mẫn cảm với một số loại kháng sinh hóa dược của
các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được
TT Tên kháng sinh & hóa dược
Số chủng
thử
Đánh giá mức độ mẫn cảm E. coli
Mẫn cảm Kháng thuốc
+ % + %
1 Cephalexin 68 29 42,65 39 57,35
2 Streptomycin 68 15 22,06 53 77,94
3 Gentamycin 68 59 86,76 9 13,24
4 Norfloxacin 68 62 91,18 6 8,82
5 Oxacillin 68 23 33,82 45 66,18
6 Erythromycin 68 39 57,35 29 42,65
7 Spectinomycin 68 46 67,65 22 32,35
8 Enrofloxacin 68 57 83,82 11 16,18
9 Tetracyclin 68 13 19,12 55 80,88
Các kết quả thu được từ bảng 7 cho thấy:
Các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được có
tỷ lệ mẫn cảm với một số kháng sinh với tỷ lệ
cao. Trong đó, Norfloxacin có tỷ lệ mẫn cảm
với E. coli cao nhất (91,18%), thấp hơn là
Enrofloxacin và Gentamycin với tỷ lệ lần lượt là
83,82%, 86,76%. Các kháng sinh Norfloxacin,
Enrofloxacin có tỷ lệ mẫn cảm cao do đây là
kháng sinh thế hệ mới, có hoạt phổ rộng. Mặt
khác, các loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm
Quinolon đang bị cấm hoặc hạn chế sử dụng nên
tỷ lệ vi khuẩn E. coli còn mẫn cảm với nhóm
kháng sinh này còn cao. Điều này chứng tỏ, tuy
là một vi khuẩn gây bệnh nguy hiểm, song bệnh
do vi khuẩn này gây ra có thể điều trị hiệu quả
nếu sử dụng đúng thuốc, đúng liều và đủ liệu
trình.
Một số loại kháng sinh đem kiểm tra đã bị vi
khuẩn E. coli kháng lại với tỷ lệ cao. Tetracyclin
có tỷ lệ kháng cao nhất (80,88%), thấp hơn có
Streptomycin và Oxacillin với tỷ lệ kháng lần lượt
là 77,94% và 66,18%. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị
Thùy Giang và cs (2014) [5] cho biết tại TP Hồ
Chí Minh và các tỉnh lân cận, vi khuẩn E. coli có tỷ
lệ kháng cao với các loại kháng sinh thông thường
như Streptomycin, Tetracyclin Theo chúng tôi,
các chủng vi khuẩn E. coli có tỷ lệ kháng cao đối
với các kháng sinh này do đây là kháng sinh cũ,
thường được sử dụng phổ biến trong điều trị và
được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi để phòng
bệnh và kích thích sinh trưởng trong thời gian dài.
Các loại kháng sinh khác có tỷ lệ bị kháng dao
động từ 32,35% đến 57,35%.
IV. KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm TSVKHK và E. coli trong thịt
lợn đang tiêu thụ tại 3 chợ Mường Thanh, Him
Lam, Trung Tâm của tỉnh Điện Biên lần lượt là
98,89% và 75,56%, trong đó tỷ lệ mẫu không
đạt tiêu chuẩn vệ sinh về TSVKHK là 48,89%
và E. coli là 42,22%.
Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn E. coli tăng dần và tỷ lệ
thuận với thời gian sau giết mổ và tăng cao trong
mùa Hè - Thu so với thời điểm mùa Đông - Xuân.
Các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được
đều thể hiện các đặc tính sinh vật, hóa học đặc
trưng của giống.
70
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 3 - 2019
Cả 5 chủng đem thử đều có độc lực rất cao,
gây chết 100% động vật thí nghiệm trong vòng
48 giờ sau khi tiêm.
Vi khuẩn E. coli mẫn cảm với Enrofloxacin,
Norfloxacin Gentamycin và Spectinomycin với
tỷ lệ 67,65 % - 91,18%. Một số chủng E. coli đã
kháng với kháng sinh Streptomycin, Oxacillin,
Cephalexin (57,35% - 77,94%) và kháng rất cao
với Tetracyclin (80,88 %).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alton G.G, G.R. Carter, A.C. Kibor và
L.Pesti (1994). Chẩn đoán vi khuẩn học thú
y: Sổ tay chẩn đoán phòng thí nghiệm một
số bệnh chọn lọc ở vật nuôi (Lê Đình Chi và
Trần Minh Châu dịch). NXB. Nông nghiệp.
Sách xuất bản với sự thỏa thuận của Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
(FAO), tr. 104 - 141.
2. Khiếu Thị Kim Anh (2009), Đánh giá tình
trạng ô nhiễm vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh thực
phẩm trong thịt lợn tại một số cơ sở giết mổ
và kinh doanh trên địa bàn Hà Nội, Luận văn
Thạc sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp
Hà Nội.
3. Trần Thị Ngọc Ánh (2015), Thực trạng vệ
sinh giết mổ lợn và sự ô nhiễm một số vi
khuẩn ở thịt lợn sau giết mổ tại 3 thành phố
thuộc tỉnh Quảng Ninh, đề xuất giải pháp
khắc phục, Luận văn Thạc sĩ Thú y, Đại học
Nông lâm Thái Nguyên.
4. Đỗ Bích Duệ (2012), “Nghiên cứu một số
đặc điểm của vi khuẩn E. coli trên thịt lợn tại
một số chợ khu vực thành phố Thái Nguyên”,
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học
Thái Nguyên, tập 97, số 09, tr. 93 – 97.
5. Trần Thị Thùy Giang, Nguyễn Thị Nguyệt,
Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Thị Lệ Hồ, Vương
Xuân Vân, Uông Nguyễn Đức Ninh, Phẩm
Minh Thu, Cao Hữu Nghĩa (2014), “Khảo
sát độ nhiễm khuẩn và khả năng kháng
kháng sinh của E. coli phân lập từ thực phẩm
tại Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh”, Tạp chí
Khoa học, trường Đại học Sư phạm TP Hồ
Chí Minh. Số 61, tr. 164 - 172
6. Phương pháp lấy mẫu thịt lợn tươi theo
TCVN 4833 - 1:2002 và TCVN 4833
-2:2002, Hà Nội.
7. Lê Minh Sơn (2003), Nghiên cứu một số vi
khuẩn gây ô nhiễm thịt lợn vùng hữu ngạn
sông Hồng, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp,
trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội.
8. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần
Thị Lan Hương (2001), Vi sinh vật thú y,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
9. Nguyễn Văn Thiện (2008), Phương pháp
nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
10. Tiêu chuẩn Việt Nam (1990), Thịt và sản
phẩm của thịt - Phương pháp xác định và
đếm số Escherichia coli , TCVN – 5155.
11. Tiêu chuẩn Việt Nam (1992), Thịt và sản
phẩm của thịt, Phương pháp xác định tổng
số vi khuẩn hiếu khí trên thịt, TCVN- 5667.
12. Tô Liên Thu (2006), Nghiên cứu hiện trạng
ô nhiễm một số vi khuẩn ở thịt lợn, gà tại
Hà Nội và áp dụng biện pháp hạn chế sự
phát triển của chúng, Luận án Tiến sĩ Nông
nghiệp, Viện Thú y Quốc gia.
13. Tổng cục thống kê (2018), Thông cáo báo
chí tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm
2018, https://gso.gov.vn, ngày 25/7/2018.
14. Nguyễn Thị Thu Trang (2008), Khảo sát
thực trạng hoạt động giết mổ, đánh giá tình
trạng ô nhiễm vi khuẩn trong thịt lợn nơi
giết mổ và bán tại chợ thuộc quận Kiến An,
thành phố Hải Phòng, giải pháp khắc phục,
Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, Đại học
Nông nghiệp Hà Nội.
Ngày nhận 27-7-2018
Ngày phản biện 27-9-2018
Ngày đăng 1-5-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_muc_do_o_nhiem_vi_khuan_chi_diem_ve_sinh_thuc_pham.pdf