Đánh giá khả năng tích lũy chất khô ở
các nhóm cỏ ở các lần thu cắt
Khối lượng chất khô tích lũy trên các bộ
phận thân, lá phản ánh khả năng tích lũy chất
khô và hiệu suất quang hợp thuần của các giống
cỏ. Khối lượng chất khô tích lũy ở cả thân và lá
của các giống ở các lần cắt có chiều hướng tương
tự như kết quả về khối lượng tươi thân lá. Do
đó, ở đây chúng tôi chỉ tập trung trình bày kết
quả khối lượng khô thân và lá của các giống cao
lương ở ba lần cắt đầu tiên (Hình 3). Khối lượng
chất khô tích lũy ở cả thân và lá của cỏ ruzi cao
hơn hai giống cỏ ghine ở 2 thời kỳ thu cắt đầu
tiên nhưng thấp hơn ở các lần thu cắt sau đó.
Trong hai giống ghine, giống TD58 có khối
lượng khô của lá cao hơn giống Common ở lần
cắt 1 và cắt 2, và cao tương đương nhau ở các
lần cắt sau đó và cao tương đương nhau về khối
lượng chất khô tích lũy ở trong thân. Trong 3
giống cao lương, giống Honey cũng là giống có
khối lượng khô lá cao nhất và giống Jumbo có
khối lượng thân khô cao nhất. Điều này có thể lí
giải do giống Jumbo là giống cao cây, thân to
nhưng đẻ nhánh kém, do đó khối lượng thân lớn
nhưng khối lượng lá thấp, trong khi đó giống
Honey có số nhánh nhiều nhưng thân nhỏ và
thấp nên khối lượng lá cao. Tương tự như chỉ
tiêu năng suất chất xanh, khối lượng chất khô
của các giống cỏ voi cao vượt trội so với các giống
cỏ còn lại.
Tỉ lệ lá/cây về khối lượng được coi là một chỉ
tiêu chất lượng, phản ánh mức độ hấp dẫn của
cỏ đối với gia súc. Thông thường, tỉ lệ lá/cây cao
gia súc thích ăn hơn loại có tỉ lệ lá/cây thấp. Kết
quả nghiên cứu cho thấy ở lần cắt đầu tiên, tỉ lệ
lá/cây cao nhất ở giống cỏ ruzi, sau đó là các
giống cỏ voi, cỏ ghine, và thấp nhất là ba giống
cao lương. Tuy nhiên, ở các lần cắt tái sinh, tỉ lệ
lá/cây của các giống cao lương đều tăng. Đây
cũng là một trong các lí do cây thức ăn gia súc
nên để cắt tái sinh thu nhiều lứa/năm thay vì
trồng mới lại sau mỗi lần thu hoạch (Hình 3)
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 28 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số loại cây thức ăn gia súc ở các lần thu cắt tại Gia Lâm, Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 8: 580-587 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(8): 580-587
www.vnua.edu.vn
580
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ LOẠI CÂY THỨC ĂN
GIA SÚC Ở CÁC LẦN THU CẮT TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
Phan Thị Hồng Nhung, Dương Thị Thu Hằng, Trần Thị Minh Ngọc,
Nguyễn Văn Lộc, Tăng Thị Hạnh, Nguyễn Việt Long*
Bộ môn Cây lương thực, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: nvlong@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 27.04.2020 Ngày chấp nhận đăng: 20.07.2020
TÓM TẮT
Thí nghiệm đồng ruộng được tiến hành với 1 giống cỏ ruzi nhập nội, 2 giống cỏ ghine (TD58 và Common), 3
giống cao lương (Honey, Jumbo, và BMR) và 4 giống cỏ voi (Bắc Chông Cao, King Grass, VA06, và Cỏ Voi Thuần)
nhằm so sánh, đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của các giống cỏ ở các lần cắt khác nhau.
Kết quả thí nghiệm cho thấy các giống cỏ voi cho tổng sản lượng chất xanh cao nhất, sau đó đến cao lương, cỏ ruzi
và thấp nhất là cỏ ghine. Cỏ voi và cỏ ghine có khả năng duy trì năng suất chất xanh qua các lần cắt tốt hơn các
giống cao lương và cỏ ruzi. Qua các lần cắt tái sinh, chiều cao cây và đường kính thân của các giống cỏ đều giảm
dần nhưng khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ lá/cây tăng lên. Giống cỏ voi VA06 (Varisme 06) có hàm lượng protein cao và
có năng suất, sản lượng chất xanh cao nhất trong các giống cỏ thí nghiệm.
Từ khóa: Tái sinh, cao lương, cỏ voi, ghine, cỏ ruzi.
Evaluation of the Growth, Yield and Quality of Some Forage Species at the Different
Cutting Times in Gia Lam, Hanoi
ABSTRACT
The field experiment was conducted to evaluate the growth, yield and quality of 10 grass varieties including one
Ruzi grass variety, two Guinea grass varieties (TD58 and Common), three sweet sorghum varieties (Honey Jumbo,
and BMR), and four Elephant grass varieties (Bac Chong Cao, King Grass, VA06, and Co Voi Thuan) at the different
harvesting times. The obtained results indicated that four Elephant grass varieties showed the highest freshmass,
followed by sorghum varieties and Ruzi grass; whereas, the two Guinea grasses produced the lowest ones. The
Elephant grass and Guinea grass maintained fresh mass yield at the different cutting times which is better than that
of sorghum and ruzi grass. After the cutting times, plant height and shoot diameter of the grasses decreased;
whereas, the number of tillers and green leaves/plant ratio increased. VA06 (Varisme 06), an elephant grass variety,
had a high protein content and the highest green yield and mass in all grasses.
Keywords: Cutting, sorghum, elephant grass, guinea grass, ruzi grass.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, xu hướng của nền nông
nghiệp hiện đại ngày nay là tìm ra các mô hình
trồng cây có hiệu quả và thân thiện với môi
trường, bao gồm các phương pháp quản lý cây
trồng tổng hợp bao gồm quản lý dinh dưỡng,
biện pháp kỹ thuật chăm sóc, và lựa chọn các
giai đoạn thu hoạch hợp lý (Crew & Peoples,
2004). Tốc độ gia tăng nhanh về dân số và
chuyển đổi cơ cấu trong sử dụng đất làm cho
diện tích canh tác cây thức ăn gia súc ngày càng
thu hẹp. Trong các biện pháp kỹ thuật canh tác
cây thức ăn gia súc, việc sử dụng các lần cắt tái
sinh được sử dụng để nâng cao sản lượng cũng
như chất lượng thức ăn cho đàn gia súc giữ vai
Phan Thị Hồng Nhung, Dương Thị Thu Hằng, Trần Thị Minh Ngọc,
Nguyễn Văn Lộc, Tăng Thị Hạnh, Nguyễn Việt Long
581
trò quan trọng. Ram & Singh (2007) chỉ ra rằng
các lần cắt và khoảng cách các lần cắt ảnh
hưởng đến thành phần hoá học của cỏ và chất
lượng cỏ có xu hướng giảm. Như vậy, việc
nghiên cứu. đánh giá sinh trưởng và năng suất
cây thức ăn gia súc qua các lần tái sinh sẽ làm
cơ sở để lựa chọn các nguồn vật liệu có năng
suất đồng thời có chất lượng tốt nhất như là
hàm lượng protein (Iqbal & cs., 2006).
Tại Việt Nam, số lượng gia súc nhai lại
ngày càng tăng do tăng về nhu cầu thịt và sữa.
Đến năm 2018, số lượng đàn trâu bò cả nước
tăng 37,7% so với năm 1990, tăng 17,1% so với
năm 2000 (Tổng cục Thống kê, 2018). Tuy
nhiên, diện tích đồng cỏ tự nhiên và đồng cỏ
trồng lại giảm do ưu tiên đất canh tác nông
nghiệp khác và quá trình đô thị hóa. Do đó,
nguồn thức ăn thô xanh cho gia súc bị thiếu,
nhất là trong mùa hanh khô. Bùi Quang Tuấn
(2005) chỉ ra rằng năng suất cỏ trồng trong mùa
đông thấp, chỉ bằng khoảng 30% so với năng
suất trồng trong mùa mưa. Các loại cây hòa
thảo có thể làm thức ăn cho gia súc như cỏ ruzi,
cỏ ghine, cỏ voi hoặc cây cao lương đều có khả
năng tái sinh, có thể cho thu hoạch 3-5 lứa
cắt/năm (Lê Hoa & Bùi Quang Tuấn, 2009;
Phạm Văn Cường & cs., 2013; Phạm Thế Huệ,
2017). Tuy nhiên, năng suất và chất lượng cỏ
phụ thuộc rất nhiều vào giống, thời gian thu cắt,
điều kiện đất trồng. Việc lựa chọn các giống cỏ,
loại cỏ cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả
năng cung cấp trong mùa đông, phù hợp với
điều kiện sinh thái vùng đồng bằng Sông Hồng
là hết sức cần thiết.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh
giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất
lượng của một số loại cỏ trồng phổ biến tại miền
Bắc Việt Nam qua các thời vụ thu cắt khác
nhau. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho các
nhà nghiên cứu, nhà quản lý và người sản xuất
thông tin về loại cỏ, năng suất và chất lượng
phục vụ nghiên cứu, đồng thời chủ động kế
hoạch quản lý sản xuất nhằm tăng năng suất và
chất lượng cây thức ăn gia súc.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu thí nghiệm là 10 giống cỏ thuộc bốn
loại cỏ được cung cấp bởi Trung tâm Nghiên cứu
Bò và đồng cỏ Ba Vì (Bảng 1).
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 2/2017
đến tháng 12/2017 tại Học viện Nông nghiệp
Việt Nam, Gia Lâm, Hà Nội. Các giống cỏ được
trồng vào ngày 28/2/2017 và được chăm sóc theo
quy trình kĩ thuật trồng cây cỏ ruzi, ghine, cao
lương và cỏ voi của Bùi Quang Tuấn & cs.
(2012). Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối
ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), với 3 lần nhắc
lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm cho mỗi giống là
50m2 (5m × 10m). Các giống được trồng bằng
hom giống (trừ các giống cao lương được trồng
bằng hạt), khoảng cách gieo, trồng cho cỏ ruzi,
ghine, cao lương và cỏ voi lần lượt là 35 × 30cm,
40 × 30cm, 60 × 15cm, và 50 × 40cm.
Bảng 1. Các giống cỏ được sử dụng trong thí nghiệm
Loại cỏ Tên khoa học loài Tên giống Kí hiệu
Ruzi Brachiaria ruziziensis Ruzi nhập nội Ruzi
Ghine Panacum maximum TD58 TD58
Common Common
Cao lương Sorghum bicolor Honey (Honey Graze) Honey
Jumbo (Sweet Jumbo) Jumbo
BMR (Surpass BMR) BMR
Cỏ voi Pennisetum purpurrerum Bắc Chông Cao BC cao
King Grass King grass
VA06 (Varisme 06) VA06
CV Thuần (cỏ voi thuần) CVT
Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số loại cây thức ăn gia súc ở các lần thu cắt tại Gia Lâm,
Hà Nội
582
Thời điểm thu cắt lần đầu tiên dựa theo
tiêu chuẩn về chiều cao cây làm thức ăn gia súc,
thu hoạch khi cỏ ruzi và ghine có chiều cao đạt
90-100cm (60 ngày sau trồng - NST đối với cỏ
ruzi, và 80 NST đối với hai giống cỏ ghine), thời
điểm thu cắt lần sau bằng thời gian với lần thu
cắt trước đó. Nhóm cỏ C4 gồm cao lương và cỏ
voi thu hoạch lần đầu tiên khi chiều cao cây đạt
180-210cm (108 NST với cao lương và 103 NST
với cỏ voi), thu cắt lần sau khi cây ra hoa (80-85
ngày sau cắt). Chúng tôi đánh giá tổng sinh
khối tạo ra trong 10 tháng (từ 28/2 đến 28/12),
do thời gian thu cắt của các loại cỏ khác nhau
nên số lứa cắt của 4 loại cũng khác nhau. Cây cỏ
ruzi được tiến hành cắt 5 lứa: lứa 1 sau trồng 59
ngày, lần 2 sau 56 lần cắt 1, lần 3 sau 60 lần cắt
2, lần 3 sau 61 ngày cắt lần 3 và lần 4 sau 61
ngày cắt lần 3. Cỏ ghine được thu cắt 4 lần: lần
1 sau trồng 79 ngày, lần 2 sau 76 ngày lần cắt 1,
lần 3 sau 75 ngày lần cắt 2, lần 4 sau 73 ngày
lần cắt 3. Cây cao lương được thu cắt 3 lần: lần
cắt 1 sau trồng 108 ngày, lần 2 sau thu lần 1 là
80 ngày và thu cắt lần 3 sau 81 ngày sau thu
cắt lần 2. Đối với cây cỏ voi, thí nghiệm tiến
hành thu cắt 3 lần: lần 1 sau trồng 103 ngày,
lần 2 sau lần cắt 1ần thứ nhất 85 ngày và lần 3
sau cắt lần 2 là 81 ngày.
Các chỉ tiêu nông học và sinh lý như chiều
cao cây (đo từ mặt đất đến điểm mà 50% số lá đạt
được), khả năng đẻ nhánh, đường kính thân (đo ở
lóng thứ 2 và lóng thứ 3 từ dưới gốc lên); khối
lượng tươi thân lá, và khối lượng chất khô
(KLCK) tích lũy được xác định tại các thời điểm
cắt. KLCK được xác định sau khi sấy toàn bộ
thân lá và bông (nếu có) ở 80oC đến khối lượng
không đổi. Định lượng protein thô (ở lần cắt 1)
được tính toán trên cơ sở xác định hàm lượng nitơ
tổng số bằng phương pháp Kjeldahl theo tiêu
chuẩn Việt Nam (TCVN 4328-2007). Hàm lượng
nước trong cây được tính bằng khối lượng tươi
của thân lá trừ đi khối lượng khô của thân lá
chia cho khối lượng tươi của thân lá. Tỉ lệ lá/cây
được tính theo khối lượng khô của lá trên khối
lượng khô của toàn cây tại thời điểm thu hoạch.
Các số liệu thu thập được xử lý theo phương
pháp phân tích phương sai (ANOVA) hai nhân
tố cho nhân tố loại cỏ và giống; các giá trị trung
bình của các giống cỏ trong cùng một loại cỏ
được so sánh dựa trên Tukey test ở độ tin cậy
95% bằng phần mềm R3.4.1.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Chiều cao cây, đường kính thân và số
nhánh/cây của các giống cỏ
Trong các loại cỏ thí nghiệm, các giống cỏ
voi có chiều cao cây và đường kính thân cao
nhất ở lần cắt đầu tiên (cao 199,6-215,0cm,
đường kính 2,9-3,1cm), tiếp đến là các giống cao
lương (cao 161,5-218,5cm, đường kính thân 2,0-
2,2cm), các giống cỏ ghine (cao 80,9 -111,3cm,
đường kính thân 1,0-1,1cm), giống cỏ ruzi có
chiều cao cây thấp nhất (cao 90,2cm, đường
kính thân 0,5cm) (Hình 1, Bảng 3). Ở lần cắt
thứ 2, trong khi cây cỏ ruzi và các giống cao
lương có chiều cao cây giảm mạnh, các giống cỏ
voi lại có chiều cao cây tăng, cỏ ghine vẫn duy
trì được chiều cao cây so với lần cắt trước. Ở các
lứa cắt tiếp theo, chiều cao cây của tất cả các
giống đều giảm. Đường kính thân cây của tất cả
các giống cỏ cũng giảm sau mỗi lần cắt.
Trong ba giống cao lương, giống Jumbo có
chiều cao cây cao nhất ở cả 3 lần cắt, hai giống
Honey và BMR có chiều cao cây tương đương
nhau (Hình 1). Jumbo cũng là giống có đường
kính thân cây lớn hơn cả. Đây là hai chỉ tiêu
ảnh hưởng lớn đến năng suất chất xanh, cho
thấy giống Jumbo có tiềm năng năng suất cao,
nhưng tỉ lệ thân chiếm nhiều hơn. Cả ba giống
cao lương này đều có chiều cao cây giảm mạnh
sau mỗi lần thu cắt, kết quả này phù hợp với
nghiên cứu trên cây cao lương của Tăng Thị
Hạnh & cs. (2015). Trong các giống cỏ voi, giống
VA06 có chiều cao cây cao nhất và giống Bắc
chông cao có chiều cao cây thấp nhất ở cả 3 thời
kỳ cắt tái sinh. Trừ giống Bắc Chông cao, ở lần
cắt tái sinh 2, cả ba giống cỏ voi đều duy trì
chiều cao cây cao, đặc biệt giống VA06 có chiều
cao cây ở cuối lần thu cắt 2 đạt tới 283,7cm (cao
vượt trội so với chiều cao ở cuối lần thu cắt 1 là
215,0cm). Đến lần thu cắt thứ 3, chiều cao cây
có xu hướng giảm ở cả bốn giống cỏ voi.
Phan Thị Hồng Nhung, Dương Thị Thu Hằng, Trần Thị Minh Ngọc,
Nguyễn Văn Lộc, Tăng Thị Hạnh, Nguyễn Việt Long
583
Ghi chú: CL: cao lương, CV: cỏ voi
Hình 1. Chiều cao cây của các giống thí nghiệm ở các lứa cắt khác nhau
Bảng 2. Số nhánh và đường kính thân của các loại cỏ và các giống cỏ ở các lần cắt
Loại
cỏ
Giống cỏ
Số nhánh/khóm tại các lần cắt Đường kính thân ở các lần cắt (cm)
Cắt 1 Cắt 2 Cắt 3 Cắt 4 Cắt 5 Cắt 1 Cắt 2 Cắt 3 Cắt 4 Cắt 5
Ruzi - - - - - 0,5 0,3 0,3 0,3 0,3
Ghine TD58 - - - - - 1,1 1,2 1,0 0,7 -
Common - - - - - 1,0* 1,2 0,9* 0,9* -
Cao
lương
Honey 1,9
a
3,0
b
6,3
a
- - 2,2
a
1,1
b
1,1
b
- -
Jumbo 1,9
a
1,0
c
2,1
b
- - 2,2
a
1,7
a
1,2
a
- -
BMR 2,0
a
4,1
a
7,4
a
- - 2,0
b
1,1
b
0,9
c
- -
Cỏ voi BC cao 4,9
b
11,2
a
16,6
b
- - 3,1
a
2,0
a
1,8
a
- -
King grass 5,3
ab
10,1
b
17,7
a
- - 3,0
a
1,8
a
1,8
a
- -
VA06 5,4
ab
9,7
b
15,9
c
- - 2,9
a
2,0
a
1,9
a
- -
CV thuần 5,8
a
9,8
b
15,0
d
- - 3,0
a
2,1
a
1,8
a
- -
Ghi chú: Những chữ cái giống nhau trong cùng một cột của cùng một loại cỏ thể hiện sự không khác nhau
của các giá trị trung bình ở mức ý nghĩa P <0,05.
Trong hai giống cỏ ghine, giống cỏ TD58 có
chiều cao cây cao tương đương giống cỏ Common
và chiều cao cây của hai giống cỏ này vẫn duy
trì được qua cả 4 lần thu cắt tái sinh. Ngược lại,
giống cỏ ruzi có chiều cao cây giảm mạnh sau 2
lần thu cắt tái sinh, đặc biệt ở lần tái sinh thứ 4
và thứ 5, chiều cao cây giảm chỉ còn 33,2cm và
26,5cm (giảm mạnh so với ở cuối lần thu cắt 1
là 90,2cm).
Kết quả theo dõi số nhánh/khóm ở các lần
cắt (Bảng 2) cho thấy các giống cỏ voi có khả
năng đẻ nhánh cao vượt trội so với các giống cao
lương. Trong bốn giống cỏ voi, giống Bắc chông
cao có khả năng đẻ nhánh kém nhất ở lứa cắt
đầu tiên nhưng lại có số nhánh cao hơn ở các lần
cắt sau. Trong khi đó, giống cỏ voi King grass
luôn có số nhánh cao ở cả 3 lần cắt. Trong 3
giống cao lương, giống Jumbo có số nhánh/khóm
Giống
Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số loại cây thức ăn gia súc ở các lần thu cắt tại Gia Lâm,
Hà Nội
584
thấp nhất, giống Honey và giống BMR có khả
năng đẻ nhánh tương đương nhau.
Sau mỗi lần cắt, số nhánh/cây của đa số các
giống cỏ voi và cao lương đều tăng lên. Cỏ voi có
khả năng đẻ 4,9-5,8 nhánh/khóm ở lần cắt đầu
tiên, và tăng mạnh sau mỗi lần cắt tái sinh (9,7-
11,2 nhánh ở lần cắt 2, và 15,0-17,7 nhánh ở lần
cắt 3). Trong khi với cao lương, số nhánh/khóm
cũng tăng lên ở các lần cắt sau (trừ giống
Jumbo), tăng từ 1,9-2,0 nhánh (ở lần cắt 1) lên
3,0-4,1 nhánh (ở lần cắt 2) và lên 6,3-7,4
nhánh/khóm (ở lần cắt 3). Điều này được lí giải
do sau khi cắt, ưu thế đỉnh của auxin và sự cân
bằng auxin/cytokinin giảm, sinh trưởng ưu thế
sinh trưởng ưu thế ngọn bị ức chế, các chồi bên
mọc ra nhiều (Sachs & Thimann, 1967).
Ghi chú: CL: cao lương, CV: cỏ voi; chữ số trên mỗi cột thể hiện tổng năng suất chất xanh của giống cỏ sau 10 tháng
gieo trồng; chữ số trong mỗi ô ở mỗi cột thể hiện năng suất chất xanh của các giống cỏ ở các lần cắt khác nhau
Hình 2. Tổng sản lượng và năng suất chất xanh của các loại cỏ
và các giống cỏ ở các lần cắt khác nhau
Ghi chú: CL: cao lương, CV: cỏ voi; chữ số trong ô màu trắng thể hiện phần tram khối lượng khô của lá so với
khối lượng khô của toàn cây (lá và thân)
Hình 3. Khối lượng khô của lá và thân của các loại cỏ và các giống cỏ ở ba lần cắt đầu tiên
Phan Thị Hồng Nhung, Dương Thị Thu Hằng, Trần Thị Minh Ngọc,
Nguyễn Văn Lộc, Tăng Thị Hạnh, Nguyễn Việt Long
585
3.2. Đánh giá khả năng cung cấp chất xanh
của các nhóm cỏ thí nghiệm
Kết quả nghiên cứu cho thấy giống ruzi có
sản lượng chất xanh tổng số (76,5 tấn/ha với 5
lần cắt) cao hơn hai giống cỏ ghine (53,3-54,5
tấn/ha với 4 lần cắt), cao tương đương hai giống
cao lương Honey và BMR (60,1-77,6 tấn/ha với 3
lần cắt), và thấp hơn so với giống cao lương
Jumbo (103,3 tấn/ha với 3 lần cắt). Các giống cỏ
voi có sản lượng chất xanh cao nhất (171,2-
210,4 tấn xanh/ha, Hình 2).
Qua các lần cắt, các giống cỏ voi và ghine có
khả năng duy trì năng suất chất xanh tốt hơn
các giống cao lương và cỏ ruzi. Kết quả này
tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Thị Hòa Bình & cs. (2017). Trong khi đó, nghiên
cứu của Phạm Văn Cường & cs. (2013) và Tăng
Thị Hạnh & cs. (2015) trên một số giống cao
lương trong mùa đông ở vùng Đồng bằng Sông
Hồng cho thấy năng suất chất xanh của các
giống cao lương ở lứa cắt 2 tương đương lứa cắt
1 và giảm nhanh ở lứa cắt 3. Điều này cũng cho
thấy năng suất chất xanh, chất lượng của cỏ
phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm thu hoạch,
tuổi thọ của cây và điều kiện sinh thái.
3.3. Đánh giá khả năng tích lũy chất khô ở
các nhóm cỏ ở các lần thu cắt
Khối lượng chất khô tích lũy trên các bộ
phận thân, lá phản ánh khả năng tích lũy chất
khô và hiệu suất quang hợp thuần của các giống
cỏ. Khối lượng chất khô tích lũy ở cả thân và lá
của các giống ở các lần cắt có chiều hướng tương
tự như kết quả về khối lượng tươi thân lá. Do
đó, ở đây chúng tôi chỉ tập trung trình bày kết
quả khối lượng khô thân và lá của các giống cao
lương ở ba lần cắt đầu tiên (Hình 3). Khối lượng
chất khô tích lũy ở cả thân và lá của cỏ ruzi cao
hơn hai giống cỏ ghine ở 2 thời kỳ thu cắt đầu
tiên nhưng thấp hơn ở các lần thu cắt sau đó.
Trong hai giống ghine, giống TD58 có khối
lượng khô của lá cao hơn giống Common ở lần
cắt 1 và cắt 2, và cao tương đương nhau ở các
lần cắt sau đó và cao tương đương nhau về khối
lượng chất khô tích lũy ở trong thân. Trong 3
giống cao lương, giống Honey cũng là giống có
khối lượng khô lá cao nhất và giống Jumbo có
khối lượng thân khô cao nhất. Điều này có thể lí
giải do giống Jumbo là giống cao cây, thân to
nhưng đẻ nhánh kém, do đó khối lượng thân lớn
nhưng khối lượng lá thấp, trong khi đó giống
Honey có số nhánh nhiều nhưng thân nhỏ và
thấp nên khối lượng lá cao. Tương tự như chỉ
tiêu năng suất chất xanh, khối lượng chất khô
của các giống cỏ voi cao vượt trội so với các giống
cỏ còn lại.
Tỉ lệ lá/cây về khối lượng được coi là một chỉ
tiêu chất lượng, phản ánh mức độ hấp dẫn của
cỏ đối với gia súc. Thông thường, tỉ lệ lá/cây cao
gia súc thích ăn hơn loại có tỉ lệ lá/cây thấp. Kết
quả nghiên cứu cho thấy ở lần cắt đầu tiên, tỉ lệ
lá/cây cao nhất ở giống cỏ ruzi, sau đó là các
giống cỏ voi, cỏ ghine, và thấp nhất là ba giống
cao lương. Tuy nhiên, ở các lần cắt tái sinh, tỉ lệ
lá/cây của các giống cao lương đều tăng. Đây
cũng là một trong các lí do cây thức ăn gia súc
nên để cắt tái sinh thu nhiều lứa/năm thay vì
trồng mới lại sau mỗi lần thu hoạch (Hình 3).
3.4. Hàm lượng nước và hàm lượng
protein thô
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy các giống cỏ trong
thí nghiệm đều có hàm lượng nước trong cây cao
(77,2-86,6%, 65,8-87,0%, 81,0-88,7%, và 84,1-
91,8% lần lượt với các nhóm giống cỏ ruzi, ghine,
cao lương và cỏ voi). Hàm lượng protein là một
chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng của thức
ăn gia súc. Hầu hết các loại cỏ hòa thảo đều có
hàm lượng protein thấp, và được khuyến cáo nên
bổ sung thêm protein trong khẩu phần ăn của
gia súc. Hàm lượng protein giảm cùng với thời
gian sinh trưởng của cỏ và giảm qua các lần cắt.
Trong thí nghiệm này, chúng tôi phân tích hàm
lượng protein ở lần cắt đầu tiên. Hàm lượng
protein của các giống cỏ thí nghiệm đều dưới
15%. Hai giống cỏ ghine (14,1 và 14,3%) và giống
cao lương Jumbo (13,4%) là các giống có hàm
lượng protein cao hơn, tương tự như kết quả
nghiên cứu về chất lượng một số cây thức ăn gia
súc trồng tại Đắk Lắk của Lê Hoa & Bùi Quang
Tuấn (2009). Giống cỏ voi VA06 - có năng suất
chất xanh cao nhất, và có hàm lượng protein cao
nhất trong 4 giống cỏ voi (10,0%), được khuyến
cáo trồng phổ biến phục vụ chăn nuôi gia súc
nhai lại. Kết quả này cũng tương tự như nghiên
cứu của Nguyễn Thị Hòa Bình & cs. (2017).
Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng của một số loại cây thức ăn gia súc ở các lần thu cắt tại Gia Lâm,
Hà Nội
586
Bảng 3. Hàm lượng nước và hàm lượng protein của các loại cỏ và các giống cỏ ở các lần cắt
Loại cỏ Giống cỏ
Hàm lượng nước (%) Protein (%)
Cắt 1 Cắt 2 Cắt 3 Cắt 4 Cắt 5 Cắt 1
Ruzi Ruzi 86,6 79,5 79,0 77,2 78,1 12,7
Ghine TD58 87,0 65,8 82,3 81,9 - 14,3
Common 81,4 72,7 82,2 82,2 - 14,1
Cao lương Honey 85,0 81,4 81,0 - - 6,1
Jumbo 88,7 86,0 84,3 - - 13,4
BMR 84,0 82,0 83,0 - - 9,6
Cỏ voi BC cao 89,3 86,4 85,8 - - 9,3
King grass 86,6 84,1 84,2 - - 7,2
VA06 91,8 85,7 86,1 - - 10,0
CV thuần 91,2 83,7 84,2 - - 6,4
4. KẾT LUẬN
Nghiên cứu chỉ ra rằng tổng sản lượng chất
xanh của các giống cỏ voi đạt cao nhất, sau đó
đến các giống cao lương, cỏ ruzi và cuối cùng là
cỏ ghine. Năng suất chất xanh của các giống cao
lương và ruzi giảm mạnh sau mỗi lần cắt, trong
khi cỏ voi và ghine có khả năng duy trì năng
suất chất xanh tốt hơn. Trong các giống cỏ thí
nghiệm, giống cỏ voi VA06 và giống cao lương
Jumbo có năng suất và tổng sản lượng chất
xanh, đồng thời có hàm lượng protein thô cao
vượt trội trong từng nhóm giống.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được hỗ trợ một phần kinh
phí thuộc đề tài cấp Học viện T2017-01-04 của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam; các giống cỏ
được cung cấp bởi Trung tâm Nghiên cứu Bò và
đồng cỏ Ba Vì.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Quang Tuấn (2005). Ảnh hưởng của tuổi thu hoạch
đến năng suất và chất lượng thức ăn của cỏ voi
(Pennisetum purpureum), cỏ ghine (Panicum
maximum) trồng tại Đan Phượng, Hà Tây. Tạp chí
Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp. 3: 202-206.
Bùi Quang Tuấn, Nguyễn Bách Việt, Nguyễn Văn
Quang, & Nguyễn Thị Huyền (2012). Cây thức ăn
chăn nuôi. Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp,
Hà Nội.
Crew T.E. & Peoples M.B. (2004). Legume versus
fertilizer source of nitrogen: ecological tradeoffs
and human needs Agric. Ecosyst. Environ. 102:
279-297. DOI: 10.1016/j.agee.2003.09.018.
Iqbal A., Ayub M., Akbar N. & Ahmad R. (2006).
Growth and forage yield response of maize-legume
mixed cropping to different sowing techniques.
Pakistan J. Agric. Sci. 43: 126-130
Lê Hoa & Bùi Quang Tuấn (2009). Năng suất, chất
lượng một số giống cây thức ăn gia súc
(Pennisetum perpureum, Panicum maximum,
Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis)
trồng tại Dak Lak. Tạp chí Khoa học và Phát triển.
7(3): 276-281.
Nguyễn Thị Hòa Bình, Ngô Thị Thùy, Bùi Huy
Doanh, Đặng Thái Hải, Nguyễn Thị Hằng & Bùi
Quang Tuấn (2017). Năng suất và giá trị dinh
dưỡng của cỏ Taiwanese Napier nhập từ Thái Lan
trồng tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
15(4): 462-470.
Phạm Thế Huệ (2017). Sinh trưởng và phát triển của cỏ
VA06 và Ghine TD58 tại huyện Eakar, tỉnh Dăk
Lăk. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ.
51b: 1-6
Phạm Văn Cường, Tăng Thị Hạnh, Đoàn Công Điển
& Bùi Quang Tuấn (2013). Năng suất chất xanh
và giá trị dinh dưỡng làm thức ăn chăn nuôi của
một số giống cao lương OPV mới lai tạo
(Sorghum bicolor (L.) Moench) tại các vùng sinh
thái khác nhau. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn (Chuyên đề Giống cây trồng, vật nuôi).
2: 177-183.
Phan Thị Hồng Nhung, Dương Thị Thu Hằng, Trần Thị Minh Ngọc,
Nguyễn Văn Lộc, Tăng Thị Hạnh, Nguyễn Việt Long
587
Ram S.N. & Singh B.( 2007). Growth yield and quality
of forage sorghum by intercropping, harvesting
time and nitrogen fertilization under rainfed
conditions. Ind. J. Dryland Agric. Res. Develop.
18: 167-172.
Sachs T. & Thimann K.V. (1967). The role of auxins and
cytokinins in the release of buds from
dominance. American Journal of Botany. 54(1): 136-
144. DOI: 10.1002/j.1537-2197.1967.tb06 90 1.x
Tăng Thị Hạnh, Phan Thị Hồng Nhung & Phạm Văn
Cường (2015). Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến
sinh trưởng, năng suất chất xanh và chất lượng của
cây cao lương thức ăn cho gia súc. Tạp chí Khoa
học và Phát triển. 13(3): 372-380.
Tổng cục Thống kê (2018). Niên giám Thống kê Việt
Nam năm 2018. Nhà xuất bản Thống kê.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_sinh_truong_nang_suat_va_chat_luong_cua_mot_so_loai.pdf