Hình trên cho thấy phần trăm tế bào phát
sáng ở lô polybrene là 71,13%, trong khi hiệu
quả phát sáng của lô Non-polybrene là 86,2%.
Kết quả này cho thấy polybrene đã có tác động
không tốt đến tế bào chuyển gen.
Nhằm tìm hiểu thêm sự tác động của
polybrene lên tế bào chuyển gen, việc khảo sát
thời gian tăng sinh của tế bào sau chuyển gen
đã được thực hiện bằng hệ thống X-Celligen.
Hình trên cho thấy phần trăm tế bào phát
sáng ở lô polybrene là 71,13%, trong khi hiệu
quả phát sáng của lô Non-polybrene là 86,2%.
Kết quả này cho thấy polybrene đã có tác động
không tốt đến tế bào chuyển gen.
Nhằm tìm hiểu thêm sự tác động của
polybrene lên tế bào chuyển gen, việc khảo sát
thời gian tăng sinh của tế bào sau chuyển gen
đã được thực hiện bằng hệ thống X-Celligen.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá tác động của Polybrene lên quá trình chuyển gen gfp vào tế bào gốc trung mô từ mô mỡ chuột, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13 3
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA POLYBRENE
LÊN QUÁ TRÌNH CHUYỂN GEN GFP VÀO TẾ BÀO
GỐC TRUNG MÔ TỪ MÔ MỠ CHUỘT
PHẠM LÊ BỬU TRÚC1, 2,*, VŨ BÍCH NGỌC2,
NGUYỄN NGỌC CƯỜNG2,3 và BÙI THỊ VÂN ANH2
1Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí Minh
2Viện Tế bào gốc, Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQG TP. HCM
3Công ty TNHH Công nghệ sinh học Dược NANOGEN
*Email: buutruc@gmail.com
(Ngày nhận: 03/04/2019; Ngày nhận lại: 04/07/2019; Ngày duyệt đăng: 17/09/2019)
TÓM TẮT
Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ (Adipose Tissue-Derived Stem Cells-ADSCs) có những ưu
điểm như khả năng tự làm mới, biệt hóa thành nhiều loại tế bào, dễ dàng thu nhận, ít gây xâm lấn,
số lượng tế bào dồi dào và đặc biệt là có thể sử dụng làm nguồn tự ghép. Để thực hiện các nghiên
cứu nhằm ứng dụng ADSCs cho y học tái tạo và công nghệ mô, việc chuyển gen gfp vào tế bào
này nhằm theo dõi sự di cư, biệt hóa và các tác động của tế bào ghép trong cơ thể nhận là một việc
cần thiết. Trong nghiên cứu này, ADSCs chuột (mADSCs) được chuyển gen gfp trong điều kiện
có (lô polybrene) và không có polybrene (lô non-polybrene). Tác động của polybrene lên quá trình
chuyển gen được đánh giá thông qua khả năng phát sáng của tế bào được chuyển gen, phần trăm
số tế bào phát sáng và thời gian nhân đôi của tế bào sau chuyển gen. Kết quả cho thấy gen gfp đã
được chuyển vào mADSCs ở cả 2 lô: lô polybrene và lô non-polybrene. Tuy nhiên, hiệu quả
chuyển gen ở lô non–polybrene cao hơn lô polybrene (86,2% > 71,13%). Thời gian nhân đôi của
mADSC-gfp ở lô non-polybrene tương đương với thời gian nhân đôi của mADSC bình thường
(32,5 giờ ~ 32,64 giờ); trong khi thời gian nhân đôi này ở mADSC-gfp lô polybrene dài hơn lô
non-polybrene và lô đối chứng (40,98 giờ > 32,5 giờ ~ 32,64 giờ).
Từ khóa: ADSC; Chuyển gen; GfP; Polybrene; Tế bào gốc trung mô
The impact of polybrene on gfp transfection into mouse adipose derived stem cells
ABSTRACT
Adipose tissue-derived stem cells (ADSCs) have been a promising candidate in regenerative
therapies because of their self-renewal and differentiation capacity. They are not only easily
harvested by minimally invasive techniques but can also be used as autologous transplantation.
However, it is crucial to have more in-depth studies about these techniques before applying them
to human. Therefore, to have better understanding and tracking of their behaviors inside the body,
transfection of green fluorescent protein (GFP) has been developed to provide a helpful tool for
performing in vivo research. In this study, mouse ADSCs (mADSCs) were transfected by GFP
lentivirus vector with polybrene (polybrene group) or without polybrene (non-polybrene group).
4 Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13
The effect of polybrene on the transfection efficiency was evaluated by the expression of GFP
through the glowing ability of transgenic cells, the percentage of glowing cells, and the doubling
time of the cells. The results indicated that the gfp gene was successfully transferred into mADSCs
of both polybrene and non-polybrene groups. However, the transfection efficiency of the non-
polybrene group was higher than that of the polybrene group (86.2% > 71.13%). The doubling
time of GFP-mADSCs in the non-polybrene group was equivalent to that of the normal mADSC
group (32.5 hours ~ 32.64 hours); while the doubling time of GFP-mADSCs in the polybrene
group was longer than the non-polybrene group’s and the control group’s (40.98 hours > 32.5
hours ~ 32.64 hours).
Keywords: ADSC; Gene transfection; GfP; Mesenchymal stem cells; Polybrene
1. Tổng quan
Liệu pháp tế bào gốc gần đây đã mang đến
những lợi ích to lớn trong y học tái tạo vì
những tính chất vốn có của sự đa dạng và tự
tái tạo tế bào gốc. Các tế bào gốc trung mô
(Mesenchymal Stem Cells-MSCs) là một
nhóm các loại tế bào gốc trưởng thành có
nguồn gốc từ các mô khác nhau, chẳng hạn như
tủy xương, dây rốn và mô mỡ. Mô mỡ là một
nguồn thu nhận tế bào gốc dồi dào, các tế bào
này được gọi là ADSCs. Hơn thế nữa, mô mỡ
có thể được lấy ra khỏi cơ thể mà không gây
tác hại đối với sức khỏe người bệnh. Trong khi
đó, để thu nhận được tế bào gốc tuỷ xương,
bệnh nhân phải trải qua phẫu thuật chọc hút tế
bào từ tủy xương rất đau đớn mà lượng tế bào
thu được không nhiều. Trong điều kiện in vitro
và in vivo cụ thể, ADSCs có thể biệt hóa thành
các tế bào chức năng khác nhau, bao gồm tế
bào xương, mỡ, sụn, cơ tim, tế bào gan, tế bào
tụy và tế bào nội mô (Strem và cs, 2005). Các
đặc tính biến dưỡng của ADSCs như khả năng
tạo mạch, chống oxy hóa, điều biến miễn dịch
đã được chứng minh trong các thí nghiệm và
các mô hình cận lâm sàng (Gimble và cs,
2007). Đặc biệt, ADSCs không biểu hiện phức
hợp tương hợp mô chính lớp II (MHC–II), do
đó cho phép các tế bào này được sử dụng trong
cấy ghép đồng loài và khác loài mà không cần
tiến hành ức chế miễn dịch ở cơ thể nhận (Lin
và cs, 2012). Trong các nghiên cứu tiền lâm
sàng, ADSCs đã cho thấy hiệu quả điều trị
tuyệt vời cho các bệnh tiêu hóa, bệnh tự miễn,
bệnh tim mạch, tái tạo xương, bệnh thần kinh,
bệnh về máu, rối loạn miễn dịch, đái tháo
đường, rối loạn tiết niệu và bệnh phổi (Miana
và cs, 2018). Để đánh giá chính xác hiệu suất
điều trị, các nghiên cứu có hệ thống về các hành
vi của MSC như di cư, tăng sinh và biệt hóa
trong cơ thể sau khi cấy ghép là rất quan trọng.
Việc phát triển một phương pháp chính xác,
nhạy cảm và an toàn để đánh dấu và theo dõi
các tế bào gốc là điều cần thiết.
Cho đến nay, có nhiều phương pháp
chuyển gen vào tế bào. Tùy thuộc vào dòng tế
bào, mục đích nghiên cứu và điều kiện hiện có
mà các phương pháp phù hợp sẽ được lựa chọn
để chuyển gen, trong đó có 3 nhóm chính là
phương pháp vật lý, hóa học và sinh học. Nhóm
chuyển gen bằng phương pháp vật lý gồm có
vi tiêm và điện biến nạp. Nhóm chuyển gen
bằng phương pháp hóa học gồm có chuyển gen
bằng DEAE–dextran, Calcium phosphate và
cationic polymer. Nhóm chuyển gen bằng
phương pháp sinh học gồm có chuyển gen bằng
virus và liposome. Virus được dùng để chuyển
gen có chứa gen quan tâm và bị loại bỏ đi các
trình tự mã hóa cho protein gây bệnh. Gen
chuyển với vector retrovirus xâm nhập một
cách hiệu quả vào hệ gen của vật chủ nhưng
virus sử dụng phải an toàn, không gây bệnh.
Lentivirus là một họ phụ nằm trong họ
Retrovirus, trong đó có HIV. Khác với các
retrovirus khác, chúng có khả năng xâm nhiễm
vào cả tế bào phân chia và tế bào không phân
chia. Bộ gen lentivirus có thể chứa tới 9 kb gen
ngoại lai, có khả năng gắn chèn gen này vào hệ
gen tế bào chủ và biểu hiện dài hạn. Hơn nữa,
Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13 5
lentivirus có ít nguy cơ gây đột biến gắn chèn
và khả năng sinh ung. Ngoài ra, chúng còn có
ưu điểm là không gây đáp ứng miễn dịch như
đối với Adenovirus.
GFP (Green Fluorescent Protein) là một
protein có khả năng phát ánh sáng huỳnh quang
xanh lá cây khi được kích thích bởi ánh sáng
xanh dương, được tìm thấy trong sứa Thái Bình
Dương Aequorea victoria. GFP được cấu tạo
bởi 238 amino acid và có khối lượng khoảng
26,9 kDa. Tinh thể GFP có cấu trúc hình trụ với
11 phiến β tạo nên vách hình trụ và các xoắn α
ở đầu và cuối hình trụ. Cơ chế phát quang tự
nhiên của loài sứa này nhờ vào 2 loại protein
phát huỳnh quang là Aequorin và GFP. Khi
Aequorin kết hợp với ion Ca2+, chất này phát
ra ánh sáng huỳnh quang màu xanh dương.
Ánh sáng này được GFP hấp thụ, đến lượt nó,
lại phát ra ánh sáng màu xanh lá cây (Prasher
và cs, 1992). Dòng thương mại ứng dụng gen
gfp để chuyển gen được sử dụng có CopGFP
Control Lentiviral Particles : sc-108084 cùa
Santa Cruz.
Polybrene (hay còn gọi là Hexadimethrine
bromide) là một polycation, có tên gọi theo
danh pháp IUPAC là 1,5–Dimethyl–1,5–
diazaundecamethylene polymethobromide, có
công thức phân tử (C13H30Br2N2)n. Chất này
được dùng để tăng cường hiệu quả chuyển gen
bằng virus và acid nucleic ngoại lai vào tế bào
chủ. Trong chuyển gen, polybrene hoạt động
bằng cách trung hòa các lực đẩy tĩnh điện giữa
điện tích âm trên bề mặt tế bào và virus, giúp
cho virus dễ dàng xâm nhập vào tế bào. Ngoài
ra, chất này cũng làm tăng hiệu quả khi chuyển
gen bằng cationic lipid. Tuy nhiên, polybrene
có khả năng gây độc đối với một số dòng tế bào
nhạy cảm.
Hiện nay, trong các ứng dụng tiền lâm
sàng của MSCs, việc đánh dấu và theo dõi sự
phân bố in vivo và số phận của tế bào gốc cấy
ghép theo thời gian là rất quan trọng. Protein
huỳnh quang màu xanh lá cây (GFP) đã được
sử dụng để đánh giá sự ghép tế bào và theo dõi
tế bào dài hạn trong nhiều nghiên cứu. Tế bào
gốc trung mô nhau thai người (hPMSCs) được
chuyển gen gfp cũng cho thấy không ảnh
hưởng đến khả năng sống, hình dạng, kiểu hình
kháng nguyên bề mặt và tính đa năng của
chúng (Yu và cs, 2015). Một nghiên cứu thực
hiện chuyển gen gfp vào hPMSCs và theo dõi
ảnh hưởng của việc chuyển gen đến biến dưỡng
của tế bào đã chỉ ra rằng biểu hiện của gen chỉ
thị GFP khi được chuyển vào tế bào gốc là an
toàn và không ảnh hưởng đến các con đường
trao đổi chất và chuyển hóa của tế bào (Yang
và cs, 2017).
2. Vật liệu và phương pháp
Vật liệu
Chuột nhắt trắng Mus musculus var. Albino
Tế bào gốc trung mô từ mô mỡ được thu
nhận từ chuột nhắt trắng Mus musculus var.
Albino.
Lentivirus mang gen gfp
Vector lentivirus mang gen gfp là sản phẩm
thương mại copGFP Control Lentiviral Particles
(sc-108084) được mua từ hãng Santa Cruz.
Polybrene
Polybrene được mua từ hãng Sigma (code
H9268).
Hóa chất sử dụng trong phân tích Flow
Cytometry
Kháng thể phân tích tế bào gốc trung mô
từ mô mỡ chuột: CD14 FITC, CD34 FITC,
CD44 APC, CD45 PerCP, CD90 FITC, CD106
FITC (BD Bioscience)
FACS flow (BD Bioscience)
Phương pháp
Thu nhận tế bào ứng viên mADSCs
Chuột nhắt trắng (Mus musculus var.
Albino) 8-12 tuần tuổi được gây mê, cố định và
cạo sạch lông vùng bụng. Dùng kéo và kẹp mở
ổ bụng chuột để lộ phần mỡ. Loại bỏ mạch máu
và các thành phần của cơ quan sinh dục, giữ lại
phần mỡ, gắp mỡ vào falcon chứa dung dịch
PBS– có bổ sung kháng sinh 5X. mADSCs
được thu nhận theo phương pháp của Yu G và
cs (2011).
Các tế bào ứng viên được quan sát dưới
kính hiển vi và ghi nhận lại hình thái và sự đồng
6 Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13
nhất của quần thể tế bào sau các lần cấy chuyền.
Phân tích kiểu hình kháng nguyên bề
mặt của tế bào ứng viên
Kiểu hình kháng nguyên bề mặt được phân
tích bằng phương pháp flow cytometry với các
kháng nguyên CD14, CD34, CD44, CD45,
CD90, CD105 và CD106. Mẫu tế bào được
phân tích bằng máy FACS Calibur (BD
Bioscience). Dữ liệu được phân tích bằng phần
mềm CellQuest Pro ở 10000 tế bào.
Đánh giá khả năng biệt hóa của tế bào
ứng viên
Tiềm năng biệt hóa của tế bào ứng viên
được đánh giá bằng cách gây cảm ứng biệt hoá
tế bào ứng viên thành tế bào xương và tế bào
mỡ.
Phương pháp gây cảm ứng biệt hoá tế bào
ứng viên thành tế bào xương: tế bào được nuôi
cấy trong 21 ngày trong môi trường DMEM
F12 chứa 10% FBS, 0,1μM dexamethasone, 50
µg/ml ascorbic acid-2 phosphate và 10 mM β-
glycerol phosphate (tất cả được mua từ hãng
Sigma-Aldrich). Sự biệt hóa xương được đánh
giá thông qua sự hình thành và tích tụ Calcium
bên trong chất nền. Các tế bào được biệt hóa
chứa Calcium sẽ bắt màu với thuốc nhuộm
Alizarin Red tạo thành màu đỏ. Các tế bào
không hoặc chưa biệt hóa thành nguyên bào
xương sẽ không bắt màu thuốc nhuộm.
Phương pháp gây cảm ứng biệt hoá tế bào
ứng viên thành tế bào mỡ: tế bào được nuôi cấy
trong 21 ngày trong môi trường DMEM F12
chứa 0,5 mM 3-isobutyl1-methyl-xanthine,
1nM dexamethasone, 0,1 mM indo-methacin
và 10% FBS (tất cả được mua từ hãng
SigmaAldrich). Sự biệt hóa tế bào mỡ được
đánh giá bằng cách quan sát các giọt lipid trong
các tế bào dưới kính hiển vi và nhuộm với
thuốc nhuộm Oil red. Các tế bào mỡ sẽ bắt màu
thuốc nhuộm tạo thành màu đỏ. Các tế bào
không hoặc chưa biệt hóa thành nguyên bào
xương sẽ không bắt màu thuốc nhuộm.
Chuyển gen gfp vào tế bào
Để so sánh hiệu quả chuyển gen gfp có
polybrene, non-polybrene và không chuyển,
thí nghiệm được tiến hành trên đĩa 48 với 3 lô
thí nghiệm, mỗi lô gồm 3 giếng, tế bào
mADSCs bám dính được xử lý để tách ra khỏi
bề mặt bình nuôi bằng Trypsin/EDTA 0,25%,
sau đó bất hoạt bằng môi trường nuôi cấy, ly
tâm để rửa tế bào và tái huyền phù trong môi
trường mới, tế bào được đếm và cho vào các
giếng với mật độ ban đầu khoảng 105 tế
bào/giếng. Việc chuyển gen được tiến hành tại
thời điểm 24 giờ sau khi cấy chuyền mADSCs
vào đĩa.
Lô không chuyển: mADSCs không được
chuyển gen: Bổ sung 200µl môi trường MSCs
Cult kit.
Lô Polybrene: mADSCs được chuyển gen
gfp có Polybrene: Bổ sung 200µl môi trường
chứa lentivirus (hệ số MOI = 1) và nồng độ
Polybrene là 8µg/ml.
Lô non-polybrene: ADSCs được chuyển
gen gfp nhưng không có Polybrene: Bổ sung 200
µl môi trường chứa lentivirus (hệ số MOI = 1).
Các đĩa nuôi cấy được đặt vào tủ nuôi tế
bào trong điều kiện 37°C, 5% CO2.
Đánh giá hiệu quả chuyển gen
Khảo sát khả năng phát sáng: Tế bào ở các
lô thí nghiệm được quan sát và ghi nhận bằng
kính hiển vi huỳnh quang vào các ngày thứ 3,
9 và 15 sau khi chuyển gen gfp.
Khảo sát hiệu quả chuyển gen: Phương
pháp Flow cytometry được sử dụng để khảo sát
hiệu quả chuyển gen. Mẫu mADSCs được tách,
ly tâm rửa với PBS, huyền phù lại với dung dịch
Facsflow trong ống li tâm 5ml (BD Biosciences,
Mỹ). Phân tích phần trăm tế bào phát sáng xanh
lá cây bằng hệ thống FACS Calibur.
Khảo sát thời gian nhân đôi: Tế bào ở 3 lô
thí nghiệm được cấy chuyền tế bào vào đĩa
chuyên biệt 96 giếng của hệ thống X-
CELLigence với mật độ 5.000 tế bào/giếng,
mỗi lô thực hiện trên 6 giếng. Các đĩa nuôi
được chuyển vào tủ nuôi cấy tĩnh ở điều kiện
37°C, 5% CO2. Đường cong tăng trưởng được
ghi nhận sau 120 giờ.
Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13 7
3. Kết quả và thảo luận
Kết quả thu nhận và nuôi cấy tăng sinh tế bào gốc trung mô từ mô mỡ
Hình 1. Hình dạng tế bào ứng viên qua lần cấy chuyền 3 (A), và lần cấy chuyền 7 (B)
Sau 10 ngày nuôi cấy, tế bào bám đầy bề
mặt bình nuôi, chiếm khoảng 70 –80% diện
tích bề mặt nuôi cấy. Việc cấy chuyền trong
thời điểm này là cần thiết để cung cấp thêm
không gian và chất dinh dưỡng cho các tế bào
tiếp tục phát triển. Sau khi bám dính trên bề
mặt nuôi cấy, các tế bào bắt đầu tăng sinh và
gia tăng số lượng. Sau 10 ngày nuôi cấy sơ cấp,
mật độ tế bào đạt khoảng 70–80% diện tích
bình nuôi. Khi đó, việc cấy chuyền sẽ được
thực hiện. Tế bào được xử lý với Trypsin để
tách ra khỏi bề mặt nuôi cấy và thu nhận tế bào
đơn, sau đó tái huyền phù trong môi trường và
chuyển sang bình nuôi mới với mật độ thấp hơn
nhằm cung cấp dinh dưỡng và không gian cho
tế bào tiếp tục tăng sinh. Sau 3-7 lần cấy
chuyền, quần thể tế bào ứng viên đã có sự đồng
nhất và ổn định về hình thái, có thể được sử
dụng để tiến hành các khảo sát tiếp theo.
Kết quả định danh tế bào ứng viên
Quần thể tế bào ứng viên được phân tích
kiểu hình kháng nguyên bề mặt bằng phương
pháp dòng chảy tế bào (flow cytometry), cảm
ứng biệt hoá thành tế bào mỡ, tế bào xương.
Hình 2. Các tế bào ứng viên biểu hiện các marker đặc trưng cho tế bào gốc trung mô
và biệt hoá thành tế bào chuyên hoá. (A) Các tế bào ứng viên dương tính với CD44,
CD90 và CD106; âm tính với các marker CD14, CD34, CD45, và CD105; (B) Tế bào
ứng viên biệt hoá thành tế bào mỡ; (C) Tế bào ứng viên biệt hoá thành tế bào xương.
A B
8 Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13
Tế bào gốc trung mô ứng viên được phân
tích kiểu hình miễn dịch với 7 marker CD14,
CD34, CD44, CD45, CD90, CD105 và CD106
ở lần cấy chuyền thứ 3.
Hiện nay, CD44 và CD90 đang được sử
dụng như các marker quan trọng trong việc xác
định tế bào gốc trung mô (Wagner, 2005)
(Dominici, 2006). Thêm vào đó, CD106 (hay
VCAM–1) là thành viên của siêu họ
Immunoglobulin (Ig), phân tử bám dính bề mặt
tế bào tạo mạch (Pepinsky, 1992). CD106 là
protein trung gian cho sự kết dính và truyền tín
hiệu giữa tế bào lympho, bạch cầu đơn nhân,
bạch cầu ưa acid và bạch cầu ưa base với lớp
nội mô mạch máu. Do đó, CD106 cũng thường
được dùng để định danh tế bào gốc trung mô từ
mô mỡ (Zimmerlin, 2010). Kết quả thể hiện
quần thể ADSCs ứng viên có sự dương tính
mạnh với 3 marker là CD44, CD90 và CD 106.
Kết quả này cho thấy quần thể tế bào ứng viên
được phân tích có khả năng bám dính tốt trên
bề mặt nuôi cấy và mang đặc tính của tế bào
gốc trung mô như tương tác tế bào-tế bào, tế
bào-chất nền và khả năng “homing”.
Ngược lại, quần thể ADSCs ứng viên âm
tính với các marker CD14, CD 34 và CD45. Sự
biểu hiện với rất ít các tế bào CD14 và CD45
cho thấy quần thể tế bào được thu nhận không
bị tạp nhiễm với các tế bào máu trong quá trình
nuôi cấy. Đây cũng là một trong những điều
kiện để khẳng định đặc tính của tế bào gốc
trung mô (Dominici, 2006). Thêm vào đó,
CD34 là một marker đặc trưng cho tế bào gốc
tạo máu, tế bào máu trưởng thành, tế bào tiền
thân tạo máu ở máu cuống rốn, tủy xương và tế
bào nội mô, có chức năng điều hòa sự bám dính
của tế bào tạo máu với các môi trường vi tạo
máu (Shiffman, 2014). Đây không phải là
marker đặc trưng cho tế bào gốc trung mô nên
sự hiện diện với tỉ lệ rất nhỏ cũng góp phần
chứng minh quần thể tế bào ứng viên là tế bào
gốc trung mô. Điều này cũng tương đồng với
kết quả trong báo cáo của Zuk và cộng sự năm
2002 (Zuk, 2002). Bên cạnh đó, kết quả còn
cho thấy có sự âm tính đối với CD105. CD105
(còn được gọi là Endoglin hay SH2) là một
glycoprotein nhóm 1, thành phần phức hợp thụ
thể TGF–β. Protein này đóng vai trò quan trọng
trong sự hình thành mạch máu, liên quan đến
sự tăng sinh, biệt hóa và di cư của tế bào
(Aslan, 2006). Sự biểu hiện dương tính với
marker này cũng được coi là một trong những
tiêu chí để nhận diện tế bào gốc trung mô
(Dominici, 2006). Ngoài ra sự giảm biểu hiện
của CD105– dường như thể hiện sự biệt hóa của
MSCs, nghĩa là khả năng tăng sinh và tạo
colony rất thấp. Tuy nhiên các báo cáo gần đây
cho thấy sự biểu hiện âm tính hay dương tính
của CD105 còn phụ thuộc vào nguồn thu nhận,
thời gian nuôi cấy in vitro và giai đoạn biệt hóa.
Sự vắng mặt của CD105 cho thấy MSCs có sự
biểu hiện gia tăng của các gen tạo xương, trong
khi quần thể có sự dương tính với CD105 lại
nghiêng về khả năng tạo sụn (Chang, 2013).
Đồng thời, trong một báo cáo năm 2013,
Anderson và cộng sự đã thu nhận và nuôi cấy
ADSCs từ mô mỡ chuột Balb/c và C57Bl6, sau
đó chọn ra hai quần thể mADSCs với CD105–
và CD105+ và thực hiện các thí nghiệm kiểm
tra giống nhau. Kết quả cho thấy cả 2 quần thể
này đều thể hiện các đặc tính của MSCs tương
tự nhau, không có sự khác biệt trong tiềm năng
tăng sinh và khả năng tạo colony. Không
những vậy, quần thể CD105– còn cho thấy tiềm
năng biệt hóa mỡ và xương cao hơn, đồng thời
cũng thể hiện hiệu quả ức chế sự tăng sinh của
tế bào T in vitro cao hơn so với quần thể
CD105+ (Anderson, 2013). Qua đó cho thấy,
các mADSCs âm tính với CD105 không đại
diện cho các tế bào đã biệt hóa mà có thể là
nhóm khác của quần thể MSCs. Ngoài ra, kết
quả âm tính với CD105 còn được thấy trong
báo cáo của Yoshimura và cộng sự năm 2006
thực hiện trên hADSCs (Yoshimura, 2006).
Như vậy, quần thể tế bào ứng viên thu nhận
được đã biểu hiện đúng các marker đặc trưng
cho tế bào gốc trung mô sau 3 lần cấy chuyền.
Trong quá trình cảm ứng biệt hóa xương,
tế bào chuyển từ hình dạng trải thon dài sang
tròn dẹt và tích tụ Canxi bên trong. Sự biệt hóa
của tế bào ứng viên được xác nhận bởi sự tích
tụ các tinh thể khoáng trong chất nền tạo xương
khi nhuộm tế bào với Alizarin Red. Tế bào bắt
màu đỏ của thuốc nhuộm ở những vùng tích tụ
nhiều Canxi và không bắt màu ở những vùng
không tích tụ Canxi. Kết quả này cho thấy quần
Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13 9
thể tế bào ứng viên có khả năng biệt hóa thành
nguyên bào xương trong điều kiện in vitro.
Sự biệt hóa các tế bào ứng viên thành các
tế bào mỡ được thể hiện bởi sự tích tụ các giọt
mỡ trong tế bào và được nhuộm màu đỏ bởi
thuốc nhuộm Oil Red. Từ các đặc điểm trên, có
thể kết luận rằng quần thể tế bào ứng viên thu
nhận được chính là tế bào gốc trung mô.
Kết quả chuyển gen
Sau 3 ngày chuyển gen
Hình 3. Tế bào sau 3 ngày chuyển gen. ADSCs thường không chuyển gen gfp và ADSCs thường
không chuyển gen được chọn lọc với puromicin đều không có tế bào phát sáng; lô polybrene và
Non-polybrene đều có tế bào phát sáng màu xanh của gen gfp chuyển, trong đó lô polybrene có
độ phát sáng cao hơn lô Non-polybrene.
Ánh sáng trắng
Ánh sáng huỳnh quang
A
D
S
C
s
A
D
S
C
s
p
u
ro
m
y
c
in
P
o
ly
b
re
n
e
N
o
n
-
p
o
ly
b
re
n
e
10 Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13
Sau 9 ngày chuyển gen
Hình 4. Tế bào sau 9 ngày chuyển gen. ADSCs thường không chuyển gen gfp và ADSCs thường
không chuyển gen được chọn lọc với puromicin đều không có tế bào phát sáng; lô polybrene và
Non-polybrene đều có tế bào phát sáng màu xanh của gen gfp chuyển, trong đó lô Non-polybrene
có độ phát sáng cao hơn lô polybrene.
Ánh sáng trắng Ánh sáng huỳnh quang
A
D
S
C
s
A
D
S
C
s
p
u
ro
m
y
c
in
P
o
ly
b
re
n
e
N
o
n
-
p
o
ly
b
re
n
e
Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13 11
Sau 3 ngày chuyển gen, các tế bào ở lô
ADSCs do không được chuyển gen nên không
có tín hiệu khi chụp dưới ánh sáng huỳnh
quang. Sau khi chọn lọc với puromycin, các tế
bào ở lô này đã bị chết do tế bào không có sự
biểu hiện của gen kháng puromycin, điều này
thể hiện rõ sau 9 ngày, ở lô này chỉ còn lại
giếng trống.
Tế bào được chuyển gen bằng lentivirus
thương mại (copGFP) có khả năng biểu hiện
gen gfp sau khi chuyển gen, đồng thời biểu
hiện gen kháng puromycin. Do đó, ở 2 lô tế bào
được chuyển gen có sử dụng polybrene (lô
polybrene) và không sử dụng polybrene (lô
non-polybrene) vẫn còn giữ lại các tế bào sống
và có sự biểu hiện huỳnh quang của protein
GFP ở các tế bào nhận được gen chuyển. Sau 3
đến 9 ngày, các tế bào này tiếp tục tăng sinh và
gia tăng số lượng. Kết quả trên thị trường chụp
dưới kính hiển vi huỳnh quang cho thấy lô
Non-polybrene vào ngày thứ 3 có tín hiệu phát
sáng yếu hơn lô polybrene. Tuy nhiên, đến
ngày thứ 9 sau chuyển gen, lô Non-polybrene
lại có tín hiệu phát sáng mạnh hơn lô
polybrene. Kết quả này có thể là do polybrene
ban đầu có khả năng giúp tăng hiệu quả chuyển
gen vào tế bào, tuy nhiên polybrene có khả
năng gây độc lên mADSCs làm giảm khả năng
sống sót và tăng sinh về sau của dòng tế bào
này. Vì vậy, khả năng tăng sinh của tế bào ở lô
Polybrene đã bị giảm bởi tác động của
Polybrene so với lô Non–polybrene. Để làm rõ
hơn kết quả này, chúng tôi tiếp tục đánh giá
hiệu quả chuyển gen bằng phương pháp flow
cytometry.
Kết quả đánh giá hiệu quả chuyển gen
bằng phương pháp flow cytometry
Trong nghiên cứu này, lô ADSCs được sử
dụng như dòng tế bào đối chứng để đánh giá
hiệu quả chuyển gen giữa việc bổ sung
polybrene và không có polybrene nên hiệu quả
chuyển gen của lô thí nghiệm này bằng 0.
Hình 5. Kết quả thể hiện hiệu quả chuyển gen của các lô thí nghiệm
12 Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13
Hình trên cho thấy phần trăm tế bào phát
sáng ở lô polybrene là 71,13%, trong khi hiệu
quả phát sáng của lô Non-polybrene là 86,2%.
Kết quả này cho thấy polybrene đã có tác động
không tốt đến tế bào chuyển gen.
Nhằm tìm hiểu thêm sự tác động của
polybrene lên tế bào chuyển gen, việc khảo sát
thời gian tăng sinh của tế bào sau chuyển gen
đã được thực hiện bằng hệ thống X-Celligen.
Hình 6. Biểu đồ thể hiện thời gian nhân đôi của tế bào ở các lô thí nghiệm
Kết quả cho thấy thời gian nhân đôi trung
bình của các tế bào ở lô ADSCs và Non–
polybrene tương đương nhau (32,64 ± 1,56
giờ và 32,50 ± 1,80 giờ), trong khi ở lô
Polybrene (40,98 ± 1,28 giờ) cao hơn hai lô
Non-polybrene và lô ADSCs. Điều này cho
thấy tốc độ tăng sinh của mADSC-gfp ở lô
polybrene thấp hơn 2 lô còn lại. Kết quả này
có thể giải thích là do polybrene khi được đưa
vào môi trường chuyển gen sẽ đi vào trong tế
bào và ảnh hưởng đến quá trình nhân đôi, từ
đó làm giảm tốc độ tăng sinh của tế bào. Điều
này cũng phù hợp với báo cáo của Lin và cộng
sự năm 2011, chứng minh tác động ức chế sự
tăng sinh của human ADSC của polybrene
(Lin và cs, 2011).
4. Kết luận
Nghiên cứu đã phân lập và nuôi cấy thành
công ADSCs từ mô mỡ chuột. Chuyển thành
công gen gfp vào ADSCs ở cả 2 lô: lô
polybrene và lô non-polybrene. Trong đó, quá
trình chuyển gen ở lô non–polybrene cho kết
quả tốt hơn lô polybrene. Thời gian nhân đôi
của tế bào mADSC-gfp ở lô non-polybrene
tương đương với thời gian nhân đôi của tế bào
mADSC bình thường; trong khi thời gian nhân
đôi này ở tế bào mADSC-gfp lô polybrene dài
hơn lô non-polybrene và lô đối chứng
Tài liệu tham khảo
Anderson, P. et al. (2013). CD105 (endoglin)-Negative murine mesenchymal stromal cells define
a new multipotent subpopulation with distinct differentiation and immunomodulatory
capacities. PLoS ONE, 8(10), e76979.
Aslan, H. et al. (2006). Osteogenic differentiation of noncultured immunoisolated bone marrow-
derived CD105+ cells. Stem Cells, 24(7), 1728-1737.
Chang, C.B. et al. (2013). Chondrogenic potentials of human synovium-derived cells sorted by
specific surface markers. Osteoarthritis Cartilage, 21(1), 190-199.
Phạm Lê Bửu Trúc và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 3-13 13
Dominici, M. et al. (2006). Minimal criteria for defining multipotent mesenchymal stromal cells.
The International Society for Cellular Therapy position statement Cytotherapy, 8(4),
315-317.
Gimble, J.M., Katz, A.J. & Bunnell, B. A. (2007). Adipose-derived stem cells for regenerative
medicine. Circulation Research, 100(9), 1249-1260.
Lin, C.S., Lin, G. & Lue, T. F. (2012). Allogeneic and xenogeneic transplantation of adipose-derived
stem cells in immunocompetent recipients without immunosuppressants. Stem Cells and
Development, 21(15), 2770-2778.
Lin, P., Correa, D., Lin, Y. & Caplan, A. I. (2011). Polybrene inhibits human mesenchymal stem
cell proliferation during lentiviral transduction. PLoS One, 6(8), e23891.
Miana, V. & Gonzalez, E. (2018). Adipose tissue stem cells in regenerative medicine.
Ecancermedicalscience, 12, 822-836.
Pepinsky, B. et al. (1992). Structure/function studies on vascular cell adhesion molecule-1. J Biol
Chem, 267(25), 17820-6.
Prasher, D. C. et al (1992). Primary structure of the Aequorea victoria green - fluorescent protein.
Gene, 111, 229-233.
Ricks, D. M. et al. (2008). Optimized lentiviral transduction of mouse bone marrow-derived
mesenchymal stem cells. Stem Cells and Development, 17(3), 441-450.
Mizuno, H. & Hyakusoku, H. (2014). Fat grafting supplemented by adipose-derived stem cells for
breast augmentation. In: Shiffman, M.A., Di Giuseppe, Bassetto, F (eds) Stem cells in
aesthetic procedures: Art, science, and clinical techniques. Springer, Berlin, 557-562.
Strem, B.M. et al. (2005). Multipotential differentiation of adipose tissue-derived stem cells. The
Keio Journal of Medicine, 54(3), 132-141.
Wagner, W. et al. (2005). Comparative characteristics of mesenchymal stem cells from human
bone marrow, adipose tissue, and umbilical cord blood. Experimental Hematology, 33(11),
1402-1416.
Yang, J. et al. (2017). The Impact of GFP reporter gene transduction and expression on
metabolomics of placental mesenchymal stem cells determined by UHPLC-Q/TOF-
MS. Stem cells international, ID-3167985.
Yoshimura, K. et al. (2006). Characterization of freshly isolated and cultured cells derived from
the fatty and fluid portions of liposuction aspirates. Journal of Cellular Physiology, 208(1),
64-76.
Yu, G et al. (2011). Isolation of murine adipose-derived stem cells. Methods Molecular Biology,
702, 29-36.
Yu, J. et al. (2015). GFP labeling and hepatic differentiation potential of human placenta-derived
mesenchymal stem cells. Cellular Physiology and Biochemistry, 35(6), 2299-2308.
Zimmerlin, L. et al. (2010). Stromal vascular progenitors in adult human adipose tissue. Cytometry
A, 77(1), 22-30.
Zuk, P.A. et al. (2002). Human adipose tissue is a source of multipotent stem cells. Molecular
Biology of the Cell, 13(12), 4279-4295.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_tac_dong_cua_polybrene_len_qua_trinh_chuyen_gen_gfp.pdf