Kết quả của nghiên cứu đã xác định được các phân đoạn cao chiết lá cây gai có tác dụng
ức chế enzym XO. Trong đó, phân đoạn n-BuOH thể hiện khả năng ức chế mạnh nhất với IC50
là 162,81 (g/mL), sau đó là phân đoạn EtOH, EtOAc, n-Hexan với giá trị IC50 lần lượt là
261,91; 279,83; 455,53 (g/mL). Như vậy, các chất có tác dụng ức chế enzym XO chủ yếu
nằm trong phân đoạn n-BuOH. Điều thú vị là thứ tự ức chế enyme XO và khả năng chống oxy
hóa của các cao phân đoạn lá gai giống nhau: n- Hexan < EtOAc < EtOH < n- BuOH. Kết quả
này có thể giải thích là do trong lá gai chứa các hợp chất phenolic, flavonoid, trong đó axit
caffeic [17, 18], rutin, isoquercetin [19], axit chlorogenic [20] được đánh giá là có đồng thời
khả năng ức chế hoạt động của enzym XO và hoạt tính chống oxy hóa cao. Li-Na Huo và cộng
sự (2015) xác định các thành phần ức chế xanthine oxidase từ lá của cây tía tô đã chỉ ra 5 hợp
chất, trong đó phần nhiều là axit caffeic (một thành phần có trong lá cây gai), axit rosmarinic,
3 hợp chất còn lại là vinyl caffeate, methyl rosmarinate và apigenin trong phần rửa giải EtOH
70% của chiết xuất n-butanol của cao chiết nước lá tía tô cho thấy hoạt động ức chế mạnh đối
với enzym XO in vitro, trong đó tác dụng ức chế XO của axit caffeic được thể hiện bởi giá trị
IC50 là 121,22 g/mL [18]. Zhao-Qing Meng và cộng sự (2014) đã nghiên cứu về sự cải thiện
tình trạng tăng axit uric máu và viêm gút của axit chlorogenic [20]. Nghiên cứu này cho thấy,
axit chlorogenic liều 50, 100 và 200 mg/kg làm giảm đáng kể nồng độ axit uric trên chuột bị
gây tăng axit uric do kali oxonat. Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng axit chlorogenic cải thiện
các triệu chứng viêm trên chuột thí nghiệm gây ra do tinh thể MSU bằng cách ức chế sản xuất
các cytokine tiền viêm bao gồm interleukin-1β (IL-1β), interleukin-6 (IL-6) và yếu tố hoại tử
khối u- (TNF-) [20]. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng ức chế enzym XO ở các cao
phân đoạn khác nhau của lá gai, nhất là các chất từ phân đoạn n-BuOH. Bên cạnh đó, lá gai là
một dược liệu quen thuộc và dễ kiếm nên rất có tiềm năng sử dụng như thực phẩm bổ sung
trong điều trị gút và các bệnh liên quan đến tăng axit uric máu.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá tác dụng chống oxy hóa và ức chế enzym xanthine oxidase in vitro của cao chiết lá cây gai (boehmeria nivea L gaudich), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Công nghệ và Thực phẩm 20 (3) (2020) 137-143
137
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG OXY HÓA VÀ ỨC CHẾ
ENZYM XANTHINE OXIDASE IN VITRO CỦA CAO CHIẾT
LÁ CÂY GAI (Boehmeria nivea L. Gaudich)
Bùi Thanh Tùng*, Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Huyền,
Nguyễn Thị Thanh Bình, Trần Thị Quỳnh Hoa
Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
*Email: tungasia82@gmail.com
Ngày nhận bài: 11/6/2020; Ngày chấp nhận đăng: 24/7/2020
TÓM TẮT
Lá cây gai Boehmeria nivea L. được chiết xuất bằng phương pháp siêu âm bằng ethanol
50% và sau đó chiết phân đoạn bằng các dung môi n-hexan, ethyl acetat (EtOAc) và n-butanol
(n- BuOH). Các phân đoạn cao chiết được đánh giá khả năng chống oxy hóa và hoạt động ức
chế xanthine oxidase (XO) in vitro. Kết quả đánh giá tác dụng chống oxy hóa cho thấy phân
đoạn n- BuOH có khả năng chống oxy hóa mạnh nhất (IC50: 81,58 g/mL), tiếp theo là cao
chiết EtOH (IC50: 112,98 g/mL) và phân đoạn EtOAc (IC50: 187,86 g/mL) và thấp nhất là
phân đoạn n-hexan (IC50: 240,19 g/mL). Kết quả đánh giá tác dụng ức chế enzym XO cũng
cho thấy phân đoạn n- BuOH có tác dụng ức chế enzym XO mạnh nhất (IC50: 162,81 g/mL),
tiếp theo là phân đoạn EtOH (IC50: 261,91 g/mL) và phân đoạn EtOAc (IC50: 279,83 g/mL) và
thấp nhất là phân đoạn n-hexan (IC50: 455,53 g/mL).
Từ khóa: Boehmeria nivea L., axit uric, xanthine oxidase, chống oxy hóa.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong vài thập kỷ qua, tỷ lệ người dân trên thế giới bị tăng axit uric máu đang gia tăng
nhanh chóng. Bằng chứng nổi bật cho thấy tăng axit uric máu phổ biến không chỉ ở các nước
phát triển [1] mà còn gia tăng ở các nước thu nhập thấp và trung bình với tần suất cao [2]. Một
số nghiên cứu dịch tễ học chỉ ra rằng tăng axit uric máu có liên quan đến một số bệnh bao gồm
đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, tăng huyết áp, bệnh tim mạch và hội chứng chuyển
hóa [3-5]. Đặc biệt, tăng axit uric máu đã được biết từ rất lâu là yếu tố nguy cơ quan trọng của
bệnh gút [6, 7]. Xanthine oxidase là một trong những đích tác dụng dược lý quan trọng giúp
hạ axit uric, một đích quan trọng trong điều trị bệnh gút. Việt Nam có nguồn tài nguyên thực
vật phong phú, với nhiều cây có tác dụng dược lý tốt. Cây lá gai có tên khoa học là Boehmeria
nivea (L.) Gaudich có chứa nhiều hợp chất như phenolic, flavonoid, vitamin, khoáng chất
đã và đang được sử dụng trong y học cổ truyền với tác dụng lợi tiểu, cầm máu [8-11]. Tuy nhiên,
hiện nay tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu khoa học được công bố về tác dụng điều trị bệnh
gút, khả năng chống oxy hóa cũng như ức chế enzym XO của lá cây gai. Mục đích của nghiên
cứu này là đánh giá tác dụng chống oxy hóa và ức chế enzym XO in vitro của cao chiết lá cây
gai và các phân đoạn cao chiết.
Bùi Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Thanh Bình,
138
2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Nguyên liệu
Nguyên liệu: lá cây gai tên khoa học là Boehmeria nivea (L.) Gaudich, thu hái tại Hà Nội
vào tháng 7 năm 2019. Mẫu nghiên cứu hiện được lưu giữ tại Khoa Y Dược, Đại học Quốc
Gia Hà Nội. Dược liệu khô đã được nghiền thành bột (300 g) được ngâm trong ethanol 50%
(3 lần, mỗi lần 1 L), siêu âm ở 40 °C trong vòng 1 giờ 30 phút. Gộp các dịch chiết sau đó lọc
qua giấy lọc và cất loại dung môi dưới áp suất giảm bằng máy cô quay chân không thu được
cao chiết toàn phần (27 g). Cao chiết EtOH được khuấy phân tán vào nước cất, và chiết lần
lượt bằng các dung môi n-hexan, ethyl acetat và n-butanol (mỗi dung môi 3 lần, mỗi lần 150 mL)
có độ phân cực tăng dần. Các phân đoạn được cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu được
phân đoạn tương ứng là n-hexan, EtOAc và n-BuOH.
2.2. Hóa chất, dung môi
Allopurinol (Stada); Xanthine ( ≥ 99%); Enzym xanthine oxidase (từ sữa bò, 2 U/mg
protein, 5 mg protein/mL, Sigma Aldrich); Hóa chất đạt tiêu chuẩn phân tích: Na2HPO4.12H2O,
NaH2PO4.2H2O (Trung Quốc); HCl đậm đặc 37% (Trung Quốc); NaOH (Trung Quốc); Axit
ascorbic; DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) (Ấn Độ); Dung môi: dimethyl sulfoxid (DMSO);
n-hexan, ethyl acetat (EtOAc), n-butanol (n-BuOH), ethanol, methanol (Trung Quốc), nước cất.
2.3. Đánh giá tác dụng chống oxy hóa theo phương pháp DPPH
DPPH có khả năng tạo gốc tự do bền trong dung dịch MeOH bão hòa. Dung dịch DPPH
có màu tím đậm với độ hấp thụ tối đa ở 517nm. Màu tím này thường sẽ chuyển thành màu
vàng khi có chất chống oxy hóa trong môi trường. Cho các chất thử vào dung dịch, nếu chất
có khả năng khử quét gốc tự do sẽ làm giảm cường độ hấp thụ ánh sáng của DPPH [12].
Mẫu thử được pha trong dung môi MeOH thành các nồng độ khác nhau từ 7,8125 g/mL
đến 500 g/mL. Hỗn hợp phản ứng gồm: 630 μL dung dịch DPPH (4,0 mg/ml trong methanol);
100 μL các mẫu với nồng độ khác nhau của dịch chiết; 270 μL MeOH. Hỗn hợp được ủ trong
bóng tối ở 25°C trong 15 phút, sau đó đem đo độ hấp thụ bằng máy quang phổ ở bước sóng
517 nm. Tiến hành đo mẫu chứng với cùng điều kiện với thành phần gồm: 630 μL dung dịch
DPPH 4 mg/mL; 370 μL MeOH. Tất cả thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
Hoạt tính quét gốc tự do DPPH được đánh giá thông qua giá trị phần trăm ức chế (I%)
theo công thức:
I% =
𝐴𝑐−𝐴𝑡
𝐴𝑐−𝐴𝑜
𝑥100
Trong đó: I%: phần trăm ức chế
Ac: độ hấp thụ của mẫu chứng
At: độ hấp thụ của mẫu thử
A0: độ hấp thụ của mẫu trắng (sử dụng methanol)
Axit ascorbic được sử dụng làm chứng dương. Giá trị IC50 của mẫu được tính dựa theo
đồ thị giữa nồng độ mẫu thử (C) và phần trăm ức chế (I%).
2.4. Phương pháp đánh giá khả năng ức chế enzym XO in vitro
Hoạt độ XO được xác định thông qua lượng axit uric tạo thành được đo ở bước sóng
295 nm ở 37 °C, pH 7,5. Một đơn vị enzym được định nghĩa là tổng lượng enzym sản xuất ra
1 µmoL axit uric trong mỗi phút ở nhiệt độ 37 ºC. Cao phân đoạn của lá gai được pha trong
DMSO tạo thành dung dịch gốc có nồng độ 1 mg/mL. Sau đó dung dịch gốc này được pha
Đánh giá tác dụng chống oxy hóa và ức chế enzym xanthine oxidase in vitro của cao chiết...
139
loãng bằng dung dịch đệm phosphat pH 7,5 thành các nồng độ 25 µg/mL, 50 µg/mL, 100 µg/mL,
200 µg/mL, 400 µg/mL. Hỗn hợp phản ứng gồm: 100 µL dung dịch mẫu thử, 400 µL dung
dịch đệm phosphat pH 7,5; 100 µL dung dịch enzym XO 0,2 U/mL trong dung dịch đệm
phosphat (pha ngay trước khi tiến hành phản ứng). Hỗn hợp này được ủ ở 37 oC trong 15 phút,
sau đó thêm 200 µL xanthine (0,15 mM) trong dung dịch đệm rồi ủ tiếp 30 phút. Dừng phản
ứng bằng cách thêm 200 µL HCl 0,5M. Hỗn hợp phản ứng được đem đo độ hấp thụ bằng máy
đo quang phổ ở bước sóng 295 nm. Mẫu chứng được tiến hành tương tự nhưng dung dịch thử
được thay bằng dung dịch đệm. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
Tính I% (phần trăm ức chế) theo công thức:
I=
𝑂𝐷𝑐ℎứ𝑛𝑔−𝑂𝐷𝑡ℎử
𝑂𝐷𝑐ℎứ𝑛𝑔
𝑥100%
Trong đó: OD: Độ hấp thụ quang
ODchứng = ODchứng – ODtrắng chứng
ODthử = ODthử - ODtrắng thử
Allopurinol được sử dụng làm chứng dương. Giá trị IC50 được tính dựa vào đồ thị và
phương trình biểu diễn nồng độ và giá trị ức chế enzym XO của dịch chiết toàn phần và các
phân đoạn dịch chiết từ cây lá gai.
2.5. Phân tích số liệu
Số liệu được biểu diễn dưới dạng X ± SD (X: giá trị trung bình; SD: độ lệch chuẩn).
Giá trị IC50 được tính dựa vào đồ thị và phương trình biểu diễn nồng độ và giá trị phần trăm
ức chế (I%) của dịch chiết toàn phần và các phân đoạn dịch chiết từ cây lá gai.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả đánh giá tác dụng chống oxy hóa theo phương pháp DPPH
Kết quả IC50 của cao chiết phân đoạn lá gai và axit ascorbic được trình bày ở Bảng 1. Kết
quả xác định IC50 được tính dựa vào phương trình bậc 2 bằng phần mềm Excel 2013. Giá trị
IC50 của các phân đoạn lá gai dao động từ 81,58 g/mL đến 240,19 g/mL. Trong đó, phân
đoạn n-BuOH có tác dụng chống oxy hóa cao nhất với IC50 là 81,58 g/mL, sau đó là cao chiết
toàn phần EtOH, phân đoạn EtOAc với IC50 lần lượt là 112,98 g/mL, 187,86 g/mL. Phân
đoạn n-Hexan thể hiện khả năng chống oxy hóa thấp với giá trị IC50 là 240,19 g/mL.
Bảng 1. Khả năng chống oxy hóa của các mẫu thử
Nồng độ
(g/mL)
Phần trăm ức chế (%) IC50
(g/mL) 15,625 31,25 62,5 125 250 500
Chứng 0 0 0 0 0 0 -
EtOH 24,67 ± 0,66 35,03 ± 1,07 44,16 ± 0,81 51,27 ± 0,37 61,42 ± 1,44 74,62 ± 0,53 112,98
n- Hexan 13,71 ± 1,12 24,67 ± 0,67 32,69 ± 0,37 40,81 ± 0,37 50,96 ± 1,13 64,67 ± 0,53 240,19
EtOAc 17,77 ± 0,87 27,92 ± 1,23 37,06 ± 0,97 44,16 ± 0,73 55,13 ± 0,44 68,53 ± 0,70 187,86
n- BuOH 27,01 ± 0,57 38,98 ± 1,03 46,80 ± 0,71 55,43 ± 1,68 65,69 ± 0,56 79,59 ± 0,37 81,58
Nồng độ
(g/mL)
2,5 5 10 20 25 50
Axit
ascorbic
14,11 ± 0,67 25,05 ± 0,18 36,09 ± 0,45 48,77 ± 0,47 58,08 ± 0,27 79,55 ± 0,35 19,56
Bùi Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Thanh Bình,
140
Kết quả nghiên cứu xác định cao chiết từ các phân đoạn khác nhau của lá cây gai thể
hiện hoạt tính kháng oxy hóa thông qua khả năng bắt gốc tự do DPPH. Theo phương pháp
quét gốc tự do DPPH, phân đoạn n-BuOH thể hiện khả năng kháng oxy hóa mạnh nhất với
IC50 là 81,58 (g/mL). Mặc dù tác dụng chống oxy hóa của phân đoạn này nhỏ hơn 4 lần so
với vitamin C (IC50 là 19,56 g/mL), tuy nhiên, trong mẫu cao chiết chứa nhiều hợp chất khác
nhau còn vitamin C là một hợp chất duy nhất, do đó tác dụng chống oxy hóa của cao dược liệu
này là khá tốt, tiếp theo là cao chiết EtOH, EtOAc, n-Hexan với giá trị IC50 lần lượt là 112,98;
187,86; 240,19 (g/mL). Các nghiên cứu trước đây cho thấy trong lá gai có chứa các hợp chất
phenolic, flavonoid, vitamin A, vitamin C, vitamin E [8-11]. Trong đó, các axit phenolic
(axit 4-coumaric, axit caffeic, axit ferulic và axit chlorogenic) flavonoid (rutin, epicatechin,
isoquercetin) đã được chứng minh thể hiện khả năng kháng oxy hóa mạnh [13, 14]. Ngoài ra,
Phạm Ngọc Khôi và cộng sự (2019) đã tiến hành khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của cao
chiết lá gai với điều kiện chiết xuất trong dung môi nước, tỷ lệ nguyên liệu: dung môi là
1:30 g/mL, thời gian chiết là 30 phút, nhiệt độ 60 °C bằng phương pháp bắt gốc tự do DPPH
cho kết IC50 là 82,09 g/mL [15]. Kết quả này cũng tương tự với phân đoạn n- BuOH. Jin Woo
Nho và cộng sự (2010) đã tiến hành khảo sát hoạt tính chống oxy hóa của cao chiết lá gai trong
EtOH 70% và các phân đoạn thu được kết quả IC50: cao EtOH 70% (688 g/mL), cao hexan
(484 g/mL), cao ethylacetat (97 g/mL), cao nước (1127 g/mL) [16].
3.2. Kết quả đánh giá khả năng ức chế enzym XO in vitro
Giá trị phần trăm ức chế I (%) của các phân đoạn lá gai ở các nồng độ khác nhau được
trình bày ở Bảng 2. Theo sự tăng dần của nồng độ 25-400 g/mL, tỷ lệ phần trăm ức chế
enzym XO của các cao chiết đều tăng dần. Chứng tỏ, tác dụng ức chế enzym XO của cao toàn
phần và các cao phân đoạn của lá gai tỷ lệ thuận với nồng độ cao chiết. Trong các cao chiết
phân đoạn, phân đoạn n-BuOH có giá trị IC50 thấp nhất là 162,81 g/mL, thể hiện tác dụng ức
chế enzym XO mạnh nhất. Thứ tự tác dụng ức chế enzym XO của các phân đoạn tăng lần lượt
như sau: n- Hexan < EtOAc< EtOH < n-BuOH. Song song với các mẫu thử, tiến hành tương
tự với mẫu chứng dương Allopurinol cho kết quả IC50 là 7,38 µg/mL.
Bảng 2. Tác dụng ức chế enzym XO của các mẫu thử
Nồng độ
(g/mL)
Phần trăm ức chế (%) IC50
(g/mL) 25 50 100 200 400
EtOH 16,08 ± 0,63 24,11 ± 0,47 33,96 ± 0,14 45,15 ± 0,71 59,34 ± 0,24 261,91
n- Hexan 6,38 ± 0,85 15,76 ± 0,36 24,98 ± 0,59 34,67 ± 0,59 47,04 ± 0,24 455,53
EtOAc 13,71 ± 1,32 21,51 ± 0,71 32,62 ± 1,03 43,95 ± 0,36 58,47 ± 0,27 279,83
n- BuOH 24,35 ± 2,36 33,10 ± 0,71 43,34 ± 0,83 53,19 ± 0,47 68,64 ± 0,55 162,81
Nồng độ
(g/mL)
2,5 5 10 25 50
Allopurinol 34,28 ± 1,44 43,50 ± 0,47 53,90 ± 1,03 71,63 ± 0,63 88,89 ± 0,24 7,38
Kết quả của nghiên cứu đã xác định được các phân đoạn cao chiết lá cây gai có tác dụng
ức chế enzym XO. Trong đó, phân đoạn n-BuOH thể hiện khả năng ức chế mạnh nhất với IC50
là 162,81 (g/mL), sau đó là phân đoạn EtOH, EtOAc, n-Hexan với giá trị IC50 lần lượt là
261,91; 279,83; 455,53 (g/mL). Như vậy, các chất có tác dụng ức chế enzym XO chủ yếu
nằm trong phân đoạn n-BuOH. Điều thú vị là thứ tự ức chế enyme XO và khả năng chống oxy
hóa của các cao phân đoạn lá gai giống nhau: n- Hexan < EtOAc < EtOH < n- BuOH. Kết quả
Đánh giá tác dụng chống oxy hóa và ức chế enzym xanthine oxidase in vitro của cao chiết...
141
này có thể giải thích là do trong lá gai chứa các hợp chất phenolic, flavonoid, trong đó axit
caffeic [17, 18], rutin, isoquercetin [19], axit chlorogenic [20] được đánh giá là có đồng thời
khả năng ức chế hoạt động của enzym XO và hoạt tính chống oxy hóa cao. Li-Na Huo và cộng
sự (2015) xác định các thành phần ức chế xanthine oxidase từ lá của cây tía tô đã chỉ ra 5 hợp
chất, trong đó phần nhiều là axit caffeic (một thành phần có trong lá cây gai), axit rosmarinic,
3 hợp chất còn lại là vinyl caffeate, methyl rosmarinate và apigenin trong phần rửa giải EtOH
70% của chiết xuất n-butanol của cao chiết nước lá tía tô cho thấy hoạt động ức chế mạnh đối
với enzym XO in vitro, trong đó tác dụng ức chế XO của axit caffeic được thể hiện bởi giá trị
IC50 là 121,22 g/mL [18]. Zhao-Qing Meng và cộng sự (2014) đã nghiên cứu về sự cải thiện
tình trạng tăng axit uric máu và viêm gút của axit chlorogenic [20]. Nghiên cứu này cho thấy,
axit chlorogenic liều 50, 100 và 200 mg/kg làm giảm đáng kể nồng độ axit uric trên chuột bị
gây tăng axit uric do kali oxonat. Nghiên cứu này còn chỉ ra rằng axit chlorogenic cải thiện
các triệu chứng viêm trên chuột thí nghiệm gây ra do tinh thể MSU bằng cách ức chế sản xuất
các cytokine tiền viêm bao gồm interleukin-1β (IL-1β), interleukin-6 (IL-6) và yếu tố hoại tử
khối u- (TNF-) [20]. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng ức chế enzym XO ở các cao
phân đoạn khác nhau của lá gai, nhất là các chất từ phân đoạn n-BuOH. Bên cạnh đó, lá gai là
một dược liệu quen thuộc và dễ kiếm nên rất có tiềm năng sử dụng như thực phẩm bổ sung
trong điều trị gút và các bệnh liên quan đến tăng axit uric máu.
4. KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã đánh giá được khả năng chống oxy hóa ở các phân đoạn khác nhau của cao
chiết lá gai. Giá trị IC50 của các phân đoạn lá gai dao động từ 81,58 g/mL đến 240,19 g/mL.
Trong đó, phân đoạn n- BuOH có tác dụng chống oxy hóa cao nhất với IC50 là 81,58 g/mL.
Kết quả đánh giá tác dụng ức chế enzym XO của cao toàn phần và các cao phân đoạn của lá
gai tỷ lệ thuận với nồng độ cao chiết. Trong các phân đoạn cao chiết, phân đoạn n-BuOH có
giá trị IC50 thấp nhất là 162,81 g/mL, thể hiện tác dụng ức chế enzym XO mạnh nhất. Kết
quả này gợi ý cho việc nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của phân đoạn dịch chiết
n-BuOH để phân tách được hoạt chất tinh khiết có tiềm năng trong phòng, điều trị bệnh gút.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Singh, G., B. Lingala, and A. Mithal, Gout and hyperuricaemia in the USA: prevalence
and trends, Rheumatology (Oxford) 58 (12) (2019) 2177-2180.
2. Conen D., Wietlisbach V., Bovet P., Shamlaye C., Riesen W., Paccaud F., Burnier M. -
Prevalence of hyperuricemia and relation of serum uric acid with cardiovascular risk
factors in a developing country, BMC Public Health 4 (2004).
3. Hwu C.M., Lin K.H. - Uric acid and the development of hypertension, Medical Science
Monitor 16 (10) (2010): RA224-230.
4. Dehghan A., van Hoek M., Sijbrands E.J.G, Hofman A., Witteman J.C.M. - High serum
uric acid as a novel risk factor for type 2 diabetes, Diabetes Care 31 (2) (2008) 361-362.
5. Rishi J. Desai, Franklin J.M., Julia Spoendlin-Allen, Daniel H. Solomon, Goodarz
Danaei, Seoyoung C. Kim - An evaluation of longitudinal changes in serum uric acid
levels and associated risk of cardio-metabolic events and renal function decline in gout,
PLoS One 13 (2) (2018): e0193622.
6. Michael H. Pillinger, Pamela Rosenthal, Aryeh M. Abeles - Hyperuricemia and gout:
new insights into pathogenesis and treatment, Bulletin of the NYU Hospital for Joint
Diseases 65 (3) (2007) 215-221.
Bùi Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Huyền, Nguyễn Thị Thanh Bình,
142
7. Zhang W., Doherty M., Pascual E., Bardin T., Barskova V., Conaghan P., Gerster J.,
Jacobs J., Leeb B., Lioté F., McCarthy G., Netter P., Nuki G., Perez-Ruiz F., Pignone A.,
Pimentão J., Punzi L., Roddy E., Uhlig T., Zimmermann-Gòrska I. - EULAR evidence
based recommendations for gout. Part I: Diagnosis. Report of a task force of the Standing
Committee for International Clinical Studies Including Therapeutics (ESCISIT), Annals
of the Rheumatic Diseases 65 (10) (2006) 1301-1311.
8. Chen Y., Wang G., Wang H., Cheng C., Zang G., Guo X., Liu R. H. - Phytochemical
profiles and antioxidant activities in six species of ramie leaves, Plos One 9 (9) (2014).
9. Ah-Ra Kim, Hyun-Joo Lee, Hae-Ok Jung, Jae-Joon Lee - Physicochemical composition
of ramie leaf according to drying methods, Journal of the Korean Society of Food
Science and Nutrition 43 (1) (2014) 118-127.
10. Hong Wang, Caisheng Qiu, Ling Chen, Arshad Mehmood Abbasi, Xinbo Guo, Rui Hai
Liu - Comparative study of phenolic profiles, antioxidant and antiproliferative activities
in different vegetative parts of ramie (Boehmeria nivea L.), Molecules 24 (8) (2019):
1551.
11. Sunghun Cho, Jaemin Lee, Young Mi Kim, Yong-Su Jung, Ho Bang Kim, Eun Ju Cho,
Sanghyun Lee - Chemical composition of different parts of ramie (Boehmeria nivea),
Korean Journal of Agricultural Science 44 (1) (2017) 95-103.
12. Gulcin İ. - Antioxidants and antioxidant methods: an updated overview, Archives of
Toxicology 94 (2020) 651-715.
13. Hakkinen S.H., Torronen A.R. - Content of favonols and selected phenolic acids in
strawberries and Vaccinium species: infuence of cultivar, cultivation site and technique,
Food Research International 33 (6) (2000) 517-524.
14. Yuki Sato, Shirou Itagaki, Toshimitsu Kurokawa, Jiro Ogura, Masaki Kobayashi,
Takeshi Hirano, Mitsuru Sugawara, Ken Iseki - In vitro and in vivo antioxidant
properties of chlorogenic acid and caffeic acid, International Journal of Pharmaceutics
403 (1-2) (2011) 136-138.
15. Phạm Ngọc Khôi, Nguyễn Hoàng Thanh Trúc, Đặng Đình Dần - Khảo sát khả năng ức chế
enzyme xanthine oxidase và kháng oxy hóa từ cao chết lá cây gai (Boehmeria nivea L.), Tạp
chí Y học TP. Hồ Chí Minh 23 (3) (2019) 63-69.
16. Jin Woo Nho, In Guk Hwang, Hyun Young Kim, Youn Ri Lee, Koan Sik Woo, Bang
Yeon Hwang, Seong Jun Chang, Junsoo Lee, Heon Sang Jeong - Free radical
scavenging, angiotensin I-converting enzyme (ACE) inhibitory, and in vitro anticancer
activities of ramie (Boehmeria nivea) leaves extracts, Food Science and Biotechnology
19 (2) (2010) 383-390.
17. Chang W.S., Chang Y.H., Lu F.J., Chiang H.C. - Inhibitory effects of phenolics on
xanthine oxidase, Anticancer Research 14 (2A) (1994) 501-506.
18. Li-Na Huo, Wei Wang, Chun-Yu Zhang, Hai-Bo Shi, Yang Liu, Xiao-Hong Liu, Bing-Hua
Guo, Dong-Mei Zhao, Hua Gao - Bioassay-guided isolation and identification of xanthine
oxidase inhibitory constituents from the leaves of Perilla frutescens, Molecules 20 (10) (2015)
17848-17859.
19. Ji Xiao Zhu, Ying Wang, Ling Dong Kong, Cheng Yang, Xin Zhang - Effects of Biota
orientalis extract and its flavonoid constituents, quercetin and rutin on serum uric acid
levels in oxonate-induced mice and xanthine dehydrogenase and xanthine oxidase
activities in mouse liver, Journal of Ethnopharmacology 93 (1) (2004) 133-140.
20. Zhao-Qing Meng, Zhao-Hui Tang, Yun-Xia Yan, Chang-Run Guo, Liang Cao, Gang
Ding, Wen-Zhe Huang, Zhen-Zhong Wang, Kelvin D.G. Wang, Wei Xiao, Zhong-Lin
Đánh giá tác dụng chống oxy hóa và ức chế enzym xanthine oxidase in vitro của cao chiết...
143
Yang - Study on the anti-gout activity of chlorogenic acid: improvement on
hyperuricemia and gouty inflammation, The American Journal of Chinese Medicine 42
(6) (2014) 1471-1483.
ABSTRACT
ANTIOXIDANT AND INHIBITORY ACTIVITIES OF XANTHINE OXIDASE
OF Boehmeria nivea L. LEAVES EXTRACT
Bui Thanh Tung*, Nguyen Thi Thuy, Nguyen Thi Huyen,
Nguyen Thi Thanh Binh, Tran Thi Quynh Hoa
School of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
*Email: tungasia82@gmail.com
The leaves of Boehmeria nivea L. were extracted by ultrasonic with ethanol 50% and
subsequently fractionated with n-hexane, ethyl acetate (EtOAc) and n-butanol (n-BuOH)
solvents. The extract and fractions were evaluated antioxidant and the xanthine oxidase (XO)
inhibitory activities in vitro. The results have shown that n-BuOH fraction had the strongest
antioxidant effect (IC50: 81,58 µg/mL), followed by EtOH extract (IC50: 112,98 µg/mL) and
EtOAc fraction (IC50: 187,86 µg/mL) and the lowest was n-hexan fraction (IC50: 240,19 µg/mL).
Moreover, n-BuOH fraction extract also had the strongest XO enzyme inhibitory activity (IC50:
162,81 g/mL), followed the EtOH extract (IC50: 261,91 µg/mL) and EtOAc fraction (IC50:
279,83 µg/mL); and the lowest was n-hexane fraction (IC50: 455,53 g/mL).
Keywords: Boehmeria nivea L., uric acid, xanthine oxidase, antioxidant.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_tac_dung_chong_oxy_hoa_va_uc_che_enzym_xanthine_oxi.pdf