Trước đây, phương pháp điều trị duy nhất với dị
dạng động - tĩnh mạch là thắt các cuống mạch trong
phẫu thuật, do đó với các tổn thương nhiều cuống
mạch nuôi như thế, việc chảy máu dữ dội thường
dẫn tới thắt hoàn toàn động mạch cảnh ngoài bên tổn
thương mà vẫn không thể lấy bỏ hết tổn thương do
các cuống mạch từ các nhánh đối bên và từ hệ động
mạch khác không thể thắt được (động mạch đốt sống
hay động mạch mắt). Với mục đích loại bỏ dòng máu
trong ổ dị dạng, lý tưởng là gây tắc các nhánh cấp
máu ở càng gần ổ dị dạng, bảo vệ được các nhánh
mạch nuôi tổ chức lành, do đó càng hạn chế được sự
thiếu máu của vùng không tổn thương. Tuy nhiên, có
rất nhiều lý do khiến điều kiện lý tưởng đó không thực
hiện được như một ổ dị dạng lớn thường có nhiều
nhánh mạch nuôi, ngoằn ngoèo hoặc khi tổn thương
được cấp máu bởi nhánh động mạch mắt (thuộc động
mạch cảnh trong), việc cố gắng tiếp cận những nhánh
mạch này có thể gây co thắt, có thể bị trào ngược vật
liệu nút mạch vào động mạch cảnh trong gây nhồi máu
não; hoặc khi các nhánh mạch chính đã bị thắt do phẫu
thuật trước đó không thể tiếp cận được bằng đường
nội mạch. Mặt khác, việc nút tắc cuống mạch ở cách
xa ổ dị dạng không chỉ gây thiếu máu rộng tổ chức
xung quanh, làm nặng thêm tình trạng tại chỗ (đau,
loét, thiểu dưỡng) mà luồng thông động - tĩnh mạch
không được loại bỏ sẽ tiếp tục lấy máu ở các động
mạch khác, làm các nhánh mạch này nhanh chóng
giãn ra và ổ dị dạng tái phát. Trước khi có phương
pháp bơm keo trực tiếp vào ổ dị dạng, các phương
pháp can thiệp tắc mạch chỉ có giá trị cầm máu hoặc
giảm nhẹ triệu chứng, ít khi được coi là phương pháp
hỗ trợ điều trị triệt để [7].
Phương pháp gây tắc ổ dị dạng có phối hợp
bơm trực tiếp qua da đã khắc phục được các khó
khăn trên. Với cấu tạo của ổ dị dạng có thể là phần
đầu tĩnh mạch dẫn lưu, các tiểu tĩnh mạch giãn hoặc
gồm nhiều động mạch và tĩnh mạch giãn thành búi
ngoằn ngoèo, chúng tôi sử dụng máy siêu âm giúp
định vị chính xác nhánh mạch máu chưa bị tắc trong
ổ dị dạng và bơm dung dịch keo. Phương pháp này
giúp gây tắc chính xác các luồng thông động - tĩnh
mạch mà không làm tổn hại các mô xung quanh. Với
phương pháp gây tắc mạch tiền phẫu này, các phẫu
thuật viên lấy bỏ ổ dị dạng cùng các luồng thông động
- tĩnh mạch, mà không hoặc rất ít chảy máu (88%),
lấy bỏ được hoàn toàn ổ dị dạng ở 94% số BN. Đây là
kết quả lý tưởng cho những BN mang loại tổn thương
mạch máu này.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá tính an toàn và hiệu quả nút mạch phối hợp bơm trực tiếp ổ dị dạng thông động tĩnh mạch vùng đầu mặt cổ trước phẫu thuật, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012316
nghiÊn CỨU KhoA hỌC
scientific researcH
SUMMARy
*Khoa Chẩn đoán hình ảnh,
Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
** Khoa Phẫu thuật hàm mặt -
Tạo hình, Bệnh viện Việt Đức
*** Khoa Chẩn đoán hình ảnh,
Bệnh viện Xanh Pôn
ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ
NÚT MẠCH PHỐI HỢP BƠM TRỰC TIẾP Ổ
DỊ DẠNG THÔNG ĐỘNG TĨNH MẠCH VÙNG
ĐẦU MẶT CỔ TRƯỚC PHẪU THUẬT
evaluate the safety and effectiveness of ercutaneous
direct puncture glue embolization accompanying
with endovascular embolization of cervicofacial
arteriovenous malformation prior to extirpation
Lê Nguyệt Minh*, Lê Thanh Dũng*, Dư Đức Thiện*, Nguyễn Đình Minh*,
Vũ Hoài Linh*, Nguyễn Mậu Định*, Nguyễn Duy Hùng*, Đỗ Ngọc Linh**,
Bùi Văn Giang***, Nguyễn Duy Huề*
Objects: Evaluate the safety and effectiveness of
percutaneous direct puncture glue embolization accompanying
with endovascular embolization of cervicofacial arteriovenous
malformation prior to extirpation.
Subjects and method: Clinical trial without control,
achieved in 16 patients in a period from August 2008 to April
2012 at Vietduc Friendship Hospital.
Results: 16 patients was carried out endovascular for facial
AVM embolization accompanying percutaneous direct puncture
embolization, mostly in the age of 20 to 40 (66.5%). There are
20 times of pre-operative embolization, achieving 80% almost
occlusion (>80%), extirpation in 94% of cases, hemostatic effect
achieved in 88.2%. The length of hospital stay of patients who
had one time of embolization and extirpation is 11,9 days.
Conclusion: Percutaneous direct puncture accompanying
with endovascular glue embolization is a safe and effective
procedure, which reduces surgical bleeding and achieves the
ability of total extirpation, avoids recurrence.
Keyword: arterovenous malformation, endovascular
embolization, percutaneous direct puncture, glue.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012 317
nghiên CỨU KHoa HỌC
i. đẶt VẤn đỀ
Dị dạng thông động tĩnh mạch (AVM) là bất thường
mạch máu bẩm sinh hiếm gặp chiếm tỉ lệ 0,44% trẻ em
[5], do tồn tại sự thông thương bất thường giữa động
mạch và tĩnh mạch, dẫn đến các tĩnh mạch bị động
mạch hóa giãn ngoằn ngoèo tạo thành búi, gọi là ổ dị
dạng (nidus).
Biểu hiện lâm sàng của loại dị dạng mạch này
nếu không được điều trị qua 4 giai đoạn: giai đoạn 1 –
im lặng; giai đoạn 2 – mở rộng; giai đoạn 3 – phá hủy
(đau liên tục, thiểu dưỡng, loét, chảy máu); giai đoạn
4 – mất bù (suy tim) [6]. Tổn thương phát triển và lan
rộng ngày càng nhanh theo thời gian, gây biến dạng
vùng mặt, đau và loét vùng da tương ứng, làm giảm
chất lượng cuộc sống, có thể dẫn tới tử vong do chảy
máu không cầm, đây là loại bất thường bẩm sinh, nên
phẫu thuật lấy bỏ hoàn toàn ổ dị dạng thông động –
tĩnh mạch kèm theo tạo hình là phương pháp điều trị lý
tưởng. Tuy nhiên phẫu thuật vào ổ dị dạng mạch gặp
nhiều khó khăn do BN thường đến viện muộn, nhiều
mạch máu giãn, tốc độ dòng chảy lớn, ổ dị dạng lan
rộng vào tổ chức cơ và xương xung quanh, nguy cơ
chảy máu ồ ạt và tái phát nhanh khi không thể lấy hết
tổn thương. Chúng tôi tổng kết kinh nghiệm gây tắc
16 khối dị dạng thông động – tĩnh mạch vùng đầu mặt
cổ trước phẫu thuật bằng phương pháp tiêm trực tiếp
dung dịch keo sinh học từ năm 2008 đến nay tại Bệnh
viện Việt Đức.
ii. đối tƯỢng Và PhƯƠng PhÁP nghiÊn CỨU
1. đối tượng nghiên cứu
BN được chẩn đoán xác định dị dạng thông động
tĩnh mạch vùng đầu mặt cổ bằng các phương pháp
chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, chụp cộng hưởng từ,
chụp cắt lớp vi tính mạch máu và cộng hưởng từ), có
chỉ định phẫu thuật và được nút mạch tiền phẫu có phối
hợp bơm trực tiếp vào ổ dị dạng tại khoa Chẩn đoán
hình ảnh Bệnh viện Việt Đức trong thời gian từ tháng
8/2008 đến tháng 4/2012.
2. Phương pháp nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng không có nhóm chứng.
Phương tiện nghiên cứu: Máy chụp mạch số hóa
xóa nền Speed Heart (Shimadzu); máy siêu âm Logiq
500; ống thông 5F, vi ống thông 2.7F; kim luồn; vật liệu
nút mạch: keo sinh học và Lipiodol.
Kĩ thuật
- Chụp mạch: chụp chọn lọc các nhánh động mạch
cảnh trong và cảnh ngoài, hệ mạch đốt sống và dưới
đòn hai bên để đánh giá các nhánh động mạch cấp
máu của ổ dị dạng.
- Nút mạch: sử dụng hệ thống đồng trục đưa vi ống
thông 2.7 F vào các nhánh động mạch cấp máu sát ổ
dị dạng và bơm dung dịch keo pha Lipiodol để gây tắc
mạch.
- Tiêm trực tiếp: tiến hành chọc trực tiếp vào ổ dị
dạng, dưới hướng dẫn máy siêu âm và bơm dung dịch
keo có kiểm soát dưới màn tăng sáng cho đến khi tắc
hoàn toàn ổ dị dạng.
- Chụp kiểm tra sau nút mạch.
Chỉ tiêu đánh giá
- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, tiền sử
điều trị, giai đoạn lâm sàng.
- Đặc điểm ổ dị dạng trên chụp mạch: kích thước,
số cuống mạch cấp máu, hệ mạch cấp máu, phân loại
4 hình thái ổ dị dạng theo Cho [3].
- Mức độ gây tắc ổ dị dạng: tắc hoàn toàn (100%),
tắc gần hoàn toàn > 80% và tắc < 80%.
- Biến chứng sau can thiệp gây tắc ổ dị dạng.
- Hiệu quả cầm máu trong mổ được chia làm 3
mức độ: không chảy máu, còn chảy máu nhưng không
phải truyền máu, chảy máu phải truyền máu.
- Số lần can thiệp và phẫu thuật, thời gian điều trị
trong bệnh viện.
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS
16.0.
iii. KẾt QUẢ nghiÊn CỨU
1. đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tổng số 16 BN trong nghiên cứu, tuổi trung bình
là 30,4± 11,4, BN nhỏ tuổi nhất là 7, nhiều tuổi nhất là
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012318
nghiên CỨU KHoa HỌC
52, độ tuổi hay gặp nhất là 20 - 40 (chiếm 66,5%). Nam
chiếm ưu thế trong nghiên cứu (14 BN chiếm 87,5%).
Giai đoạn lâm sàng: 13 BN ở giai đoạn mở rộng
(chiếm 81,2%), 3 BN còn lại ở giai đoạn phá hủy
(18,8%). Không có BN ở giai đoạn 1 và 4.
Trong 16 BN, có 7 người đã điều trị nhiều lần
(43,8%), trong đó 2 BN đã được mổ thắt động mạch
cảnh ngoài, nhưng tái phát nhanh sau 3 năm.
2. đặc điểm ổ dị dạng
Diện tích ổ dị dạng trung bình là 37,2± 47,8cm2,
lớn nhất là 170cm2 và nhỏ nhất 7cm2.
Bảng 1. Phân bố số lượng cuống mạch nuôi và kích thước tổn thương
Số ổ dị dạng tỉ lệ % diện tích ổ dị dạng
Số cuống mạch nuôi < 4 7 43,75 10,4 ± 3,1
Số cuống mạch nuôi ≥ 4 9 56,25 58,0 ± 56,3
Giá trị p 0.804 0,035
Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm về số lượng cuống mạch cấp máu cho ổ dị dạng với p > 0,05.
Có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm có số cuống mạch nuôi ít hơn 4 và từ 4 cuống trở lên với p < 0,05.
Bảng 2. Phân bố các hệ mạch cấp máu cho ổ dị dạng
hệ mạch cấp máu
Số ổ dị dạng
tỉ lệ %
cùng bên đối bên hai bên tổng số
Động mạch cảnh ngoài 6 2 8 16 100%
Động mạch cảnh trong 2 0 2 4 25%
Động mạch đốt sống 2 0 0 2 12,5%
Động mạch dưới đòn 2 0 0 2 12,5%
Tất cả các ổ dị dạng đều được cấp máu từ một hoặc nhiều nhánh của động mạch cảnh ngoài cùng bên và cả
hai bên. Có 2 BN được cấp máu bởi các nhánh mạch bên đối bên do động mạch cảnh ngoài cùng bên đã bị thắt
trong lần phẫu thuật trước. Nhánh động mạch cảnh trong cấp máu cho ổ dị dạng là động mạch mắt, khi tổn thương
nằm ở vùng trán, mắt và mũi. Động mạch đốt sống và động mạch dưới đòn cấp máu cho ổ dị dạng vùng cổ. Cấu tạo
các ổ dị dạng bao gồm các động mạch nuôi giãn và phần đầu của tĩnh mạch dẫn lưu về, được chia làm 4 loại [3].
hình 1. Phân loại hình thái ổ dị dạng theo Cho và cộng sự [3]
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012 319
nghiên CỨU KHoa HỌC
Nghiên cứu có 10 ổ dị dạng loại IIIb (chiếm 62,5%),
4 ổ dị dạng loại II (chiếm 25%), loại I và loại IIIa chỉ có
1 trường hợp (chiếm 6,25%).
3. Vật liệu nút mạch
Tất cả 20 lần nút mạch chúng tôi đều sử dụng chất
gây tắc vĩnh viễn - keo sinh học (Histoacryl) pha với
Lipiodol (100%). Có một BN được gây tắc động mạch
đốt sống bằng dù (Amplatzer vascular plug -AVP) và
bóng chẹn (Goldbalt).
Nồng độ Histoacryl trong dung dịch keo dao động
trong khoảng từ 20-50%.
4. đánh giá hiệu quả gây tắc ổ dị dạng
Bảng 3. Phân bố số lần can thiệp và phẫu thuật
Can thiệp
mạch trước
phẫu thuật
tỉ lệ % Phẫu
thuật
tỉ lệ
%
Một lần 13 81,25 15 93,75
Hai lần 2 12,50 1 6,25
Ba lần 1 6,25 0 0
13 BN chỉ nút mạch tiền phẫu 1 lần (chiếm 81,25%).
Duy nhất 1 trường hợp có 3 lần can thiệp nút tắc mạch
do tổn thương lớn, có nhiều cuống mạch cấp máu (7
cuống mạch), buộc phải phẫu thuật 2 lần, trong đó lần
can thiệp đầu tiên chỉ gây tắc được 60% ổ dị dạng,
lần thứ hai sau 5 ngày gây tắc toàn bộ ổ dị dạng, tuy
nhiên phẫu thuật để lại một nửa ổ tổn thương để bảo
tồn tuyến mang tai và sụn vành tai, phẫu thuật lần 2
sau 3 năm, có nút tắc mạch trước, giúp lấy triệt để hoàn
toàn khối dị dạng và không thấy tái phát.
Bảng 4. Phân bố mức độ gây tắc ổ dị dạng
Mức độ gây tắc ổ dị dạng Số lần can
thiệp
tỉ lệ %
Tắc hoàn toàn (100%) 11 55,0
Tắc gần hoàn toàn (> 80%) 5 25,0
Tắc < 80% 4 20,0
Tổng số 20 100
Có 11 lần nút mạch loại bỏ được hoàn toàn ổ dị
dạng chiếm tỉ lệ 55%, tắc gần hoàn toàn ổ dị dạng
(>80%) là 5 BN, chiếm 25%. Còn lại 4 lần nút mạch ổ dị
dạng gây tắc < 80%, trong đó có 3 trường hợp được nút
mạch lần 2 sau 4-7 ngày (lần 2 đạt kết quả nút tắc 95-
100% đảm bảo phẫu thuật an toàn), 1 trường hợp còn
lại chỉ gây tắc được 70% ổ dị dạng phải dừng thủ thuật
vì luồng thông động – tĩnh mạch lớn, chất tắc mạch trôi
về tĩnh mạch cảnh trong.
Kết quả lấy bỏ hoàn toàn ổ dị dạng cho 14 BN
trong 1 lần phẫu thuật, 1 BN do tổn thương lan rộng
vùng tai và quanh tai, được phẫu thuật lần 2 (cách 4
năm) để lấy toàn bộ tổn thương và tạo hình. Duy nhất 1
BN buộc phải để lại phần ổ dị dạng trong hốc mắt, tiếp
giáp với ¼ trên trong nhãn cầu (6%).
Bảng 5. Biến chứng của can thiệp nút tắc mạch
Biến chứng sau can thiệp Số trường hợp
tỉ lệ %
Đau 8 40,0
Khó há miệng 1 5,0
Nhìn đôi 1 5,0
8 trường hợp có biểu hiện đau vùng tổn thương
sau khi nút mạch chiếm 40% trong tổng số 20 lần can
thiệp, tất cả các trường hợp đều đáp ứng tốt với thuốc
giảm đau thông thường (paracetamol). Khó há miệng
gặp ở một trường hợp tổn thương ở má sau nút (5%).
Nhìn đôi gặp ở 1 trường hợp (5%), do keo trào ngược
vào một nhánh nhỏ của động mạch mắt.
Bảng 6. Đánh giá hiệu quả cầm máu trong mổ
hiệu quả cầm máu trong mổ Số trường hợp tỉ lệ %
Không chảy máu 8 47,0
Còn chảy máu 7 41,2
Cần truyền máu 2 11,8
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012320
nghiên CỨU KHoa HỌC
Trong số 17 lần phẫu thuật, 15 trường hợp không
chảy máu hoặc chảy máu không đáng kể (chiếm
88,2%), chỉ có 2 trường hợp cần truyền máu trong mổ,
đó là trường hợp nút tắc được 70% ổ dị dạng và trường
hợp ổ dị dạng quá lớn, mặc dù đã tắc được 95% ổ dị
dạng, BN sau mổ hồi phục nhanh và ra viện sau 7 ngày.
Thời gian nằm viện ít nhất là 5 ngày, dài nhất là 58 ngày
(trường hợp can thiệp mạch 3 lần, mổ 2 lần). Trong
nhóm 13 BN chỉ can thiệp và phẫu thuật 1 lần, thời gian
nằm viện trung bình là 11,9 ngày.
iV. Bàn LUận
1. đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nhóm đối tượng nghiên cứu có 66,5% BN trong độ
tuổi 20-40, phù hợp với các nghiên cứu khác [6]. Biểu
hiện lâm sàng chủ yếu ở giai đoạn 2 và 3 là giai đoạn
tổn thương phát triển nhanh về kích thước, khiến BN
phải đến viện, kết quả này cũng phù hợp với nghiên
cứu nhiều tác giả [1], [2]. Trong số 16 BN có 43,8% đã
từng điều trị nhiều lần, không có nút mạch trước mổ, tái
phát nhanh sau phẫu thuật, gây khó khăn cho việc tiếp
cận ổ dị dạng bằng đường nội mạch.
2. đặc điểm ổ dị dạng
Tất cả các ổ dị dạng đều được cấp máu bởi động
mạch cảnh ngoài một hoặc hai bên, phù hợp nghiên
cứu của các tác giả. Động mạch mắt là nhánh nối giữa
hệ mạch cảnh trong và cảnh ngoài, là nhánh tham gia
cấp máu cho ổ dị dạng vùng trán, giữa hai mắt và mũi.
Động mạch đốt sống và động mạch dưới đòn cùng bên
hoặc cả hai bên có thể tham gia cấp máu cho ổ dị dạng
khi tổn thương lớn nằm ở vùng cổ, gáy. Kích thước ổ dị
dạng càng lớn, số cuống mạch chính cấp máu cho tổn
thương càng nhiều ổ dị dạng. Tuy nhiên không có sự
tương quan chặt chẽ giữa hai yếu tố này, vì diễn biến
của ổ dị dạng không đơn thuần phụ thuộc số cuống
mạch nuôi mà còn phụ thuộc kích thước các cuống
mạch cấp máu, cũng như kích thước luồng thông động
- tĩnh mạch. Phân loại hình thái ổ dị dạng cho thấy thành
phần chính cấu tạo nên ổ dị dạng, nghiên cứu chủ yếu
là loại IIIb (62,5%) bao gồm các tiểu động mạch và tiểu
tĩnh mạch giãn ngoằn ngoèo tạo thành búi. Loại hay
gặp thứ hai là loại II (25%) ổ dị dạng chính là phần
đầu của tĩnh mạch dẫn lưu duy nhất. Loại I ít gặp trong
nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu
của Cho [3]. Loại IIIa chỉ có một trường hợp do các
mạch máu trong ổ dị dạng không giãn, can thiệp đường
nội mạch đơn thuần đã đủ gây tắc.
3. Vật liệu nút mạch
Nhiều dụng cụ và vật liệu nút mạch đã được phát
triển trong hơn 30 năm qua, nhưng chỉ một số ít loại
có khả năng lấp đầy và tắc hoàn toàn ổ dị dạng thông
động - tĩnh mạch. Đặc điểm lý tưởng của chất gây
tắc loại dị dạng mạch này gồm có tính cản quang,
có thể lặp lại nhiều lần, có tính lỏng đủ để lấp đầy
các mạch máu trong ổ dị dạng, gây tắc vĩnh viễn và
không gây phản ứng phụ lên các mô xung quanh,
không có nguy cơ gây ung thư hóa. Các vật liệu gây
tắc mạch vĩnh viễn như cuộn kim loại (coil), dù kim
loại (AVP), bóng chỉ đạt hiệu quả gây tắc ở các cuống
động mạch, không làm tắc được các cuống mạch nhỏ;
hạt nút mạch PVA không phù hợp với các tổn thương
có cuống mạch với lưu lượng lớn. Hiện nay vật liệu
đang được sử dụng để điều trị ổ dị dạng động - tĩnh
mạch là hai loại chất lỏng có gây dính và không gây
dính. Loại không gây dính vào thành mạch (ethylene
vinyl alcohol copolymer - Onyx) nên khó kiểm soát
hơn, cũng đã được FDA chấp nhận tháng 7/2005 cho
hiệu quả tốt nhưng giá thành cao nên phần lớn chỉ
được sử dụng điều trị các dị dạng động - tĩnh mạch
trong não. Nghiên cứu chúng tôi sử dụng keo sinh học
(N-butyl cyanoacrylate – Histoacryl), là chất gây dính
đã được FDA chấp nhận dùng trong can thiệp thần
kinh từ tháng 9/2000 [8].
Cấu trúc đơn phân của Cyanoacrylat gồm 2 nhóm:
nhóm carbon A mang gốc cyano và este, nhóm carbon
B mang điện tích dương. Khi tiếp xúc với các điện tích
âm (gốc hydroxyl của nước, các thành phần của máu),
chúng sẽ dính với đơn phân carbon nhóm B, khi đó,
carbon nhóm A bị tích điện âm và sẽ tiếp tục gắn kết
carbon nhóm B của đơn phân khác, và quá trình trùng
hợp bắt đầu. Cyanoacrylat được trộn cùng với một
chất cản quang (hay dùng nhất là Lipiodol), theo các
tỉ lệ khác nhau từ 1:1 đến 1:4 (keo/lipiodol). Thời gian
trùng hợp của n-BCA phụ thuộc tỉ lệ pha với lipiodol.
Tuy nhiên không thấy nghiên cứu nào thông báo về sự
khác biệt có ý nghĩa về tổn thương thành mạch hay tái
thông giữa các tỉ lệ pha khác nhau [8]. Chỉ một trường
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012 321
nghiên CỨU KHoa HỌC
hợp chúng tôi sử dụng dù kim loại (AVP) và bóng để
làm tắc động mạch đốt sống, vì nguy cơ trôi keo sinh
học gây nhồi máu tiểu não. Như đã nói, đây là loại vật
liệu chỉ làm tắc các cuống động mạch, không gây tắc
được ổ dị dạng.
4. hiệu quả gây tắc ổ dị dạng
Trước đây, phương pháp điều trị duy nhất với dị
dạng động - tĩnh mạch là thắt các cuống mạch trong
phẫu thuật, do đó với các tổn thương nhiều cuống
mạch nuôi như thế, việc chảy máu dữ dội thường
dẫn tới thắt hoàn toàn động mạch cảnh ngoài bên tổn
thương mà vẫn không thể lấy bỏ hết tổn thương do
các cuống mạch từ các nhánh đối bên và từ hệ động
mạch khác không thể thắt được (động mạch đốt sống
hay động mạch mắt). Với mục đích loại bỏ dòng máu
trong ổ dị dạng, lý tưởng là gây tắc các nhánh cấp
máu ở càng gần ổ dị dạng, bảo vệ được các nhánh
mạch nuôi tổ chức lành, do đó càng hạn chế được sự
thiếu máu của vùng không tổn thương. Tuy nhiên, có
rất nhiều lý do khiến điều kiện lý tưởng đó không thực
hiện được như một ổ dị dạng lớn thường có nhiều
nhánh mạch nuôi, ngoằn ngoèo hoặc khi tổn thương
được cấp máu bởi nhánh động mạch mắt (thuộc động
mạch cảnh trong), việc cố gắng tiếp cận những nhánh
mạch này có thể gây co thắt, có thể bị trào ngược vật
liệu nút mạch vào động mạch cảnh trong gây nhồi máu
não; hoặc khi các nhánh mạch chính đã bị thắt do phẫu
thuật trước đó không thể tiếp cận được bằng đường
nội mạch. Mặt khác, việc nút tắc cuống mạch ở cách
xa ổ dị dạng không chỉ gây thiếu máu rộng tổ chức
xung quanh, làm nặng thêm tình trạng tại chỗ (đau,
loét, thiểu dưỡng) mà luồng thông động - tĩnh mạch
không được loại bỏ sẽ tiếp tục lấy máu ở các động
mạch khác, làm các nhánh mạch này nhanh chóng
giãn ra và ổ dị dạng tái phát. Trước khi có phương
pháp bơm keo trực tiếp vào ổ dị dạng, các phương
pháp can thiệp tắc mạch chỉ có giá trị cầm máu hoặc
giảm nhẹ triệu chứng, ít khi được coi là phương pháp
hỗ trợ điều trị triệt để [7].
Phương pháp gây tắc ổ dị dạng có phối hợp
bơm trực tiếp qua da đã khắc phục được các khó
khăn trên. Với cấu tạo của ổ dị dạng có thể là phần
đầu tĩnh mạch dẫn lưu, các tiểu tĩnh mạch giãn hoặc
gồm nhiều động mạch và tĩnh mạch giãn thành búi
ngoằn ngoèo, chúng tôi sử dụng máy siêu âm giúp
định vị chính xác nhánh mạch máu chưa bị tắc trong
ổ dị dạng và bơm dung dịch keo. Phương pháp này
giúp gây tắc chính xác các luồng thông động - tĩnh
mạch mà không làm tổn hại các mô xung quanh. Với
phương pháp gây tắc mạch tiền phẫu này, các phẫu
thuật viên lấy bỏ ổ dị dạng cùng các luồng thông động
- tĩnh mạch, mà không hoặc rất ít chảy máu (88%),
lấy bỏ được hoàn toàn ổ dị dạng ở 94% số BN. Đây là
kết quả lý tưởng cho những BN mang loại tổn thương
mạch máu này.
Với mục đích cầm máu trước mổ phương pháp là
an toàn, ít biến chứng. Đau là biến chứng thường gặp
(40%), nhưng dễ kiểm soát với các thuốc giảm đau và
chống viêm. Các biến chứng còn lại như khó há miệng
(do đau vùng má) và nhìn đôi do biến chứng trào ngược
vật liệu nút mạch vào nhánh động mạch nuôi (động
mạch mắt), do lúc này ổ dị dạng đã tắc được một phần,
tốc độ dòng chảy trong ổ dị dạng giảm, bơm keo vào
áp lực lớn có thể gây trào ngược vật liệu nút mạch, tuy
nhiên BN được hồi phục hoàn toàn sau 2 tháng. Phẫu
thuật được thực hiện sau nút mạch trong thời gian 24 -
48 giờ, ít chảy máu, lấy bỏ hết tổn thương, BN hồi phục
nhanh và rút ngắn được thời gian điều trị, giảm thời
gian nằm viện do không tái phát.
V. KẾt LUận
Phương pháp gây tắc ổ dị dạng động - tĩnh mạch
vùng đầu mặt cổ bằng đường nội mạch phối hợp với
tiêm trực tiếp vào ổ dị dạng qua da là phương pháp an
toàn, hiệu quả cầm máu tốt, giúp phẫu thuật triệt để,
tránh tái phát, tăng khả năng chữa khỏi hoàn toàn, giảm
thời gian nằm viện và chi phí xã hội.
BỆnh Án Minh hỌA
BN nam 47 tuổi, có khối dị dạng động tĩnh mạch
lớn ở vùng tai và thái dương bên trái, đã mổ thắt động
mạch cảnh trong trái cách 12 năm. Khối tiếp tục to dần
lên, loét gây mất da và chảy máu, lan tỏa nửa đầu mặt
và vùng cổ bên trái (giai đoạn 3 theo Schobinger).
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012322
nghiên CỨU KHoa HỌC
1. P. S. Bhandari, et al., (2008), “Management
strategy for facial arteriovenous malformations”, Indian
J Plast Surg. 41(2): p. 183-9.
2. W. L. Chen, et al., (2009), “A multidisciplinary
approach to treating maxillofacial arteriovenous
malformations in children”, Oral Surg Oral Med Oral
Pathol Oral Radiol Endod. 108(1): p. 41-7.
3. S. K. Cho, et al., (2006), “Arteriovenous malformations
of the body and extremities: analysis of therapeutic outcomes
and approaches according to a modified angiographic
classification”, J Endovasc Ther. 13(4): p. 527-38.
4. M. H. Han, et al., (1999), “Craniofacial
arteriovenous malformation: preoperative embolization
with direct puncture and injection of n-butyl
cyanoacrylate”, Radiology. 211(3): p. 661-6.
5. Raul Mattassi, et al., (2009), ed.^eds.
Hemangiomas and Vascular Malformations: An Atlas of
Diagnosis and Treatment. Springer: Milan. 336.
6. P. Redondo, (2007), “[Vascular malformations
(I). Concept, classification, pathogenesis and clinical
features]”, Actas Dermosifiliogr. 98(3): p. 141-58.
7. P. Redondo, (2007), “[Vascular malformations
(II). Diagnosis, pathology and treatment]”, Actas
Dermosifiliogr. 98(4): p. 219-35.
8. R. J. Rosen, et al., (2004), “The use of cyanoacrylate
adhesives in the management of congenital vascular
malformations”, Semin Intervent Radiol. 21(1): p. 59-66.
9. C. W. Ryu, et al., (2007), “Percutaneous direct
puncture glue embolization of high-flow craniofacial
arteriovenous lesions: a new circular ring compression
device with a beveled edge”, AJNR Am J Neuroradiol.
28(3): p. 528-30.
2a 2b 2c
2d
2e 2f
hình 2. a. Hình chụp CLVT mạch máu thấy toàn bộ ổ dị dạng gồm các mạch máu giãn ngoằn ngoèo
thành búi mạch khổng lồ vùng tai và cổ bên trái. b,c. Chụp chọn lọc các hệ mạch cấp máu cho ổ dị
dạng. (b) ĐM đốt sống trái, (c) ĐM cảnh ngoài phải. (d) Bơm trực tiếp hỗn hợp keo và Lipiodol vào
trong ổ dị dạng, đọng thuốc trong các nhánh mạch tổn thương. (e) Hình ảnh ổ dị dạng vùng cổ bên trái
trước phẫu thuật. (f) Phẫu thuật lấy bỏ hoàn toàn khối dị dạng, cầm máu tốt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 09 - 11 / 2012 323
nghiên CỨU KHoa HỌC
.
TÓM TẮT
Mục tiêu: đánh giá tính an toàn và hiệu quả của phương pháp gây tắc ổ dị dạng động tĩnh mạch vùng đầu mặt
cổ bằng đường nội mạch có phối hợp tiêm trực tiếp trước phẫu thuật.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng không có nhóm chứng, tiến hành trên 16 bệnh
nhân (BN) trong thời gian từ tháng 8/2008 đến tháng 4/2012, tại Bệnh viện Việt Đức.
Kết quả: tổng số 16 BN được nút tắc ổ dị dạng bằng đường nội mạch có phối hợp bơm trực tiếp ổ dị dạng qua
da, nằm trong độ tuổi 20-40 là chủ yếu (66,5%), có 20 lần can thiệp trước phẫu thuật, tắc gần hoàn toàn ổ dị dạng
đạt (80%), phẫu thuật lấy bỏ hoàn toàn ổ dị dạng đạt 94%, hiệu quả cầm máu trong mổ đạt 88,2%. Thời gian nằm
viện trung bình với các BN can thiệp và phẫu thuật 1 lần là 11,9 ngày.
Kết luận: phương pháp gây tắc ổ dị dạng bằng đường nội mạch phối hợp với tiêm trực tiếp ổ dị dạng bằng keo
sinh học là phương pháp an toàn, hiệu quả, làm giảm nguy cơ chảy máu trong mổ, đem lại khả năng lấy bỏ toàn bộ
tổn thương, tránh tái phát cho BN.
Từ khóa: dị dạng động – tĩnh mạch, gây tắc mạch nội mạch, tiêm trực tiếp qua da, keo sinh học.
NGƯỜI THẨM ĐỊNH: PGS TS. Phạm Minh Thông
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_tinh_an_toan_va_hieu_qua_nut_mach_phoi_hop_bom_truc.pdf