Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thụ thể folate là
đích để trị liệu một số ung thư. Một số công bố khác về hệ
mang thuốc gắn axit folic cũng đã cho thấy khả năng hướng
đích đặc hiệu tới tế bào biểu hiện thụ thể folate [18-20].
Sự kết hợp của hạt nano gắn với axit folic giúp tăng cường
tiềm năng hóa trị liệu của Cur đối với paclitaxel (một loại
thuốc hóa trị được sử dụng để điều trị một số loại ung thư),
làm giảm đáng kể sự phát triển của khối u in vivo với việc
giảm chuyển vị vào nhân của các nhân tố phiên mã NF-κB
và AP-1 [1]. Các hạt nano PLGA-PEG gắn với axit folic
của Cur thể hiện hoạt tính chống ung thư được tăng cường
nhờ phân phối đặc hiệu điểm đích [21]. Phức hợp nano từ
dịch triết lá cây Withania somnifera (i-Ex) nhắm mục tiêu
thụ thể folate tiêu diệt một cách chọn lọc các tế bào ung thư.
Trái ngược với i-Ex, phức hệ nano i-Ex hướng đích thụ thể
folate (FRi-ExNC) cho thấy có sự hấp thu tế bào cao gấp 3
lần bởi các tế bào ung thư được làm giàu thụ thể folate này
trong điều kiện in vitro. Các thử nghiệm khối u in vivo cũng
cho thấy khả năng hỗ trợ ức chế khối u mạnh hơn của FRiExNC (chứng tỏ phức hệ này có vai trò là ứng cử viên mang
thuốc tự nhiên hiệu quả và an toàn trong điều trị ung thư)
[22]. Bên cạnh đó, các hạt nano PLGA kết hợp với axit folic
làm tăng đáng kể tính thấm của paclitaxel hấp dẫn tế bào
Caco-2 biểu hiện thụ thể folate [18]. Có thể thấy kết quả của
chúng tôi hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu đã công bố
về việc gắn thêm axit folic vào phức hệ bao gói thuốc đem
lại hiệu quả hướng đích cao hơn nhiều lần khi không có mặt
thành phần này.
Kết luận
Nghiên cứu này là bằng chứng phân tử xác đáng cho
thấy, lần đầu tiên, phức hệ n-Cur khi được gắn thêm axit
folic không chỉ giúp làm tăng tính hoà tan của n-Cur mà còn
có tác dụng làm tăng tới 70 và 30 lần trong việc hướng đích
tới các tế bào viêm biểu hiện cao thụ thể folate là RAW264.7
và tế bào ung thư Hela so với n-Cur thông thường. Điều này
mở ra triển vọng sử dụng n-Cur gắn axit folic có tính hướng
đích đặc hiệu cao, đặc biệt trên các đối tượng tế bào viêm
như viêm loét dạ dày và một số tế bào ung thư khác.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá tính hướng đích của phức hệ nano curcumin gắn axit folic tới tế bào biểu hiện thụ thể folate, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
762(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
Đặt vấn đề
Cur là hợp chất sắc tố thuộc nhóm phytopolyphenol được
tách chiết ra từ củ nghệ (Curcuma longa). Dựa vào cấu trúc
trên vòng phenyl của Cur, nhóm methoxy có vai trò quan
trọng cho tác dụng chữa trị bệnh. Cur được biết đến với tác
dụng chống oxy hóa, chống viêm và chống lại khối u, được
sử dụng làm dược phẩm trong thực phẩm chức năng, chất
bổ sung và thuốc. Cur được các nhà khoa học khẳng định là
có hiệu quả cao trong việc hỗ trợ điều trị một số bệnh lý về
viêm loét dạ dày, viêm gan, viêm tá tràng, ung thư niêm mạc
dạ dày, trực tràng... Tuy nhiên, do bị hạn chế về khả năng
hòa tan trong các dung môi phân cực và dễ dàng bị phá hủy
bởi các enzyme cũng như điều kiện pH axit trong dạ dày,
Cur bị hạn chế rất nhiều trong hệ thống ống tiêu hóa [1-3].
Hiện nay, để giải quyết vấn đề Cur không tan trong nước,
công nghệ vật liệu nano bao gói Cur đã được ứng dụng rộng
rãi trong nước và trên thế giới [4-7]. Các nghiên cứu in vitro
của A.K.T. Thulasidasan và cộng sự [1] đã chứng minh
rằng, đóng gói Cur trong hạt nano PLGA (Poly(lactic-co-
glycolic acid)) kết hợp với axit folic có thể làm tăng tiềm
năng điều trị của Cur. Các sản phẩm này đã hạn chế được
phần nào ảnh hưởng của các enzyme và pH acid trong dịch
vị tới dược tính của Cur; tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn
chưa giải quyết được triệt để vấn đề đưa được lượng Cur
đến các tế bào gây viêm hoặc điểm đích một cách đặc hiệu.
Thụ thể folate alpha (FRα) là một protein màng gắn với
lycosyl-phosphatidylinositol. Các nhà khoa học đã tìm ra
rằng FRα biểu hiện quá mức ở các tế bào viêm [8] hoặc
khối u rắn như là ung thư biểu mô buồng trứng, phổi và vú
[9-11], biểu hiện thấp và hạn chế trong các mô bình thường
[12]. Sự biểu hiện quá mức của FRα có thể tạo điều kiện
cho các tế bào ung thư tăng trưởng qua các cơ chế liên quan
hoặc độc lập với lượng folate hấp thu [13-17].
Axit folic - một phối tử có ái lực cao của thụ thể folate,
giữ lại các đặc tính liên kết của thụ thể khi được tạo dẫn xuất
thông qua carboxyl. Với đặc tính kích thước nhỏ sẵn có, dễ
tạo phản ứng, liên kết hóa học liên hợp đơn giản và hầu như
không mang tính sinh miễn dịch của axit folic khiến nó trở
thành một phối tử lý tưởng để phân phối thuốc đến các khối
u hoặc vùng viêm. Việc nhắm mục tiêu thụ thể folate bằng
cách sử dụng axit folic được coi như là một chiến lược đầy
hứa hẹn cho điều trị viêm hoặc ung thư với nhiều loại thuốc
đang được thử nghiệm lâm sàng [18-20]. Folate liên kết đặc
biệt với axit folic tạo ra phức hợp thụ thể - phối tử nằm
trên màng tế bào, nó được nội hóa thông qua con đường
endosome. Khi pH của endosome đạt ngưỡng, folate sẽ tách
ra khỏi thụ thể và thuốc được giải phóng [1]. Trong nghiên
cứu này, chúng tôi đưa ra những minh chứng phân tử rõ ràng
về hiệu quả của việc sử dụng axit folic (một phối tử đặc hiệu
Đánh giá tính hướng đích của phức hệ nano curcumin
gắn axit folic tới tế bào biểu hiện thụ thể folate
Trần Thị Ngọc Huyền1, Bùi Thị Thu Hà1, Đỗ Đức Quang1, Lê Thị Thu Hường2, Phạm Thị Thu Hường1*
1Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein,
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
2Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngày nhận bài 3/8/2020; ngày chuyển phản biện 7/8/2020; ngày nhận phản biện 15/9/2020; ngày chấp nhận đăng 21/9/2020
Tóm tắt:
Nano Curcumin (n-Cur) là một phytopolyphenol được tách chiết ra từ củ nghệ (Curcuma longa), đã được chỉ ra là
cách cải thiện tính tan và những hạn chế của curcumin (Cur), song lại không tạo được tính hướng đích đặc hiệu.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã gắn thêm axit folic vào hệ n-Cur (n-Cur-Fl) giúp cho Cur đạt được tính
hướng đích đặc hiệu tới các tế bào biểu hiện thụ thể folate. Việc gắn thêm axit folic vào n-Cur được thực hiện thông
qua thí nghiệm hướng đích (boyden charmber assay) của các tế bào biểu hiện cao thụ thể folate (tế bào viêm hoặc
ung thư). Kết quả cho thấy, n-Cur-Fl đã làm tăng khả năng hướng đích đặc hiệu tới tế bào viêm (RAW264.7 được
cảm ứng bởi lypopopisacharide) hoặc tế bào ung thư (Hela) biểu hiện cao thụ thể folate tương ứng là 70 hoặc 30 lần
so với n-Cur thông thường. Trong khi tế bào không biểu hiện cao thụ thể folate (A549) không cho khả năng này. Dữ
liệu phân tử này cho thấy dùng n-Cur-Fl có thể cải thiện tình trạng viêm một cách đặc hiệu nhờ Cur hướng đích tới
vùng viêm.
Từ khóa: hệ nano hướng đích thụ thể folate, nano curcumin, nano curcumin gắn axit folic.
Chỉ số phân loại: 3.4
*Tác giả liên hệ: Email: pthuongibt@gmail.com
862(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
có ái lực mạnh với thụ thể folate), như một chất dẫn đường
cho n-Cur có khả năng hướng đích tới các tế bào viêm hoặc
tế bào ung thư biểu hiện cao thụ thể folate.
Nguyên liệu, hóa chất và phương pháp
Nguyên liệu
Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu là 3 mẫu thử: Cur,
n-Cur và n-Cur-Fl được cung cấp bởi nhóm nghiên cứu của
TS Lê Thị Thu Hường (Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà
Nội). Các dòng tế bào được sử dụng trong nghiên cứu này
bao gồm: dòng đại thực bào chuột RAW264.7, dòng tế bào
A549 và dòng tế bào ung thư cổ tử cung Hela được lưu trữ
tại Phòng Công nghệ tế bào động vật, Trường Đại học Khoa
học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hóa chất
Môi trường Modified Eagle của Dulbecco (DMEM,
PAN, Germany) có bổ sung 10% Fetal Bovine Serum (FBS,
Corning), 100 µg/ml penicillin, dung dịch rửa HBSS (PAN,
Germany); dung dịch Trypsin/EDTA (PAN, Germany); dung
dịch dimethyl sulfoxide (DMSO). Kit CellTiter 96® Non-
Radioactive Cell Proliferation Assay (Promega, USA); kit
tách RNA (Aurum Total RNA kit, Bio Rad, USA). Thiết bị:
máy lắc tròn GFL; máy đo quang phổ UV-Vis LABOMED
UV-2550, máy Nano drop one Thermo Fisher và các thiết
bị chuẩn dùng trong nuôi cấy tế bào, hóa sinh và sinh học
phân tử.
Phương pháp
Nuôi cấy tế bào: các dòng tế bào được nuôi trong môi
trường Modified Eagle của Dulbecco (DMEM, PAN,
Germany) có bổ sung 10% Fetal Bovine Serum (FBS,
Corning), 100 µg/ml penicillin. Các tế bào được nuôi ở điều
kiện 37°C, 5% CO
2
và độ ẩm 95%.
Đánh giá ảnh hưởng của các chất lên tốc độ sinh trưởng
tế bào bằng kit Cell Titer: tế bào RAW264.7 (2,0×104 tế
bào/100 µl/giếng), A549 (1,0×104 tế bào/100 µl/giếng),
Hela (1,0×104 tế bào/100 µl/giếng) được nuôi trong đĩa 96
giếng, ủ qua đêm ở 37°C và 5% CO
2
. Sau đó, các tế bào
được ủ ở các nồng độ khác nhau với Cur (0; 2,5; 5; 10; 20;
40; 100 µg/ml), n-Cur (0; 2,5; 5; 10; 20; 40; 100 và 1.000
µg/ml), n-Cur-Fl (0; 100; 2.000; 4.000; 6.000 và 8.000 µg/
ml). Sau 24 h ủ với các chất, khả năng sinh trưởng của các
dòng tế bào trong điều kiện có mặt của các phức hệ được
đánh giá bằng Kit Celltiter (Promega, Mỹ). Đĩa 96 sẽ được
lắc bằng máy lắc tròn GFL ở tốc độ 4.000 vòng/phút trong
10 phút tại nhiệt độ phòng, sau đó sẽ được đo ở bước sóng
535 nm bằng máy đo quang phổ UV-Vis LABOMED UV-
2550. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Kết quả được tính
theo công thức:
4
máy đo quang phổ UV-Vis LABOMED UV-2550. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
Kết quả được tính theo công thức:
Trong đó: Ac là độ hấp thụ OD của mẫu được bổ sung chất; Ao là độ hấp thụ OD
của mẫu không được bổ sung chất.
Giá trị nồng độ của các chất Cur, n-Cur và n-Cur-Fl không gây chết tế bào được
tính dựa vào đồ thị log (liều dùng) và % ức chế.
Đánh giá khả năng hấp dẫn của các chất lên tế bào bằng thí nghiệm Boyden
Chamber Assay: nuôi tế bào RAW 264.7 (2,0×105 tế bào/transwell) và A549 (2,5×104 tế
bào/transwell), Hela (2,5×104 tế bào/transwell) ở buồng phía trên transwell với môi
trường nuôi cấy DMEM 4,5 mg/ml glucose bổ sung 4% FBS, 100 µg/ml penicillin.
Buồng phía dưới transwell được bổ sung thêm các chất với nồng độ Cur: 20 µg/ml, n-
Cur: 20 µg/ml, n-Cur-Fl: 200 µg/ml. Sau 24 h ủ, tiến hành thu transwell, tế bào di
chuyển xuống mặt dưới của đáy transwell được cố định lại bằng formaldehyde 4% trong
10 phút, sau đó được nhuộm bằng crystal violet. Các tế bào mặt trong của giếng nuôi
được loại b hoàn toàn bằng tăm bông để có thể nhận diện được các tế bào di chuyển
xuống mặt dưới một cách rõ ràng nhất. Transwell được chụp ảnh và đếm dưới kính hiển
vi soi ngược ở vật kính 10X. Tổng lượng tế bào di chuyển xuống mặt dưới (∑) được tính
theo công thức:
Trong đó: a là tổng lượng tế bào đếm được trên 0,8 mm2 vi trường, 30 là diện tích
bề mặt transwell (mm2) [15]. Chúng tôi đã phân tích và tính toán lượng tế bào bị hấp dẫn
bằng cả chương trình Microsoft Office Excel và phần mềm OriginPro để tạo biểu đồ cho
lượng tế bào ở mỗi mẫu.
Đánh giá biểu hiện của thụ thể folate bằng kỹ thuật Reverse Transcriptase PCR:
tế bào RAW264.7 (2,5x105 tế bào/ml), tế bào A549 (1,0x105 tế bào/ml) được nuôi trên
đĩa petri, ủ qua đêm trong DMEM glucose chứa 10% FBS, 100 g/ml penicillin. Sau 24
h, các tế bào được chuyển nuôi trong DMEM. RNA tổng số từ hai dòng tế bào được tách
bằng kit Aurum Total RNA kit (Bio Rad, USA). Sau khi tách RNA tổng số, tiến hành
tổng hợp cDNA bằng phản ứng sử dụng enzyme phiên mã ngược (Reverse
Transcriptase) và kiểm tra chất lượng sản phẩm tạo cDNA thông qua phản ứng PCR với
các cặp mồi sau: Mồi β-actin: Fw: 5’-CTGTCCCTGTATGCCTCTG-3’, Rv: 5’-
ATGTCACGCACGATTTCC-3’ (sản phẩm 218 bp), mồi mFOLR1: Fw: 5’
CTGCATGGATGCCAAACACC 3’, Rv: 5’ GCACAGGGGAACATCAAGGA 3’ trên
trình tự tham chiếu NM_001252554.1 (sản phẩm 298bp) và mồi hFOLR1: Fw: 5’
GGAGGAAGAATGCCTGCTGT 3’, Rv: 5’ TTGCACAGAACAGTGGGTGT 3’ trên
trình tự tham chiếu NM_016724.2 (sản phẩm 391 bp), được thiết kế bằng phần mềm
Evaluation of the target effect
of folic acid conjugated nano
curcumin system on cells highly
expressed folate receptors
Thi Ngoc Huyen Tran1, Thi Thu Ha Bui1, Duc Quang Do1,
Thi Thu Huong Le2, Thi Thu Huong Pham1*
Key Laboratory of Enzyme and Protein Technology,
University of Science, Vietnam National University, Hanoi
2School of Medicine and Pharmacy, Vietnam National University, Hanoi
Received 3 August 2020; accepted 21 September 2020
Abstract:
Nano curcumin (n-Cur) is a phytopolyphenol extracted
from turmeric (Curcuma longa), which has been shown to
improve the solubility and limitations of curcumin (Cur)
but failed to produce target specificity. In this study, the
authors proved that the addition of folic acid to the n-Cur
(n-Cur-Fl) helps Cur to achieve a specific target towards
folate-receptor-expressing cells through the Boyden
chamber assay of high folate receptors (inflammatory
or cancer cells). Results showed that n-Cur-Fl increased
the ability to target specifically to inflammatory cells
(RAW264.7 induced by lypopopisacharide) or cancer
cells (Hela) highly expressing folate receptors, up to 70
or 30 times more than conventional n-Cur, respectively.
While the authors could not see this ability in A549
cells, which did not express high folate receptors. These
molecular data indicated the potential of using n-Cur-
Fl to improve the blocking of inflammation by Cur
targeting the inflammatory region specifically.
Keywords: nano curcumin, nano curcumin conjugates
folic acid, nano curcumin specific targeting.
Classification number: 3.4
962(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
Trong đó: Ac là độ hấp thụ OD của mẫu được bổ sung
chất; Ao là độ hấp thụ OD của mẫu không được bổ sung
chất.
Giá trị nồng độ của các chất Cur, n-Cur và n-Cur-Fl
không gây chết tế bào được tính dựa vào đồ thị log (liều
dùng) và % ức chế.
Đánh giá khả năng hấp dẫn của các chất lên tế bào
bằng thí nghiệm Boyden Chamber Assay: nuôi tế bào RAW
264.7 (2,0×105 tế bào/transwell) và A549 (2,5×104 tế bào/
transwell), Hela (2,5×104 tế bào/transwell) ở buồng phía
trên transwell với môi trường nuôi cấy DMEM 4,5 mg/ml
glucose bổ sung 4% FBS, 100 µg/ml penicillin. Buồng phía
dưới transwell được bổ sung thêm các chất với nồng độ Cur:
20 µg/ml, n-Cur: 20 µg/ml, n-Cur-Fl: 200 µg/ml. Sau 24 h
ủ, tiến hành thu transwell, tế bào di chuyển xuống mặt dưới
của đáy transwell được cố định lại bằng formaldehyde 4%
trong 10 phút, sau đó được nhuộm bằng crystal violet. Các
tế bào mặt trong của giếng nuôi được loại bỏ hoàn toàn bằng
tăm bông để có thể nhận diện được các tế bào di chuyển
xuống mặt dưới một cách rõ ràng nhất. Transwell được chụp
ảnh và đếm dưới kính hiển vi soi ngược ở vật kính 10X.
Tổng lượng tế bào di chuyển xuống mặt dưới (∑) được tính
theo công thức:
4
máy đo quang phổ UV-Vis LABOMED UV-2550. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
Kết quả được tính theo công thức:
Trong đó: Ac là độ hấp thụ OD của mẫu được bổ sung chất; Ao là độ hấp thụ OD
của mẫu không được bổ sung chất.
Giá trị nồng độ của các chất Cur, n-Cur và n-Cur-Fl không gây chết tế bào được
tính dựa vào đồ thị log (liều dùng) và % ức chế.
Đánh giá khả năng hấp dẫn của các chất lên tế bào bằng thí nghiệm Boyden
Chamber Assay: nuôi tế bào RAW 264.7 (2,0×105 tế bào/transwell) và A549 (2,5×104 tế
bào/transwell), Hela (2,5×104 tế bào/transwell) ở buồng phía trên transwell với môi
trường nuôi cấy DMEM 4,5 mg/ml glucose bổ sung 4% FBS, 100 µg/ml penicillin.
Buồng phía dưới transwell được bổ sung thêm các chất với nồng độ Cur: 20 µg/ml, n-
Cur: 20 µg/ml, n-Cur-Fl: 200 µg/ml. Sau 24 h ủ, tiến hành thu transwell, tế bào di
chuyển xuống mặt dưới của đáy transwell được cố định lại bằng formaldehyde 4% trong
10 phút, sau đó được n uộm bằng crystal violet. Các tế bào mặt trong của giếng nuôi
được loại b hoàn toàn bằng tăm bông để có thể nhận diện được các tế bào di chuyển
xuống mặt dưới một cách rõ ràng nhất. Transwell được chụp ảnh và đếm dưới kính hiển
vi soi ngược ở vật kính 10X. Tổng lượng tế bào di chuyển xuống mặt dưới (∑) được tính
theo công thức:
Trong đó: a là tổng lượng tế bào đếm được trên 0,8 mm2 vi trường, 30 là diện tích
bề mặt transwell (mm2) [15]. Chúng tôi đã phân tích và tính toán lượng tế bào bị hấp dẫn
bằng cả chương trình Microsoft Office Excel và phần mềm OriginPro để tạo biểu đồ cho
lượng tế bào ở mỗi mẫu.
Đánh giá biểu hiện của thụ thể folate bằng kỹ thuật Reverse Transcriptase PCR:
tế bào RAW264.7 (2,5x105 tế bào/ml), tế bào A549 (1,0x105 tế bào/ml) được nuôi trên
đĩa petri, ủ qua đêm trong DMEM glucose chứa 10% FBS, 100 g/ml penicillin. Sau 24
h, các tế bào được chuyển nuôi trong DMEM. RNA tổng số từ hai dòng tế bào được tách
bằng kit Aurum Total RNA kit (Bio Rad, USA). Sau khi tách RNA tổng số, tiến hành
tổng hợp cDNA bằng phản ứng sử dụng enzyme phiên mã ngược (Reverse
Transcriptase) và kiểm tra chất lượng sản phẩm tạo cDNA thông qua phản ứng PCR với
các cặp mồi sau: Mồi β-actin: Fw: 5’-CTGTCCCTGTATGCCTCTG-3’, Rv: 5’-
ATGTCACGCACGATTTCC-3’ (sản phẩm 218 bp), mồi mFOLR1: Fw: 5’
CTGCATGGATGCCAAACACC 3’, Rv: 5’ GCACAGGGGAACATCAAGGA 3’ trên
trình tự tham chiếu NM_001252554.1 (sản phẩm 298bp) và mồi hFOLR1: Fw: 5’
GGAGGAAGAATGCCTGCTGT 3’, Rv: 5’ TTGCACAGAACAGTGGGTGT 3’ trên
trình tự tham chiếu NM_016724.2 (sản phẩm 391 bp), được thiết kế bằng phần mềm
Trong đó: a là tổng lượng tế bào đếm được trên 0,8
mm2 vi trường, 30 là diện tích bề mặt transwell (mm2) [15].
Chúng tôi đã phân tích và tính toán lượng tế bào bị hấp dẫn
bằng cả chương trình Microsoft Office Excel và phần mềm
OriginPro để tạo biểu đồ cho lượng tế bào ở mỗi mẫu.
Đánh giá biểu hiện của thụ thể folate bằng kỹ thuật
Reverse Transcriptase PCR: tế bào RAW264.7 (2,5x105
tế bào/ml), tế bào A549 (1,0x105 tế bào/ml) được nuôi
trên đĩa petri, ủ qua đêm trong DMEM glucose chứa 10%
FBS, 100 µg/ml penicillin. Sau 24 h, các tế bào được
chuyển nuôi trong DMEM. RNA tổng số từ hai dòng tế
bào được tách bằng kit Aurum Total RNA kit (Bio Rad,
USA). Sau khi tách RNA tổng số, tiến hành tổng hợp
cDNA bằng phản ứng sử dụng enzyme phiên mã ngược
(Reverse Transcriptase) và kiểm tra chất lượng sản phẩm
tạo cDNA thông qua phản ứng PCR với các cặp mồi sau:
Mồi β-actin: Fw: 5’-CTGTCCCTGTATGCCTCTG-3’, Rv:
5’-ATGTCACGCACGATTTCC-3’ (sản phẩm 218 bp),
mồi mFOLR1: Fw: 5’ CTGCATGGATGCCAAACACC
3’, Rv: 5’ GCACAGGGGAACATCAAGGA 3’ trên trình
tự tham chiếu NM_001252554.1 (sản phẩm 298 bp) và mồi
hFOLR1: Fw: 5’ GGAGGAAGAATGCCTGCTGT 3’, Rv:
5’ TTGCACAGAACAGTGGGTGT 3’ trên trình tự tham
chiếu NM_016724.2 (sản phẩm 391 bp), được thiết kế bằng
phần mềm Primer 3. Gen β-actin được thực hiện song song
đảm bảo lượng RNA tổng số đưa vào mỗi mẫu là như nhau.
Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose 1,5% và được
ghi lại hình ảnh.
Xử lý số liệu: các số liệu nghiên cứu được xử lý thống kê
theo phương pháp t-test student sử dụng phần mềm Excel và
SigmaPlot 10 (Systat Software Inc, Mỹ). Số liệu được biểu
diễn dưới dạng X±SD. Sự khác biệt có ý nghĩa khi p<0,05.
Kết quả và bàn luận
Ảnh hưởng của nồng độ các chất hệ n-Cur gắn axit
folic tới khả năng sinh trưởng của tế bào
Như đã đề cập ở trên, Cur bị hạn chế về khả năng hòa tan
trong các dung môi phân cực, dễ bị phân hủy trong ruột nên
hiệu suất hấp thụ kém [1-3]. Do đó để đánh giá liệu việc gắn
thêm axít folic có làm mất tính tan trong môi trường sinh
học của chất hệ n-Cur, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm
hòa các hất Cur, n-Cur và n-Cur-Fl trong môi trường nuôi
cấy tế bào DMEM ở cùng dải nồng độ 0; 2,5; 5; 10; 20; 40;
100 µg/ml. Kết quả cho thấy, việc gắn axit folic vào n-Cur
không những không ảnh hưởng tới khả năng tan của n-Cur
mà còn làm tính tan của n-Cur được tăng lên rất nhiều.
Trong khi Cur có độ phân tán kém dần ở các nồng độ cao
(từ 10; 20; 40; 100 µg/ml) thì các chất hệ n-Cur có độ phân
tán tốt hơn. Với n-Cur, độ phân tán bị giảm xảy ra ở nồng
độ 100 µg/ml, trong khi với n-Cur-Fl thì không thấy xuất
hiện tủa ở nồng độ này, không thấy hiện tượng kém tan hay
sự khác biệt giữa các nồng độ khác nhau (hình 1). Điều này
cho thấy việc gắn axit folic vào hệ n-Cur còn giúp làm tăng
tính tan của n-Cur trong môi trường nuôi cấy.
Hình 1. Mức độ phân tán của các dạng Cur, n-Cur và n-Cur-Fl
trong môi trường nuôi cấy DMEM.
Bên cạnh đó, để thử nghiệm liệu nồng độ các chất hệ
n-Cur có gây độc cho tế bào hay không, chúng tôi đã kiểm tra
tác động của các chất ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
của tế bào RAW264.7, A549 và Hela bằng Kit CellTiter.
Kết quả cho thấy, số lượng tế bào của RAW264.7 và A549
trong các mẫu được ủ bằng Cur bắt đầu giảm ở nồng độ cao
hơn 10 µg/ml, riêng đối với tế bào Hela là 2,5 µg/ml (hình
2A). Trong khi đó, các mẫu được ủ với hệ n-Cur và n-Cur-Fl
1062(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
thì khả năng sống của tế bào RAW264.7 và A549 ổn định ở
các nồng độ cao hơn lần lượt là 35 µg/ml và trên 6.000 µg/
ml, đồng thời n-Cur và n-Cur-Fl cũng cải thiện ảnh hưởng
của Cur lên tế bào Hela (hình 2B, 2C). Từ đó có thể thấy,
việc nano hóa các sản phẩm Cur làm giảm khả năng gây độc
cho các tế bào, đặc biệt là n-Cur gắn thêm axit folic.
Hình 2. Ảnh hưởng của nồng độ các chất lên khả năng sinh trưởng của
các dòng tế bào. (A) Ảnh hưởng của Cur (0; 2,5; 5; 10; 20; 40; 100 µg/ml) ;
(B) Ảnh hưởng của n-Cur (0; 2,5; 5; 10; 20; 40; 100 và 1.000 µg/ml); (C) Ảnh
hưởng của n-Cur-Fl (0; 100; 2.000; 4.000; 6.000; 8.000 µg/ml) lên khả năng
sinh trưởng của các dòng tế bào RAW264.7 (2×105 tế bào/ml), tế bào A549
(1×105 tế bào/ml) và Hela (1×105 tế bào/ml) trong các giếng của đĩa 96 giếng
sau 24 h. Lượng tế bào sống sau 24 h được xác định bằng cách bổ sung 60 μl
dung dịch Cell Titer vào từng giếng. Dữ liệu được cung cấp dưới dạng giá trị
trung bình ± SD (n=3).
Đánh giá tính hướng đích của hệ n-Cur-Fl tới tế bào
có biểu hiện thụ thể folate
Như đã đề cập ở trên, axit folic là một tác nhân có ái lực
mạnh với thụ thể folate trên bề mặt tế bào ung thư, viêm
loét...[8]. Do đó, để đánh giá tính hướng đích của hệ n-Cur-
Fl tới tế bào biểu hiện thụ thể folate, chúng tôi xét biểu hiện
folate ở mức độ mRNA trên dòng tế bào RAW264.7, A549
và tế bào Hela. Kết quả RT-PCR cho thấy sự xuất hiện các
băng sản phẩm ở khoảng 298 bp đối với tế bào RAW264.7
(hình 3A) và ở khoảng 391 bp đối với tế bào Hela đúng
như tính toán trước đó, chứng tỏ sự biểu hiện mạnh mRNA
folate trên các dòng tế bào này. Trong khi gần như không
thu được tín hiệu băng sản phẩm PCR ở dòng A549 (hình
3B). Điều này cho thấy việc dùng dòng RAW264.7 và Hela
biểu hiện mạnh thụ thể folate để chứng tỏ khả năng hướng
đích tới thụ thể folate của n-Cur-Fl là lựa chọn hợp lý;
tế bào A549 biểu hiện rất thấp hoặc hầu như không biểu
hiện thụ thể này sẽ được dùng làm đối chứng âm trong thí
nghiệm đánh giá khả năng hướng đích của n-Cur-Fl.
Hình 3. Mức độ biểu hiện mRNA thụ thể folate trên các dòng tế bào:
RAW264.7 (A), A549 và tế bào Hela (B). RNA tổng số được tách từ các tế bào
RAW264.7, A549, tế bào Hela và được chuyển hoá thành cDNA, mức độ biểu
hiện mRNA folate được kiểm tra bằng RT-PCR; beta actin được sử dụng làm
nội chuẩn ở mỗi loại mẫu.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, không xuất hiện
lượng tế bào đáng kể ở mặt dưới của giếng nuôi (transwell)
trên cả 3 dòng tế bào thử nghiệm khi ủ với Cur, n-Cur hay
không ủ với chất nào (Non) (hình 4A). Tuy nhiên đã có sự
khác biệt lớn xảy ra đối với dòng tế bào biểu hiện thụ thể
folate là RAW264.7 và Hela: có sự tập trung rất nhiều tế
bào ở mặt dưới của giếng nuôi trong sự có mặt của n-Cur-
Fl, trong khi không thấy hiện tượng này trên mẫu có dòng
tế bào A549 (hình 4A). n-Cur-Fl đã tạo ra sự hướng hoá hấp
dẫn các tế bào RAW264.7 và Hela lên tới tương ứng 70 và
30 lần so với dùng riêng n-Cur (hình 4B). Số lượng tế bào
hướng đích vượt trội này có được là do sự có mặt của thụ
thể folate trên bề mặt tế bào RAW264.7 và tế bào Hela đã
hướng hoá tới vùng có axit folic trên các phân tử n-Cur-Fl.
Tế bào thiếu hụt thụ thể folate là A549 không có khả năng
này trong điều kiện có n-Cur-Fl hay không, đồng thời n-Cur
hay Cur thông thường cũng không có khả năng hấp dẫn tế
bào có thụ thể folate (RAW264.7 và Hela).
Hình 4. Khả năng hướng đích tới dòng tế bào biểu hiện mạnh thụ thể
folate. (A) Ảnh tế bào tập trung mặt dưới của màng giếng nuôi (transwell) tiếp
xúc với Cur, n-Cur hoặc n-Cur-Fl; (B) Số lượng tế bào hướng đích đếm được
(tế bào/transwell).
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thụ thể folate là
đích để trị liệu một số ung thư. Một số công bố khác về hệ
mang thuốc gắn axit folic cũng đã cho thấy khả năng hướng
đích đặc hiệu tới tế bào biểu hiện thụ thể folate [18-20].
Sự kết hợp của hạt nano gắn với axit folic giúp tăng cường
tiềm năng hóa trị liệu của Cur đối với paclitaxel (một loại
thuốc hóa trị được sử dụng để điều trị một số loại ung thư),
1162(12) 12.2020
Khoa học Y - Dược
làm giảm đáng kể sự phát triển của khối u in vivo với việc
giảm chuyển vị vào nhân của các nhân tố phiên mã NF-κB
và AP-1 [1]. Các hạt nano PLGA-PEG gắn với axit folic
của Cur thể hiện hoạt tính chống ung thư được tăng cường
nhờ phân phối đặc hiệu điểm đích [21]. Phức hợp nano từ
dịch triết lá cây Withania somnifera (i-Ex) nhắm mục tiêu
thụ thể folate tiêu diệt một cách chọn lọc các tế bào ung thư.
Trái ngược với i-Ex, phức hệ nano i-Ex hướng đích thụ thể
folate (FRi-ExNC) cho thấy có sự hấp thu tế bào cao gấp 3
lần bởi các tế bào ung thư được làm giàu thụ thể folate này
trong điều kiện in vitro. Các thử nghiệm khối u in vivo cũng
cho thấy khả năng hỗ trợ ức chế khối u mạnh hơn của FRi-
ExNC (chứng tỏ phức hệ này có vai trò là ứng cử viên mang
thuốc tự nhiên hiệu quả và an toàn trong điều trị ung thư)
[22]. Bên cạnh đó, các hạt nano PLGA kết hợp với axit folic
làm tăng đáng kể tính thấm của paclitaxel hấp dẫn tế bào
Caco-2 biểu hiện thụ thể folate [18]. Có thể thấy kết quả của
chúng tôi hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu đã công bố
về việc gắn thêm axit folic vào phức hệ bao gói thuốc đem
lại hiệu quả hướng đích cao hơn nhiều lần khi không có mặt
thành phần này.
Kết luận
Nghiên cứu này là bằng chứng phân tử xác đáng cho
thấy, lần đầu tiên, phức hệ n-Cur khi được gắn thêm axit
folic không chỉ giúp làm tăng tính hoà tan của n-Cur mà còn
có tác dụng làm tăng tới 70 và 30 lần trong việc hướng đích
tới các tế bào viêm biểu hiện cao thụ thể folate là RAW264.7
và tế bào ung thư Hela so với n-Cur thông thường. Điều này
mở ra triển vọng sử dụng n-Cur gắn axit folic có tính hướng
đích đặc hiệu cao, đặc biệt trên các đối tượng tế bào viêm
như viêm loét dạ dày và một số tế bào ung thư khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] A.K.T. Thulasidasan, et al. (2017), “Folic acid conjugation improves
the bioavailability and chemosensitizing efficacy of Cur-encapsulated
PLGA-PEG nanoparticles towards paclitaxel chemotherapy”, Oncotarget, 8,
pp.107374-107389.
[2] A. Sarkar, R. De, and A.K. Mukhopadhyay (2016), “Cur as a potential
therapeutic candidate for Helicobacter pylori associated diseases”, World J.
Gastroenterol., 22(9), pp.2736-2748.
[3] S.A. Rajasekaran (2011), “Therapeutic potential of Cur in
gastrointestinal diseases”, World J. Gastronintest Pathophysiol, 2(1), pp.1-14.
[4] Anindita Mukerjee, I.K.V. Jamboor (2009), “Formulation,
characterization and evaluation of Cur-loaded PLGA nanospheres for cancer
therapy”, Anticancer Res., 29, pp.3867-3875.
[5] N.S. Rejinold, et al. (2011), “Biocompatible, biodegradable and
thermo-sensitive chitosan-g-poly (N-isopropylacrylamide) nanocarrier for
Cur drug delivery”, Int. J. Biolog., 49, pp.161-172.
[6] M.Y. Murali, J. Meena, C. Subhash, Chauhan (2010), “Poly (beta-
cyclodextrin)/Cur self-assembly: a novel approach to improve Cur delivery
and its therapeutic efficacy in prostate cancer cells”, Macromol. Biosci., 10,
pp.1141-1151.
[7] D. Sun, et al. (2010), “A novel nanoparticle drug delivery system:
the anti-inflammatory activity of Curcumin is enhanced when encapsulated in
Exosomes”, Molecular Therapy, 18(9), pp.1606-1614.
[8] P.S. Low, W.A. Henne, and D.D. Doorneweerd (2008), “Discovery and
development of Folic-Acid-Based receptor targeting for imaging and therapy
of cancer and inflammatory diseases”, Acc. Chem. Res., 41(1), pp.120-129.
[9] G. Toffoli, et al. (1997), “Overexpression of folate binding protein in
ovarian cancers”, Int. J. Cancer, 74, pp.193-198.
[10] Huan Shi, et al. (2015), “A current review of folate receptor alpha
as a potential tumor target in non-small-cell lung cancer”, Drug. Des. Devel.
Ther., 9, pp.4989-4996.
[11] L.S.F. Boogerd, et al. (2016), “Concordance of folate receptor-alpha
expression between biopsy, primary tumor and metastasis in breast cancer and
lung cancer patients”, Oncotarget, 7(14), pp.17442-17454.
[12] L.E. Kelemen (2006), “The role of folate receptor alpha in cancer
development, progression and treatment: cause, consequence or innocent
bystander?”, Int. J. Cancer, 119, pp.243-250.
[13] D.J. O’Shannessy, et al. (2012), “Folate receptor alpha (FRA)
expression in breast cancer: identification of a new molecular subtype and
association with triple negative disease”, Springerplus, 1, p.22.
[14] M.K.Y. Siu, et al. (2012), “Paradoxical impact of two folate
receptors, FRalpha and RFC, in ovarian cancer: effect on cell proliferation,
invasion and clinical outcome”. PLoS One, 7, pp.e47201.
[15] G.L. Zwicke, G.A. Mansoori, and C.J. Jeffery (2012), “Utilizing
the folate receptor for active targeting of cancer nanotherapeutics”, Nano
Reviews, 3(1), pp.1-11.
[16] Kukowska-Latallo, et al. (2005), “Nanoparticle targeting of
anticancer drug improves therapeutic response in animal model of human
epithelial cancer”, Cancer Research, 65(12), pp.5317-5324.
[17] M. Fernández, F. Javaida, and V. Chudasama (2018), “Advances in
targeting the folate receptor in the treatment/imaging of cancers”. Chem. Sci.,
9, pp.790-810.
[18] E. Roger, et al. (2012), “Folic acid functionalized nanoparticles for
enhanced oral drug delivery”, Molecular Pharmaceutics, 9(7), pp.2103-2110.
[19] Jianian Chen, Shaoshun Li, Qi Shen, Huijuan He, Yi Zhang (2011),
“Enhanced cellular uptake of folic acid-conjugated PLGA-PEG nanoparticles
loaded with vincristine sulfate in human breast cancer”, Drug. Dev. Ind.
Pharm., 37(11), pp.1339-1346.
[20] Sang Joon Lee, Yong-Ho Shim, Jong-Suk Oh, Young-Il Jeong, In-
Kyu Park, and Hyun Chul Lee (2015), “Folic-acid-conjugated pullulan/poly
(DL-lactide-co-glycolide) graft copolymer nanoparticles for folate-receptor-
mediated drug delivery”, Nanoscale Res. Lett., 10, p.43.
[21] J.J. Pillai, A.K.T. Thulasidasan, R.J. Anto, N.C. Devika, N.
Ashwanikumar and G.S.V. Kumar (2015), “Cur entrapped folic acid conjugated
PLGA-PEG nanoparticles exhibit enhanced anticancer activity by site specific
delivery”, RSC Adv., 5, pp.25518-25524.
[22] Yue Yu, Jia Wang, S.C. Kaul, Renu Wadhwa and Eijiro Miyako
(2019), “Folic acid receptor-mediated targeting enhances the cytotoxicity,
efficacy, and selectivity of Withania somnifera leaf extract: In vitro and in
vivo”, Evidence Front. Oncol., 9, p.602.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
danh_gia_tinh_huong_dich_cua_phuc_he_nano_curcumin_gan_axit.pdf