Gây tê – Gây mê – Cầm máu
a. Gây tê :
- Cục bộ ức chế thần kinh
b. Gây mê :
- Toàn thân ức chế thần kinh.
c. Chọn thuốc
- Liều trúng độc và liều mê phải xa nhau
- Sau mê , tê , khi hết thuốc mê không ảnh hưởng đến chức phận cơ thể ( thần
kinh)
- Gây tê thấm và gây tê dẫn truyền mổ đâu gây tê đó.
A. Gây tê thấm
- Novocain liều lượng cao nhưng nồng độ thấp tránh trúng độc.
- VD : Gây tê dạ cỏ 200,300,500 ml nồng độc 0,25-0,5%.nhưng phải <1%
Tự điều chỉnh liều lượng
B. Gây tê dẫn truyền
- Novocain liều lượng thấp nhưng nồng độ cao
- Nồng độ 3-5%
- Liều =< 10ml
*** Duy nhất vá mũi trâu bò: tiêm Novocain 3% mặc dù gây tê thấm.
d. Cầm máu
- Nếu máu chảy thành dòng , màu nâu, thẫm máu tĩnh mạch
- Nếu máu chảy phun lên, đỏ tươi máu động mạch cầm liên tục.
Chảy máu nội tạng là nguy hiểm nhất.
- Cầm máu thấm ép = bông
- Nếu mạch quản to dùng panh kẹp.
- Nếu sừng chảy nhiều máu dùng nhiệt độ ( dùng dao nhiệt độ cao áp vào)
- Cầm máu toàn thân Vitamin K + tiêm them Canxi clorua
- Truyền máu trước khi mổ có tác dụng cầm máu vì có các enzyme, chất đông
máu.
51 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề cương ôn thi hết học phần môn Ngoại khoa thú y thực hành - Năm học 2013-2014, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n nhiều. Màu cũng là màu pha trộn giữa màu đỏ
sẫm và màu đỏ tươi. Loại xuất huyết này rất khó cầm máu.
e. Chảy máu ngoài
- Máu chảy từ cơ thể tràn ra bề mặt da hay các niêm mạc, có thể nhìn thấy được.
Loại xuất huyết này dễ phát hiện và dễ xử lý
f. Chảy máu trong
- Xuất hiện khi các cơ quan nằm sâu (dưới lớp che phủ) bị tổn thương, nhưng lớp
che phủ bên ngoài cơ thể không bị tổn thương, hoặc sau phẫu thuật mà da đã
được khâu kín. Máu không chảy ra ngoài cơ thể mà tích tụ lại trong các xoang
của cơ thể, mắt thường không nhìn thấy được. Xuất huyết dạng này khó phát
hiện, khó xử lý.
g. Chảy máu kẽ mô
- Là những trường hợp tổn thương mạch quản, máu thoát ra ngoài mạch quản nhưng
tích lại giữa các lớp tổ chức tạo thành các u máu.
h. Chảy máu tiên phát
- Xuất hiện ngay sau khi mạch máu bị tổn thương.
i. Chảy máu thứ phát
- Xuất hiện sau khi xuất huyết nguyên phát đã thực hiện biện pháp cầm máu
nhưng không triệt để. Nó phát triển do sự suy yếu và tuột nút chỉ thắt mạch quản
hay sự tan rã của cục máu đông.
2. Đề phòng mất máu nhiều khi phẫu thuật ( cầm máu dự phòng )
Cầm máu dự phòng cục bộ
- Đặt garo là phương pháp tốt nhất để đề phòng chảy máu cục bộ, khi phẫu thuật ở 4 chân
và đuôi. Dùng dây cao su, băng cuộn, dây vải buộc vòng quanh cơ quan, phía trên vùng
phẫu thuật, theo hướng dòng chảy của động mạch.
- Không được thắt dây garo quá lỏng hoặc quá chặt. Về mùa hè không được thắt garo quá
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
23
2 giờ, mùa đông không quá 1 giờ. Nếu phẫu thuật kéo dài, sau mỗi 30 phút, nới garo 30-60
giây, sau đó thắt lại.
Cầm máu dự phòng toàn thân
- Phương pháp cầm máu dự phòng toàn thân tốt nhất đó là tiếp máu. Không những cung
cấp trực tiếp tế bào máu để bù lại lượng máu mất trong phẫu thuật, tiếp máu còn cung cấp tất
cả những yếu tố đông máu. Việc tiếp máu có thể thực hiện trước, trong và sau phẫu thuật.
Đối với đại gia súc có thể tiếp 500-2000 ml, tiểu gia súc tiếp 200-300 ml, chó, mèo 20-50 ml.
- Tiêm dung dịch CaCl2 10%, dung dịch này cung cấp inon Ca++ một yếu tố trong quá trình
đông máu, đồng thời CaCl2 còn làm bền vững thành mạch, cả hai tác dụng này đều làm tăng quá
trình đông máu, giảm lượng máu chảy trong quá trình phẫu thuật. Tiêm tĩnh mạch dung dịch
CaCl2 10%: vật nuôi lớn: 50-100 ml, vật nuôi nhỏ: 20-30 ml, chó, mèo: 2-4 ml (cần phải chú ý
kỹ thuật tiêm, không để thuốc lọt vào da có thể gây áp-xe). Hiện nay có nhiều chế phẩm của Ca++
như Gluconat Canxi, Canxi fort có ưu điểm hơn là không gây áp-xe nếu tiêm dưới da, tiêm bắp.
- Tiêm dưới da dung dịch Gelatin 2%, vật nuôi lớn: 100-200 ml, vật nuôi nhỏ: 10-20 ml
dung dịch này vừa có tác dụng làm tăng độ nhớt của máu, do đó máu chảy chậm hơn, tiểu
cầu dễ vỡ hơn, quá trình đông máu dễ xảy ra, hơn nữa nó còn cung cấp ion Ca++cũng làm
tăng quá tình đông máu.
- Dùng huyết thanh ngựa bình thường, tiêm dưới da hay tĩnh mạch cho ngựa, liều 100-150
ml/con trưởng thành.
- Dùng Adrenalin 0,1% tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc thấm trên bề mặt đang chảy máu làm co
mạch máu, giúp cầm máu.
- Tiêm vitamin K trước khi phẫu thuật 1-2 ngày. Vitamin K thúc đẩy quá trình tổng hợp
prothrombin ở gan là chất tham gia vào quá trình đông máu.
Có thể thực hiện cầm máu dự phòng toàn thân kết hợp cầm máu dự phòng cục bộ hoặc
chỉ dùng 1 trong 2 phương pháp trên. Đa số các phương pháp cầm máu dự phòng toàn
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
24
thân hay cục bộ đều với nguyên tắc cung cấp cho cơ thể bệnh súc yếu tố đông máu,
cung cấp thêm máu, làm co mạch hoặc tăng độ nhớt máu
3. Phương pháp cầm máu khi phẫu thuật
a. Cầm máu tạm thời
- Phương pháp xoắn vặn: Áp dụng khi thiến vật nuôi còn non. Mạch máu ở
thừng dịch hoàn của con đực và mạch máu vùng ống dẫn trứng của con cái chưa
dai chắc lắm. Sau khi bộc lộ được thừng dịch hoàn và buồng trứng dùng panh
kẹp mạch máu, kẹp ngang qua thừng dịch hoàn hay ống dẫn trứng. Cầm dịch
hoàn hay buồng trứng xoắn vặn cho đến khi đứt thừng dịch hoàn hay ống dẫn
trứng.
- Bằng panh kẹp máu
Dùng panh kẹp chặt đầu mạch quản đứt, nhẹ nhàng xoắn 2-3 vòng theo trục
dọc của nó, rồi tháo panh ra. Mạch máu to hơn, máu chảy nhiều, ta kẹp lưu panh
một thời gian (5-10 phút).
- Phương pháp thắt bằng chỉ: Dùng chỉ thắt ngang mạch quản bị đứt kể cả động
mạch và tĩnh mạch, lớn hay nhỏ. Trước tiên dùng panh kẹp mạch máu, kẹp đầu
mạch quản bị đứt, kéo ra một chút rồi dùng kim chỉ xuyên qua thành mạch máu
(nếu mạch máu lớn), vòng sợi chỉ quanh mạch quản vài vòng rồi thắt lại. Sợi chỉ
đi có hình số tám, được gọi là nút số 8. Đây là phương pháp cầm máu triệt để
nhất.
b. Cầm máu triệt để
- Phương pháp thấm ép
Dùng vải gạc vô trùng, ép chặt lên thiết diện vết mổ từ 10-15 giây. Vải gạc
có khả năng thấm hút máu, khi ta ép xuống tạo tiền đề cho sự hình thành cục
nghẽn, vít mạch quản bị đứt.
- Phương pháp dùng hóa chất
Sử dụng các thuốc có tác dụng tại cục bộ, dùng các dung dịch như: H2O2,
adrenalin 0,1%, antipirin 10-20%, tẩm bông bôi vào vết thương chảy máu mao
mạch, có tác dụng làm co mạch quản. Hoặc dùng gelatin 10%, dầu cá, dầu thực
vật bôi vào vết thương, cản trở chảy máu mao mạch.
- Phương pháp vật lý:
+ Dùng nhiệt độ thấp: Tưới nước lạnh, áp túi đá vào nơi đang chảy máu, làm
nhiệt độ cục bộ vùng đang chảy máu bị giảm thấp, các mạch máu co lại, hạn chế
chảy máu.
+ Dùng nhiệt độ cao: Nung nóng thanh kim loại, mỏ hàn điện áp vào nơi
đang chảy máu. Nhiệt độ cao làm cháy các tổ chức trên bề mặt, tạo điều kiện
cho sự hình thành các cục nghẽn, vít các mạch quản bị đứt.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
25
Chương 5: Phương pháp kết nối mô bào
1. Dụng cụ và nguyên liệu để kết nối mô bào
a. Kim khâu
- Kim thẳng: có cấu tạo hoàn toàn giống như kim khâu vá quần áo, có nhiều kích thước khác
nhau. Dùng để khâu niêm mạc.
- Kim bán cong: có hình dấu phẩy, dùng để khâu niêm mạc.
- Kim cong thân tròn: toàn bộ thân kim có hình trụ tròn, dùng để khâu cơ và niêm mạc.
- Kim cong 3 cạnh: 2/3 thân kim bắt đầu từ gốc kim có hình trụ tròn, 1/3 còn lại có hình nón
3 cạnh, dùng để khâu da.
b. Kìm kẹp kim
- Là dụng cụ chuyên dụng để cố định kim, nếu chỉ khâu bằng tay nhiều khi chúng ta không
đâm xuyên được qua mô bào vì nó dày, chắc hoặc trơn tay. Nếu không có kìm cặp chuyên
dụng có thể dùng các loại kìm khác để thay thế.
- Khi cố định kim sao cho mặt phẳng của kim vuông góc với mặt phẳng của kìm, tại vị trí 1/3
của mũi kìm và 1/3 của mũi kim. Đối với kim cong 3 cạnh, kẹp tại vị trí tiếp giáp giữa đoạn 3
cạnh và đoạn tròn.
c. Chỉ khâu
- Chỉ khâu được chia làm hai loại là chỉ tự tiêu (cát- gút) và chỉ không tự tiêu:
- Chỉ tự tiêu (cát-gút ):
+ Là loại chỉ được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc protein (Trước kia được sản
xuất tử ruột mèo, ngày nay còn được sản xuất từ ruột cừu, gân đuôi chuột cống),
trong cơ thể một thời gian nó tiêu biến, dùng để khâu các mô bào nằm ở dưới lớp da
bảo vệ, sau đó không cần phải cắt chỉ.
+ Chỉ có nhiều cỡ to nhỏ khác nhau, tùy theo sự dày mỏng và sức căng của mô bào mà
lựa chọn cỡ chỉ cho phù hợp, thông thường dùng chỉ số 7/0 đến số 7.
+ Chỉ tự tiêu được nhà sản xuất tiệt trùng sẵn và bảo quản trong gói, ghi hạn sử dụng
đầy đủ. Khi sử dụng chỉ việc mở bao gói lấy chỉ ra dùng.
+ Trong cơ thể gia súc, tùy từng loại chỉ mà thời gian tiêu chỉ kéo dài từ 7-30 ngày, vì
thế chỉ còn được ghi rõ là chỉ tiêu nhanh hay tiêu chậm.
- Chỉ không tiêu:
+ Là chỉ được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc khác nhau: sợi bông, sợi lanh, sợi
gai, tơ tằm, ny-lon, pha ny-lon các loại chỉ này dùng để khâu da, đến hạn phải cắt
chỉ.
+ Chỉ không tiêu cũng được đánh số như chỉ tiêu, nhưng nhà sản xuất chưa hấp tiệt
trùng, nên phải xử lý trước khi sử dụng. Cuốn chỉ vào giá thể theo hình thức cuốn
thưa, để tiệt trùng triệt để hơn bằng các phương pháp: luộc, hấp ướt, hay hấp cao áp
(tốt nhất).
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
26
2. Các phương pháp kết nối mô bào
a. Khâu rời rạc
- Nút đơn
Sau khi đã khâu được một vòng chỉ (xâu chỉ qua hai mép của đường khâu), ta
thắt nút chỉ và cắt chỉ thừa ngay. Nút đơn dùng để khâu da, cơ, khi khâu da, mũi
kim đâm vào và mũi kim đâm ra đặt cách mép đường khâu 0,5-1cm.
- Nút chữ U
Được sử dụng ở nơi cơ hay da có sức căng bề mặt tương đối lớn, ở những mô
bào đó nếu ta khâu những nốt đơn như thường, do sức căng bề mặt lớn gây ra hiện
tượng sứt mép đường khâu. Để khắc phục tình trạng này, chúng ta dùng phương
pháp khâu nút chữ U. Bản chất của phương pháp này là chúng ta khâu ghép 2 nút
đơn. Sau khi khâu được một vòng chỉ, quay mũi kim khâu theo chiều ngược lại,
đường đi của sợi chỉ có hình chữ U, thắt lại ở một phía. Khoảng cách giữa hai vòng
chỉ là 0,5-1cm tùy theo mô bào day hay mỏng, sức căng nhỏ để khoảng cách ngắn
hơn và ngược lại.
- Nút tình thế( khâu chia đôi)
Là khâu nút đơn, được sử dụng khi đường khâu dài hoặc không thẳng. Ở những
đường khâu quá dài hay không thẳng , nếu cứ khâu lần lượt từ đầu này sang đầu kia
sẽ có hiện tượng so le mép. Để khắc phục tình trạng này người ta khâu bằng cách
khâu tình thế (khâu chia đôi), bắt đầu khâu một nút ở giữa đường khâu, chia đôi
đường khâu thành 2 đoạn sao cho không bị so le giữa hai mép. Nếu hai đoạn của
đường khâu vẫn còn dài, tiếp tục khâu chia đôi chúng, cứ khâu như vậy cho đến khi
thấy hết khả năng bị lệch mép đường khâu. Vì vậy khâu tình thế còn được gọi là
khâu chia đôi.
- Nút giảm sức căng
Ðược sử dụng ở vết mổ có da dày, sức căng lớn. Dùng chỉ đôi, mũi kim đâm vào
tổ chức cách miệng vết mổ 2-3cm. Đặt mỗi mỗi bên mép khâu một cục đệm bằng
cao su hay nhựa mềm (đường kính 0,5 cm, dài 1,5cm) lồng vào giữa hai sợi chỉ,
thắt chặt lại.
- Nút số 8
Dùng để thắt mạch máu, thừng dịch hoàn, ống dẫn trứng, nhằm mục đích cố
định sợi chỉ vào mô bào cần khâu, tránh tuột chỉ khi áp lực dòng chảy ép mạnh lên
sợi chỉ.
- Khâu nút số 8
Dùng để thắt mạch máu, thừng dịch hoàn, ống dẫn trứng, nhằm mục đích cố
định sợi chỉ vào mô bào cần khâu, tránh tuột chỉ khi áp lực dòng chảy ép mạnh lên
sợi chỉ.
b. Khâu liên tục
Khâu liên tục được dùng để khâu những tổ chức mềm, có độ đàn hồi nhỏ, vết khâu khép
kín các xoang, dễ thao tác, không tốn chỉ. Tuy nhiên, nếu chẳng may bị đứt một nút chỉ
thì toàn bộ đường khâu sẽ tuột hết.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
27
- Khâu vắt
Phương pháp này thường được dùng để khâu niêm mạc, phúc mạc hoặc là cơ
của các cơ quan trong đường tiêu hoá, tiết niệu, sinh dục.
- Khâu gấp mép( gấp nếp)
Là phương pháp khâu bổ xung cho phương pháp khâu vắt liên tục ở những khí
quan có cấu tạo xoang, khi dùng phương pháp này để khâu thì sau khi rút chỉ,
đường khâu sẽ gấp vào trong, tránh hiện tượng nhiễm trùng và viêm dính vết khâu
với các tổ chức khác. Trong khi khâu gấp mép phải chú ý không được khâu xa
miệng vết mổ nếu không sẽ làm cho xoang của tổ chức hẹp lại, không đảm bảo
được chức năng sinh lý của nó.
- Khâu thùa khuy
khâu liên tục thùa khuy áo Thường dùng để khâu da chó meo, ở những vết
mổ thẳng.
- Khâu rút túi
Dùng để cố định trực tràng, âm đạo trong trường hợp lòi dom, âm đạo lộn ra
ngoài, tử cung lộn bít tất. Sau khi cho các bộ phận này vào vị trí cũ ta dùng
đường khâu rút túi để cố định chúng lại không cho tụt ra nữa.
c. Khâu gân
- Khâu nối gân cần phải được tiến hành càng sớm sau khi bị đứt càng tốt, nếu gân
bị nhiễm trùng thì khả năng liền của gân là rất nhỏ.
- Khi sức căng của gân không quá lớn, chúng ta dùng phương pháp khâu hình chữ
U. Mũi kim xuyên vào gân phải cách chỗ bị đứt 1 cm, khâu 2 nút vuông góc với
nhau, hay khâu 3 nút cách đều nhau theo thiết diện cắt ngang của gân.
- Nếu sức căng của gân tròn quá lớn, chúng ta phải khâu cố định sợi chỉ từ xa so
với mép gân bị đứt, và phân tán sức căng của nó ra nhiều điểm bằng cách khâu
vòng qua, vòng lại một số đường khâu cùng trên một đầu gân, rồi mới khâu nối
với đầu gân bên kia và tiếp tục khâu giảm sức căng ở đầu gân bên kia.
Sau khi khâu xong phải bó bột thạch cao (nẹp) để tránh trường hợp chỉ bị đứt.
d. Kết nối xương
3. Những chú ý khi kết nối mô bào
- Trước khi khâu phải lấy hết các vật lạ, mẩu tổ chức chêt, cục máu đông, chất
bẩn trong xoang vết thương, vết mổ.
- Cầm máu hoàn toàn trong vết mổ, vết thương, đề phòng chảy máu thứ phát.
- Khi khâu cố gắng đặt sự tiếp xúc hoàn toàn giữa các mô bào, trên toàn bộ độ dài
vết thương, tránh sự hình thành các hang, ổ, túi.
- Đề phòng sự thiếu máu ở đường khâu: Nút chỉ không đặt quá sát mép của nó,
thắt chặt vừa phải, không dùng chỉ quá to so với độ dày của mô bào.
- Phải đảm bảo nguyên tắc vô trùng cho vết mổ. Tay người mổ, dụng cụ, nguyên
liệu khâu phải được sát trùng, tiêu độc kỹ.
- Các mũi khâu bên trong thì phải cắt chỉ ngắn hơn 2mm
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
28
- Ðối với những vết mổ có miệng rộng, phải khâu nhiều nút thì nên khâu ở giữa
trước giúp cho vết khâu phẳng không nhăn nhúm (khâu tình thế hay khâu chia
đôi).
Chương 6: Phương pháp băng bó
1. Mục đích
a. Bảo vệ
- Băng bó nhằm bảo vệ vết thương, vết mổ khỏi tái chấn thương. Tránh các tác động
bên ngoài: đất, cát, bụi, nước,Ngăn ngừa sự tấn công của côn trùng, đặc biệt là ruồi,
nhặng. Băng bó còn cho phép bảo vệ vết thương trước sự tác động trực tiếp của bản
thân convật; đảm bảo sự yên tĩnh cho cơ quan tổn thương.
b. Đề phòng nhiễm trùng
- Môi trường xung quanh vết thương có rất nhiều vi sinh vật, nhất là các vết mổ ở vùng
bàn ngón. Những mầm bệnh này luôn có xu hướng thâm nhập vào vết thương vì đây là
môi trường thuận lợi cho sự phát triển của chúng. Băng bó góp phần hạn chế nhiều sự
xâm nhập của vi sinh vật, giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng.
c. Cầm máu
- Khi băng bó tạo ra sức ép mạnh lên vùng tổn thương, ngăn cản sự tích tụ dịch thẩm
xuất, giảm hiện tượng phù viêm. Dịch thẩm xuất tích tụ nhiềulà nguyên nhân gây đau,
căng thẳng cho vùng tổn thương.
- Băng bó còn tham gia vào việc hấp thụ dịch rỉ viêm. Tại vết thương vết mổ bao giờ
cũng tiết dịch rỉ viêm. Sự tiết dịch rỉ là có lợi cho quá trình lành của mô bào nhưng nếu
chúng tích tụ lại sẽ gây ra các biến chứng phức tạp. Một trong các hướng điều trị tích
cực là đảm bảo cho sự thoát dịch xảy ra tự do, trong khi đó băng bó gây cản trở sự
thoát dịch tự do vì th ế người ta sử dụng loại băng thấm để hút dịch rỉ.
- Khi băng luôn đảm bảo đủ 3 lớp. Trong cùng tiếp xúc với vết thương là lớp gạc thưa
có khả năng thấm nước; lớp này vừa có tác dụnghút nước vừa có tác dụng ngăn cản sự
bám dính của các sợi bông ở lớp thứ 2, tạo điều kiện cho việc thay băng được dễ dàng.
- Lớp thứ 2 đảm nhiệm việc thấm hút dịch rỉ vì th ế trong lớp này có chứa bông có khả
năng hút nước; mức độ dày mỏng của lớp thấm hút này tùy thuộc vào khả năng tiết
dịch của vùng cần băng. Ngoài cùng là lớp bảo vệ.
d. Phối hợp với nẹp để cố định xương gãy tạm thời
- Băng còn dùng để cố định một phần cơ thểhay cơ quan ở vị trí cần thiết của nó thì
mới đảm bảo cho sự bình phục của mô bào như cố định để điều trị gãy xương, trật
khớp.
Nguyên tắc
- Sát khuẩn vết thương sạch sẽ.
- Vô khuẩn triệt để vật liệu, tay người thực hiện, dụng cụ.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
29
- Thấm hút dịch trong 24 giờ, che kín vết thương ngăn ngừa nhiễm khuẩn.
- Cuộn băng lăn sát cơ thể từ trái sang phải không để rơi băng.
- Băng từ dưới lên trên.
- Băng vừa chặt, vòng sau đè lên 1/2 -2/3 vòng trước.
- Băng nhẹ nhàng, nhanh chóng, không làm đau đớn tổn thương thêm
các tổ chức.
- Nút buộc băng tránh đè lên vết thương, đầu xương, mặt trong chân tay, chỗ
bị tì đè, chỗ dễ cọ xát.
- Tháo băng cũ dùng kéo cắt dọc để tháo bỏ nhanh.
2. Các loại băng và phương pháp băng
a. Băng dải
- Băng dải được làm từ vải sợi bông tự nhiên, đã tẩm mỡ với những khổ
khác nhau. Chúng thường được sản xuất với chiều rộng từ 5 – 7cm,
chiều dài từ 100 –150cm được cuộn lại thành từng cuộn, được tiệt trùng bằng
phương pháp sấy khô.
- Tùy thuộc vào cấu trúc của các cơ quan cần băng mà thực hiện các cách băng
khác nhau. Đơn giản nhất là cách băng xoắn ốc, áp dụng trong hầu hết các
trường hợp.
- Các khí quan có cấu trúc hính ống (bốnchân, bốn đuôi) khi băng dùng phương
pháp quấn xung quanh.
- Đối với các cơ quan có cấu trúc không đồng đều về độ dày (cẳng tay,
cẳng chân) sử dụng phương pháp băng gấp.
- Băng số tám: cách này được sử dụng để băng ở những phần cơ thể có
mặt không bằng phẳng như vùng khớp cườm, khớp gót.
b. Băng tấm
- Do người sử dụng tự thiết kế để có kích thước phù hợp với vùng cần băng bó.
- Trong cùng là lớp vải gạc vô trùng, tiếp theo là lớp bông tự nhiên có chức năng
thấm hút, ngoài cùng là lớp bảo vệ. Khi băng áp tấm băng vào vùng cần băng
sau đó tìm cách cố định tấm băng.
c. Băng chun
- Băng chun được sản xuất từ vải có pha sợi chun đàn hồi. Thường dùng trong các
trường hợp cần băng ép. Băng chun cũng là dạng băng dải nhưng có khổ lớn
hơn (chiều dài hơn 1m, chiều ngang kho ảng 10cm). Khi băng dùng
phương pháp băng cuốn hình xo ắn ốc đơn giản.
d. Băng bột
- Băng bột hay còn gọi là băng thạch cao, được sản xuất theo dạng băng
dải nhưng có tẩmbột thạch cao.
- Băng bột dùng để cố định trong các trường hợp gãy xương, trật khớp.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
30
- Trước khi dùng ngâm cuộn băng vào trong nước. Khi băng dùng phương pháp
quấn thành lớp với độ dài và dày tương ứng với mô bào cần băng. Băng xong
một thời gian lớp băng khô cứng lại rất rắn chắc có tác dụng cố định xương gãy,
trật khớp.
Phần II: Phẫu thuật chuyên khoa
I. Phẫu thuật vùng đầu, cổ
1. Cưa sừng trâu bò
a. Mục đích xử lý
- Do trong quá trình sinh trưởng sừng phát triển quá dài mọc cong xuống đâm
vào má, mí mắt làm các vùng đó bị thối loét, hoại tử.
- Sừng quá dài, nhọn dễ gây thương tích cho người chăn dắt, sử dụng hoặc
các gia súc khác.
- Trâu, bò bị trượt ngã ( tai nạn), đánh nhau vs gia súc khác làm sừng bị gãy,
dập nát dẫn đến nhiễm trùng hóa mủ
b. Phương pháp cố định
- Cố định đứng và nằm đều được
- Cố định trâu bò vào trong giá cố định, buộc chặt đầu gia súc để sừng cần cưa
hướng lên trên, cố định sao cho đầu con vật không thể lắc đi lắc lại khi cưa
sừng.
c. Vị trí phẫu thuật
- Sừng chia làm 3 phần, ta cắt 1/3 phía trên ( phần vỏ sừng)
không có tủy sừng con vật không bị đau
d. Phương pháp gây tê
- Gây tê cục bộ
- Từ đỉnh hố mắt kẻ đường thẳng tới gốc sừng lấy trung điểm của đường thẳng
trên tiêm Novocain 3-5% dưới da.
e. Phương pháp phẫu thuật
- Sát trùng 6 lần với cồn – cồn iod -..-cồn iod
- Cưa sừng bằng cưa hoặc bằng dây cưa , cần làm nhanh, dứt khoát.
- Sau khi cưa dung vải gạc đã vô trùng áp chặt vào tiết diện đã cắt giữ 5-10p
để cầm máu. Nếu có mạch máu lớn cầm máu = cách dung dao hơ nóng và
áp vào mạch máu sẽ co và ngừng chảy.
- Sau khi cầm máu rắc kháng sinh lên bề mặt quấn gạc theo hình số 8 với
sừng kế bên tránh tuột.
- Dung kháng sinh 3 ngày liên tục
f. Hộ lý và chăm sóc
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
31
- Không cho gia súc xuống ao hồ tránh nước vào xoang sừng gây nhiễm trùng
rất nguy hiểm.
Sau 7 ngày có thể mở băng sừng.
2. Vá mũi
a. Mục đích xử lý
- Trả lại vẻ đẹp tự nhiên cho con vật.
- Lấy lại sức cày kéo : tk tập trung tại mũi.
b. Phương pháp cố định
- Cố định đứng tuyệt đối không nằm vì khi phẫu thuật vá mũi tạo vết thương
mới sẽ chảy nhiều máu, rất dễ chảy vào khí quản khiến con vật ngạt thở và
chết.
- Cố định đứng trong giá cố định , cố định đầu gia súc sao cho không cử động
được để dễ thao tác.
c. Vị trí phẫu thuật
- Trên và dưới chop mũi trâu bò.
d. Vệ sinh
- Lấy nước, xà phòng rửa xả 2-3 lần cho sạch máu, mủ, dãi.
- Lấy khăn khô lau khô
- Sát trùng 6 lần cồn- iod
e. Phương pháp gây tê
- Gây tê bằng Novocain 3-5% liều 10ml/vị trí.
- Tiêm Novocain vào vị trí trên và dưới chop mũi của trâu, bò.
f. Phương pháp phẫu thuật
- Sát trùng sau đó tiến hành tạo vết thương mới.
- Cắt bên dưới trước, bên trên sau.
- Cắt xong dùng Novocain < 1% + kháng sinh tiêm trên, dưới 10ml --. Kéo dài
time giảm đau.
- Khâu chính giữa chia đều về 2 phía còn lại , khâu bằng nút khâu giảm sức
căng
- Sau khi khâu xong dùng vải gạc tẩm kháng sinh đặt trước vết thương
tránh nhiễm trùng.
- Sau 10 ngày cắt chỉ nhẹ cố định gia súc như lúc vá.
- Sau 1 tháng xỏ mũi được
- Nếu vết thương không lành không vá lại ngay để sau 1-2 tháng cho sẹo
hóa rồi vá lại.
g. Hộ lý và chăm sóc
- Sau khi phẫu thuật xong gia súc phải ở nơi sạch sẽ, ko được chăn dắt, cho gia
súc uống nước sạch.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
32
3. Khoan xoang trán
a. Mục đích xử lý
- Bê, nghé bị mủ, viêm xoang trán, kí sinh trùng xoang trán( ấu sán não)
b. Phương pháp cố định
- Nên cố định đứng dễ thao tác
- Cố định gia súc trong giá cố định , cố định hặt đầu gia súc để dễ thao tác.
c. Vị trí phẫu thuật
- Kẻ 1 đường thẳng nối 2 bờ trên của hố mắt sau đó kẻ đường trung trực( chia đôi
xoang trán) của đường thẳng trên tiếp đó chia đôi đường trung trực với bờ trên
hố mắt phải được tâm khoan xoang trán. Sau đó lấy chiều dài 7cm, chiều rộng
5cm để tâm ở giữa.
d. Phương pháp gây tê
- Sát trùng 6 lần cồn – iod – cồn
- Gây tê thấm bằng Novocain 1% diện tích 5cm xung quanh sau đó sát trùng lại.
Tiến hành mổ
e. Phương pháp phẫu thuật
- Dùng dao cắt da theo hình chữ U về phía dưới chiều dài 5-7cm
- Sau khi cắt đứt da lấy panh kẹp lại lật ngược lên thấy màng cốt mạc lấy
dao rạch thẳng xương trán thành hình chữ thập ( +) hoặc hình (x) để cắt đứt
màng cốt mạc, sau đó kéo màng cốt mạc về 4 phía
- Sau đó tiến hành khoan để chẩn đoán.
Nhìn bên trong nếu thấy màu hồng nhạt trạng thái sinh lý.
Nếu có mủ dùng KMnO4 1/1000 rửa bơm thoải mái tới khi nước chảy
ra vẫn giữ nguyên màu phấn hồng là đạt yêu cầu
- Sau đó dùng nước sinh lý + kháng sinh rửa kĩ 2-3 lần khâu lại ( trước khi
khâu phải kéo cốt mạc về 4 góc rắc kháng sinh.
- Khâu da theo phương pháp khâu buộc nút.
- Điều trị kháng sinh 5-7 ngày
Sau 2 tháng cắt chỉ + tiêm thuốc giun ( tiện thể đtrị giun)
f. Hộ lý và chăm sóc
- Giữ cho gia súc sạch sẽ sau phẫu thuật, không được để gia súc đầm mình trong
ao , hồ, nước bẩn,
- Tiêm kháng sinh phòng nhiễm trùng 5-7 ngày sau khi phẫu thuật.
4. Mổ khí quản
a. Mục đích xử lý
- Gia súc bị viêm hầu quá cấp nếu không mở khỉ quản chết ngạt
- Liệt dây thần kinh măt do cơ giới gia súc không thở được.
b. Phương pháp cố định
- Cố định nằm
- Đại gia súc không gây mê, chỉ gây tê.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
33
c. Vị trí phẫu thuật
- Xác định nhánh trước xương bả vay nối với nhánh dưới xương hàm dưới
kẻ đường thẳng chia làm 3 đoạn bằng nhau, lấy đoạn ở giữa. 1/3 đoạn
đầu ở giữa chính là phần khí quản
- Beo da lên mổ ngay chân yếm ( đường trắng)
d. Phương pháp gây tê, phẫu thuật
- Sát trùng , cắt hết long , sát trùng 6 lần – cồn – iod – cồn
- Dùng Novocain gây tê 200-300ml < 1% trong 5-7p phẫu thuật.
- Nếu đúng khí quản quan sát được các vòng sụn hình C dùng dao cắt
đứt 2-3 vòng tròn hình C đặt ống canuyn thông khí quản 2-3 ngày.
Điều trị sau phẫu thuật :
+ viêm hầu quá cấp điều trị kháng sinh liều cao
+ liệt dây thần kinh mặt vitamin nhóm B + điện châm.
- Sát trùng cồn iod hàng ngày tới khi khỏi. Khỏi rút ống , cắt chỉ không cần
khâu khí quản khâu da.
e. Hộ lý và chăm sóc
- Song song với điều trị nguyên nhân gây khó thở cần điều trị them kháng
sinh để phòng nhiễm trùng vết mổ.
Hàng ngày theo dõi vết mổ nếu thấy có hiện tượng nhiễm trùng phải xử lý ngay.
Tuyệt đối không để mủ, máu chảy vào trong khí quản sẽ làm gia súc bị viêm
phổi kế phát rất nguy hiểm,
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
34
5. Cắt tĩnh mạch cổ
a. Mục đích xử lý
- Cắt tĩnh mạch cổ khi bị áp se tĩnh mạch
b. Phương pháp cố định
- Cố định đứng, nằm đều được.
c. Vị trí phẫu thuật
- Là giới hạn của 4 đường:
Nhánh đứng xương hàm dưới 1 bàn tay.
Bờ trước xương bả vai 1 bàn tay.
Xương sống cổ 1 bàn tay.
Tĩnh mạch cổ 1 bàn tay.
d. Phương pháp gây tê , phẫu thuật
- Cắt long, sát trùng 6 lần cồn – iod –cồn
- Gây tê thấm Novocain sát trùng.
- Người phụ mổ beo da lên người mổ rạch da nhìn thấy ngay tĩnh mạch.
- Thắt tĩnh mạch bằng cách đâm kim qua tĩnh mạch sau đó thắt để tránh tuột
nút thắt.
- Cắt, rạch tổ chức, đem cả mảng tĩnh mạch + tổ chức ra ngoài sát trùng
rắc kháng sinh khâu lại rồi lại sát trùng
e. Hộ lý và chăm sóc
- Tiêm kháng sinh cho gia súc 5-7 ngày chú ý vết mổ nếu không bị nhiễm
trùng thì sau 7 ngày cắt chỉ.
- Nếu vết mổ nhiễm trùng thì điều trị theo phương pháp điều trị vết thương
nhiễm trùng.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
35
6. Cắt bỏ nhãn cầu
a. Chỉ định phẫu thuật
- Dùng trong trường hợp nhãn cầu bị tổn thương, hoặc viêm nhiễm trùng hóa
mủ.
b. Phương pháp cố định: Vât gia súc nằm trên bàn mổ or trên nền đất. Mắt cần
phẫu thuật hứng lên trên.
c. Phương pháp gây tê:
- Dùng Novocain tiêm vào bờ ngoài của hố mắt gây tê dây thần kinh mắt (
thần kinh VI phân cho cơ thẳng ngoài và sau của mắt)
- Tiêm 20ml đ Novocain 3% vào góc trong hố mắt gây tê thần kinh III (vận
nhãn chung cho cơ thẳng trên, thẳng dưới, thẳng trong và chéo bé.
- Chú ý : không đc đâm kim vào nhãn cầu
d.Phương pháp phẫu thuật.
- Dùng cồn Iốt 5% sát trùng trong và ngoài hố mắt
- Sau khi thuốc tê có tác dụng Dùng móc mở rộng 2 mí mắt mở rộng vết
thương. Sau đó dùng kéo nhỏ căt đứt niêm mạc xung quanh nhãn cầu và các cơ
bám trên nhãn cầu.
- Sau đó kẹp nhãn cầu nhấc lên và cắt đưt cơ co nhãn cầu và thần kinh thị giác.
Nếu còn tổ chức dính vào nhãn cầu ta cắt đứt hét và nhắc nhãn cầu ra khỏi hố
mắt
- Sau đó dùng gạc vô trùng tẩm dd Rivanol 3% đáp vào hố mắt.
- Sau đó cầm máu và khau mí mắt và mũi tạm thơi
- Sau 4-5 ngày tiến hành cắt chỉ
e. Hộ lý
- Sau khi phẫu thuật ta tiêm kháng sinh phòng nhiễm trùng.
- Vệ sinh sach sẽ tránh ruồi muỗi bay đậu vào
- Cho gia súc ở nơi sạch sẽ , thoáng mát.
II. Phẫu thuật vùng ngực, bụng, chân
7. Mổ dạ cỏ
a. Mục đích xử lý
- Xử bệnh bội thực dạ cỏ cấp tính
- Xử lý liệt dạ cỏ.
b. Phương pháp cố định
- Cố định đứng nằm đều được
- Nên cố định nằm dễ lấy chất chứa tránh vương vãi vào ổ bụng gây viêm.
c. Vị trí phẫu thuật
- Nên mổ vùng hõm hông bên trái.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
36
d. Phương pháp gây tê
- Cắt lông, sát trùng 6 lần cồn trắng – cồn iod xen kẽ nhau.
- Dùng Novocain liều 200-500ml gây tê thấm
- Vị trí gây tê : tại 3 điểm , 3 điểm nối với nhau tạo thành 1đường thẳng.
A : giao giữa 2 khe sườn xương sống 12,13( gian sườn cuối cùng)
B : giữakhe sườn cuối và mỏm ngang đốt hông đầu tiên
C : giữa mỏm ngang đốt hông 1 và mỏm ngang đốt sống hông 2
Hình các điểm gây tê, đường mổ.
- Cách gây tê : Dùng kim đâm từ trên sống lưng xuống dưới sau đó rút kim
lên 0,5cm và tiêm thuốc Novocain 3% liều 10ml/vị trí
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
37
e. Phương pháp phẫu thuật
- Mổ chéo phần hõm hông 30cm giảm mức độ xé cơ chéo.
- Mổ hết lớp cơ thấy phúc mạc
Khâu cố định phúc mạc và dạ cỏ tránh rơi chất chứa vào xoang bụng.
Dùng kẹp kéo phần mổ về 4 phía
- Xác định trước khi mổ dạ cỏ xem gia súc bị bội thực or chướng hơi đâm
kim xì hơi châm lửa.
- Bội thực lấy chất chứa để lại 1/3 để tránh mất hệ vsv dạ cỏ. Sauk hi lấy
chất chứa, rửa miệng vết mổ = nước muối sinh lý cắt chỉ nối giữa phúc
mạc và dạ cỏ
- Sau khi mổ khâu
Niêm mạc dạ cỏ x niêm mạc dạ cỏ = khâu vắt
Cơ dạ cỏ x cơ dạ cỏ = khâu vắt
Cơ dạ cỏ x cơ .. = khâu gấp mép liên tục.
Cơ dạ cỏ x phúc mạc = khâu vắt liên tục.
Khâu da = khâu vắt liên tục và kết thúc bằng nút khâu giảm sức căng
f. Hộ lý và chăm sóc
- Hằng ngày cần theo dõi nhiệt độ gia súc
- Quan sát nhu động dạ cỏ
- Tiêm kháng sinh liều cao 5-7 ngày sau khi phẫu thuật tránh nhiễm trùng
vết mổ.
- Sau 7 gày cắt chỉ khâu da , nếu có hiện tượng nhiễm trùng thì cắt bỏ những
nút chỉ khâu da cuối cùng rồi xử lý vết mổ như xử lý vết thương nhiễm trùng.
8. Cắt nối ruột
a. Mục đích xử lý
- Điều trị viêm hoại tử ruột nguyên phát và kế phát do : hecni thành bụng, tắc
ruột, xoắn ruột, hecni âm nang, hecni rốn
b. Phương pháp cố định
- Cố định nằm trên bàn mổ hoặc dưới nền đất có lót rơm hoặc cỏ khô sạch.
- Trâu, bò cho nằm về bên trái.
c. Vị trí phẫu thuật
- Nên mổ vùng hõm hông bên phải.
d. Phương pháp gây tê
- Gây tê đối với lợn
- Gây mê đối với chó mèo
- Gây tê với trâu , bò
- Cắt lông, sát trùng 6 lần cồn trắng – cồn iod xen kẽ nhau.
- Dùng Novocain liều 200-500ml gây tê thấm
- Vị trí gây tê : tại 3 điểm , 3 điểm nối với nhau tạo thành 1đường thẳng.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
38
A : giao giữa 2 khe sườn xương sống 12,13
B : khe sườn cuối và đốt hông đầu tiên
C : đốt hông 1, hông 2
Hình các điểm gây tê, đường mổ.
- Cách gây tê : Dùng kim đâm từ trên sống lưng xuống dưới sau đó rút kim
lên 0,5cm và tiêm thuốc Novocain 3% liều 10ml/vị trí
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
39
e. Phương pháp phẫu thuật
- Mổ da theo đường chéo từ trên xuống dưới từ trước ra sau. Sau đó xử lý tách
từng lớp cơ 1 .
- Lôi ruột ra bên ngoài để khăn bên dưới, cho nước sinh lý liên tục tránh
liệt ruột.
- Xác định đoạn cần cắt : dùng panh kẹp ruột không phải panh kẹp máu.
- Trước khi cắt thắt mạch quản chi phối tới ruột cần cắt.
- Cắt cả màng treo ruột , cắt theo chữ V
- Tiến hành nối ruột
Đầu tiên chập 2 panh lại với nhau
Để chuối xanh or thân khoai nước vào ruột kẹp lại panh lên chuối or
thân khoai nước
Tiến hành khâu. Sauk hi khâu dùng tay vuốt xem có bị tắc giữa đoạn khâu
ko?. Có thể cho dầu cá vào ruột bôi trơn tránh liệt ruột, tránh ruột
lồng vào nhau, dính lại với nhau,
f. Hộ lý và chăm sóc
- Tiêm kháng sinh 5-7 ngày tránh nhiễm trùng.
- Cho gia súc ăn thức ăn loãng, dễ tiêu.
- Theo dõi không táo bón là hiện tượng tốt.
9. Mổ lấy thai
a. Mục đích xử lý
- Xử lý các trường hợp đẻ khó do :
Âm đạo và cổ tử cung bị hẹp
Hướng thai không thuận
Thai chết lâu do bị trương to.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
40
- Phẫu thật cần tiến hành càng sớm càng tốt.
b. Phương pháp cố định
Với trâu bò
Cố dịnh trê bàn mổ hoặc nền đất có lót rơm. Để trâu bò nằm ngiêng bên trái.
Với Lợn,chó
Cố định chó, lợn nằm ngửa trên bàn mổ, đầu thấp hơn đuôi. Cố định chắc mõm
và 4 chân vào bàn mổ.
c. Vị trí phẫu thuật
- Nên mổ vùng hõm hông bên phải.
d. Phương pháp gây tê
- Gây tê đối với lợn
- Gây mê đối với chó mèo
- Gây tê với trâu , bò
- Cắt lông, sát trùng 6 lần cồn trắng – cồn iod xen kẽ nhau.
- Dùng Novocain liều 200-500ml gây tê thấm
- Vị trí gây tê : tại 3 điểm , 3 điểm nối với nhau tạo thành 1đường thẳng.
A : giao giữa 2 khe sườn xương sống 12,13
B : khe sườn cuối và đốt hông đầu tiên
C : đốt hông 1, hông 2
Hình các điểm gây tê, đường mổ.
- Cách gây tê : Dùng kim đâm từ trên sống lưng xuống dưới sau đó rút kim
lên 0,5cm và tiêm thuốc Novocain 3% liều 10ml/vị trí
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
41
e. Phương pháp phẫu thuật
Với Trâu, bò
- Mổ 1 đường thẳng dài 25-30cm chéo từ trên xuống dưới – trước ra sau giáp với đường
thẳng kéo dài từ đầu sụn sườn thứ 10 tới vòng cung sụn sườn, cách xường sườn cuối cùng 5-
7cm, cách mỏm xường ngang của xương sống hông từ 10-15cm.
- Sau khi mổ đứt da tiến hành mổ các lớp cơ thành bụng. tới phức mạc thì dừng lại, dùng
tay beo phúc mạc lên lấy kéo cắt 1 lỗ cho 2 ngón tay lọt được vào xoang bụng nâng phúc
mạc lên và mở rộng phúc mạc
- Cho tay vào xoang bụng kéo sừng tử cung có chứa tahi gần ra miệng vết mổ ( chọn nơi ko
có núm nhau và ít mạch máu trích 1 lỗ rồi đưa xông có rãnh qua vết mổ sừng tủ cung (
chiều dài vết mổ sừng tử cung tùy thuộc vào khối lượng và kích thước của thai)
Với Lợn
- Tại ví trí đã được sát trùng ta mổ 1 dường thằng dài 14-20 cm từ trên xuống dưới, từ trước
ra sau.
-Sau đó tách các lớp cơ thành bụng, cắt đứt phúc mạc cho tay vào lôi sừng tử cung ra gần
miệng vết mổ. Chọn nơi nào có ít nhau và ít mạch máu nhất trên sừng tử cung mổ 1
đường dài 10-15 cm dọc theo sừng tử cung
-Từ vết mổ cho tay vào sẽ nhau thai để lấy con ra ( có thể lấy luôn nhau thai ra)
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
42
Với chó
- Mổ đường thẳng dọc theo đường trắng dới bụng giữa đầu vú 1 và vú 2
( vết mổ dài ngắn phụ thuộc chó to hay nhỏ)
- Sau khi mổ đứt da mổ các lớp cơ vách bụng
- Khi tới phúc mạc mổ rộng phúc mạc cho tay vào trong xoang phúc mạc lôi
sừng tử cung ra gần miệng vết mổ.
- Trên sừng tử cung có chứa thai, ta chon nơi có ít mach máu, ko có núm nhau để mở
1 đường ọc theo sừng tử cung ( vết mổ dài or ngắn phục thuộc và kích thước thai)
- Lấy thai qua vế mổ nếu còn sống thì hộ lý chăm sóc cho con = lau khô, ủ ấm.
- Sau khi lấy thia dùng vải gạc, bơm tiêm hút hết dịch thai trong tử cung ra. Cho
thuốc kháng sinh và khâu tử cung lại bằng khâu liên tục và gấp mép liên tục.
- Sau khi lấy thai ra khỏi tử cung bóc hêt nhau rửa sạch tử cung = dd thuốc
tím 0,1%, dd Rivanol 0,3%
- Cho thuốc kháng sinh vào tử cung dùng chỉ tơ chắc để khâu tử cung:
+ Niêm mạc tử cung và niêm mạc tử cung khâu vắt liên tục.
+ Cơ tử cung với cơ tử cung bằng khâu vắt liên tục
+ Khâu liên tục gấp mép cơ tử cung.
- Khâu phúc mạc, cho kháng sinh vào vết mổ xong khâu da lại
Chú ý:
+ Trước khi mổ sừng tử cung cần dùng vải vô trùng lót vào giữa tử cung và
vách bụng để nước từ tử cung ko rơi vào xoang bụng
+ Nếu khi lấy thai mà nước tử cung rơi vào xoang bụng ta phải dùng thuốc sát
trùng rửa sạch xoang bụng rùi dùng vải gạc và bơm tiêm hút sạch, cho kháng
sinh và xoang bụng mới tiến hành khâu.
f. Hộ lý và chăm sóc
- Tiêm kháng sinh 5-7 ngày tránh nhiễm trùng.
- Cho gia súc ăn thức ăn loãng, dễ tiêu.
Theo dõi không táo bón là hiện tượng tốt.
10. Cắt ngón
a. Chỉ định phẫu thuật khi:
- Ngón chân gia súc bị dị dạng, thừa ngón
- Khớp ngón viêm hóa mủ, hoại tử
Chú ý: chỉ áp dụng cho nuôi gia súc sinh sản ko áp dụng cho gia suc nuôi để cày
kéo.
b. Cố định gia súc:
Vật gia súc nằm trên bàn mổ hoặc nền đất , chị cần phẫu thuật buộc ở phía
trên
c. Gây tê và cầm máu.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
43
- Tiêm trực tiếp vào mặt trước xương bàn để gây tê thần kinh bàn lưng trong và mặt
sau xương bàn để gây tê TK gan bàn trong bằng dd Novocain 3% liều 10 ml vào
mỗi vị trí.
- Đề phòng chảy máu: dùng đoạn dây cao su làm garô tại vùng xương bàn.
d. Tiến hành
- Dùng dao mổ 1 đường vòng tròn xung quang xương ngón, cách khớp xương định
cắt bỏ từ 2-3 cm về trước.
- Tiếp theo mổ 1 đường thẳng từ trên xuống dài 5-7cm sao cho 2 vết mổ này tạo
thành hình chữ T Lộn ngược.
- Tiếp theo dùng dao bóc tach da ra khỏi xương ngón đến khớp lách mũi dao vào
giữa khớp ngón cắt đứt dây
chằng và bao khớp cắt rời khớp ra.
- Dùng vải gạc vô trùng thấm máu nới dây garô từ từ phát hiện mạch máu và
thắt lại
- Sau khi cầm máu triệt để rắc kháng sinh vào và khâu da lại.
- Dùng băng cuộn để băng vết thương tránh ruồi muỗi, tránh nhiễm trùng.
e. Hộ lý – chăm sóc
- Vệ sinh chuông trại sạch sẽ, nền chuong lúc nào cuzng phải kho và có rơm hay cỏ
khô độn chuồng.
- Tiêm khánh sinh 5-7 ngày sau phẫu thuật.
III. Phương pháp thiến gia súc
1. Thiến gia súc đực
a. Mục đích xử lý
- Nhằm phá hủy hoàn toàn chức năng sinh lý của dịch hoàn và các tuyến sinh dục
phụ của gia súc đực
- Gia súc đực sau khi bị thiến sẽ bớt hung hang, thuần tính việc chăn dắt và sử
dụng gia súc sẽ dễ dàng hơn.
- Gia súc nuôi lấy thịt thì sau thiến sẽ nhanh béo, thịt mềm, không có mùi hôi
b. Phương pháp cố định
- Đứng nằm đều được
Đứng là tốt nhất
c. Vệ sinh
- Dùng xà phòng rửa 2 bên bẹn, dịch hoàn 2-3 lần sau đó lau khô lại bằng khăn.
- Tiến hành sát trùng : cồn thường – cồn iod ( 6 lần xen kẽ)
d. Phương pháp gây tê
- Kẻ đường thẳng chia dịch hoàn làm 3 phần tiến hành cắt 1/3 phía dưới rạch
vòng sang bên cạnh 100% dịch rỉ viêm chảy hết vết thương khô ( sau mổ)
- Tiến hành gây tê thấm : mổ đâu gây tê đó.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
44
- Gây tê dẫn truyền thừng dịch hoàn Novocain 3% 10ml
- Dung tay ép da đâm kim vào thừng dịch hoàn. Sau đó sát trùng lại.
e. Phương pháp phẫu thuật
- Dùng tay đưa trước dịch hoàn kéo căng lớp da nhìn rõ dịch hoàn
- Dùng tay đổi dịch hoàn bên phải về phía trước
- Dung dao lướt nhẹ giác mạc riêng dịch hoàn chui ra, bộc lộ thừng dịch hoàn
dung panh kẹp thừng dịch hoàn , xuyên kimm chỉ qua thừng dịch hoàn thắt để thừa
20cm sau đó cắt và kéo ra kiểm tra xem máu có chảy ra không
- Cuối cùng cắt giữa nút thắt và panh kẹp
- Sát trùng lại với cồn iod
- Làm tương tự với dịch hoàn bên kia
- Sau khi cắt xong vuốt dịch hoàn cho máu chảy ra.
- Cuối cùng quan trọng nhất cho betalin ( cồn iod) vuốt, láng sạch.
- Rắc 1 chút kháng sinh
f. Hộ lý và chăm sóc
- Không để trâu bò vào hồ, ao
- Nếu có dòi, mủ chảy ra do vệ sinh kém
Cố định lại rửa lại với betalin sau đó sử dụng dipterex hút kèm ít nước
phun vào hoặc dung hoa trinh nữ vò nát cho vào ròi chui ra.
Rửa sạch lại với nước muối sinh lý rửa = betalin ( cồn iod) rắc kháng sinh.
Tuyệt đối không khâu
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
45
2. Thiến ngựa, trâu, bò,chó,mèo đực
a. Mục đích
- Thiến gia súc sẽ phá huỷ chức năng sinh lý của dịch hoàn cũng như các tuyến
sinh dục phụ khác làm cho con đực bớt tính hăng, giúp cho chủ gia súc dễ sử
dụng, vỗ béo nhanh, thịt mềm không có mùi hôi, nâng cao giá trị kinh tế của gia
súc.
- Thiến gia súc còn là biện pháp loại bỏ những con đực không đủ phẩm chất làm
giống.
b. Các bước tiến hành
1. Cố định gia súc.
- Trâu, bò trưởng thành cố định đứng trong giá 4 trụ, buộc chặt đầu gia súc, hai
chân sau được buộc hình số 8. Có hệ thống giá đỡ không cho gia súc nằm xuống
và có dây chằng trên không cho con vật nhảy dựng lên khi đang phẫu thuật.
- Vật nuôi nhỏ (bê, nghé, dê, cừu) vật nằm, cột hay giữ chặt bốn chân.
- Lợn con thường được thiến vào lúc 3-21 ngày tuổi, cố định nằm nghiêng hoặc
người phẫu thuật có thể kẹp lợn vào giữa 2 đầu gối của mình, vừa cố định vừa
thao tác.
- Những vật nuôi được chỉ định gây mê, cố định nằm nghiêng hay nằm ngửa sau
khi thuốc mê có tác dụng.
2. Vệ sinh
Rửa kỹ bao dịch hoàn, bẹn và các vùng lân cận, lau khô, sau đó sát trùng bao
dịch hoàn hai lần (một lần trước khi gây tê, một lần trước lúc rạch (cắt) nhát dao
đầu tiên) bằng cồn Iod 5%.
Nếu có các ổ nhiễm trùng cũ phải xử lý khỏi mới được tiến hành phẫu thuật
3. Gây mê và gây tê
- Gây mê:
+ Chó, mèo: Khi thiến chó, mèo đực chỉ định gây mê tuyệt đối. Nếu thiến chó,
mèo đực không gây mê rất nguy hiểm. Chó, mèo là vật nuôi ăn thịt có hệ thần
kinh rất mẫn cảm, con vật không chịu được đau đớn nên phản ứng rất dữ dội, có
thể gây tổn thương cho người và chính bản thân nó, nguy cơ chảy máu nhiều và
nhiễm trùng cao.
+ Ngựa: Có thần kinh tương đối linh hoạt, khả năng chịu đựng đau cũng kém, vì
thế khi thiến ngựa đực tốt nhất là có chỉ định gây mê. Thời gian phẫu thuật
thường thực hiện trong vòng 20-30 phút, vì thế chỉ cần gây mê nông là đủ thời
gian thực hiện.
+ Loài nhai lại: Có hệ thần kinh trì trệ, khả năng chịu đau lớn khi thiến chỉ cần
cố định chắc, kết hợp với các biện pháp gây tê cục bộ.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
46
+ Lợn: Với lợn nhỏ không cần gây mê, gây tê, chỉ cần cố định chắc là được. Khi
thiến những con lợn to lớn, hung dữ, khó cố định, cần thiết chỉ định gây mê hay
gây tê.
- Gây tê:
Gây tê dẫn truyền dịch hoàn bằng cách tiêm 3-5ml novocain 3% vào mỗi bên
thừng dịch hoàn. Khi tiêm ép sát thừng dịch hoàn sang một bên bằng đầu ngón
tay cái và đầu ngón tay trỏ của bàn tay không cầm bơm tiêm.
Gây tê thấm bằng cách tiêm novocain 0,25% vào dưới da ở phần giữa hai dịch
hoàn (vị trí vết mổ). Ðợi 10 phút cho thuốc tê tác dụng rồi phẫu thuật.
4. Vị trí và cách tiến hành
- Bóp căng hai dịch hoàn: Tay trái cầm thật chắc phía trên, mặt dưới của bao
dịch hoàn, dồn toàn bộ da bao dịch hoàn vào lòng bàn tay, làm cho hai dịch
hoàn căng ra.
- Mổ dịch hoàn:
+ Tay phải dùng dao rạch một đường thẳng, dứt khoát vào rãnh giữa hai dịch
hoàn, vết mổ bắt đầu từ 1/3 phía dưới bao dịch hoàn xuống hết đáy, vết mổ cắt
đứt lớp da, màng cơ và cơ.
+ Sau đó cầm chắc một dịch hoàn, mổ đứt giáp mạc chung.
- Bộc lộ dịch hoàn và thừng dịch hoàn: Dùng tay bóp mạnh cho dịch hoàn lòi ra.
Bóc tách lớp giáp mạc chung ra khỏi dịch hoàn, vuốt ngược lên phía trên thừng
dịch hoàn, bộc lộ hoàn toàn dịch hoàn và một phần thừng dịch hoàn.
- Thắt thừng dịch hoàn: Dùng chỉ chắc gập đôi và kim xâu qua thừng dịch hoàn
rồi thắt thật chặt, cắt chỉ nhưng phải để dài.
- Cắt thừng dịch hoàn: Người phụ mổ cầm đầu chỉ, người mổ chính cắt đứt
thừng dịch hoàn, vết cắt cách nút thắt 2cm.
- Sát trùng: Dùng cồn Iod 5% sát trùng đầu thừng dịch hoàn bị cắt. Nếu cắt xong
không thấy có máu chảy từ thừng dịch hoàn thì cắt chỉ ngắn đi rồi thả cho thừng
dịch hoàn chui vào xoang bụng, nếu máu có chảy thì thắt nút thứ 2 cách nút thứ
nhất về bên trên 1-2cm. Phải đảm bảo cho máu không chảy từ thừng dịch hoàn
ra nữa thì mới buông tay cho thừng dịch hoàn chui vào xoang bụng.
- Dịch hoàn còn lại cũng tiến hành tương tự.
- Sau khi phẫu thuật xong vuốt hết máu ở trong bao dịch hoàn ra, cho thuốc
kháng sinh vào bao dịch hoàn. Dùng cồn Iod 5% sát trùng bên ngoài dịch hoàn.
Ngoài ra chúng ta có thể dùng phương pháp thiến kín: là phương pháp dùng kìm
phá huỷ thừng dịch hoàn hoặc dùng hóa chất (hỗn hợp fomalin 38% với cồn 960
theo tỷ lệ 4:1) tiêm vào thừng dịch hoàn gây ra quá trình viêm không nhiễm
trùng làm hủy hoại thừng dịch hoàn mà không cần phải phẫu thuật. Nhưng
phương pháp này chỉ tiến hành được với những gia súc non, gia súc già cho kết
quả không chắc chắn.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
47
c. Hộ lý, chăm sóc
- Từ khi thiến cho tới khi vết mổ lành lại không cho gia súc đầm ao, hồ, chuồng
trại phải quét dọn sạch sẽ.
- Phải thường xuyên theo dõi vết mổ, nếu vết mổ bị nhiễm trùng thì phải xử lý
như vết thương nhiễm trùng.
3. Thiến gà trống
4. Thiến lợn cái
a. Mục đích:
- Khi nuôi các giống lợn thịt nhưng khả năng tăng trọng chậm, lại sớm
phát dục (động dục lần đầu chưa đủ khối lượng giết thịt), cần phải thiến để tránh
lãng phí thức ăn.
- Ngoài ra khi loại thải các con lợn nái, thiến để nâng cao chất lượng thịt.
b. Chuẩn bị lợn thiến
- Với lợn con mới lớn nên thiến vào trước lúc động dục lần đầu. Lợn lớn thì
thiến vào thời điểm con vật không động dục.
- Cho lợn nhịn đói ít nhất 12h.
- Nếu ở trang trại có nhu cầu thiến nhiều lợn cái cùng một lúc, cần chuẩn bị các
ô chuồng để nuôi riêng lợn sau khi thiến. Không nhốt chung lợn thiến với lợn
khỏe mạnh. Các ô chuồng nuôi lợn sau khi thiến cần được vệ sinh sạch sẽ. Lợn
thường ở bẩn, nếu thấy cơ thể lợn quá bẩn phải tắm rửa sạch cho lợn trước khi
thiến.
c. Các bước tiến hành
- Cố đinh: Với lợn dưới 30kg có thể mổ hông hoặc mổ bụng. Nếu mổ
hông, cố định lợn nằm nghiêng, nếu mổ bụng cố định lợn nằm ngửa. Với lợn
lớn, không thiến bằng phương pháp mổ bụng được, phải cố định lợn nằm
nghiêng để mổ hông.
- Vệ sinh:
Cắt lông vùng phẫu thuật, rửa sạch, lau khô, sát trùng bằng cồn iod 5%.
- Gây mê và gây tê:
Thiến lợn cái không cần chỉ định gây mê và gây tê, trừ những trường hợp tiến
hành ở những cá thể to lớn và hung dữ. Lợn lớn hung dữ rất khó cố định, nếu
xét thấy cần thiết, chúng ta chỉ định gây mê nông.
- Vị trí và cách tiến hành:
+ Phương pháp mổ hông: Vị trí vết mổ cách mỏm hông xương cánh chậu và
mỏm ngang của các đốt sống hông 3cm mỗi chiều, chếch từ trên xuống dưới, từ
trước ra sau, độ dài từ 5-7cm. Với những con lợn lớn nặng 100-200kg, độ dài
vết mổ có thể lên tới 15cm, vì không thể tiếp cận buồng trứng bằng một ngón
tay mà phải đưa cả bàn tay vào.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
48
+ Phương pháp mổ bụng: Vị trí vết mổ nằm giữa đường trắng, ngang mức đôi
hàng vú cuối cùng. Phương pháp này không áp dụng được ở những lợn lớn, vì
bụng của chúng có lớp mỡ dày.
- Mổ một đường thẳng dài khoảng 5-7cm, chéo từ trên xuống dưới, từ trước ra
sau. Vết mổ làm đứt hoàn toàn lớp da, dùng ngón tay trỏ để tách các lớp cơ ở
vách bụng cho tới phúc mạc.
- Dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái cấu thủng phúc mạc (không đâm thẳng vì có
thể làm thủng tới ruột). Khi phúc mạc thủng, dịch phúc mạc chảy ra.
- Cho ngón tay trỏ vào trong xoang bụng để tìm buồng trứng. Không dùng ngón
tay ngoáy lung tung trong xoang bụng mà phải tìm lần lượt từ dưới vết mổ vào
trong xoang chậu, trước cửa xoang chậu, trước bàng quang.
- Khi tìm được buồng trứng, cong ngón tay trỏ lại luồn vào cuống buồng trứng,
áp sát vào thành bụng, kết hợp với ngón tay cái ở ngoài tỳ mạnh vào thành bụng
để đưa buồng trứng ra ngoài vết mổ.
- Dùng panh kẹp ngang qua ống trứng rồi xoắn buồng trứng từ chậm đến nhanh,
khi buồng trứng bị xoắn đứt.
- Lấy cồn Iod 5% sát trùng vào cuống buồng trứng đã đứt, rồi nhét sừng tử cung
vào trong xoang bụng.
- Buồng trứng còn lại đối xứng với buồng trứng đã xoắn đứt. Cũng làm như trên
để lấy ra.
- Sau khi lấy được cả hai buồng trứng phải cho toàn bộ sừng tử cung vào trong
xoang bụng.
- Rắc kháng sinh vào trong xoang bụng.
- Khâu phúc mạc và khâu da lại.
- Sát trùng toàn bộ vết mổ một lần nữa.
d. Hộ lý- chăm sóc
Giữ cho chuồng trại sạch sẽ tránh nhiễm trùng vết mổ. Cắt chỉ sau khi thiến 7
ngày về mùa hè, sau 10 ngày về mùa đông.
5. Thiến chó,mèo cái
a. Mục đích
Việc nuôi chó, mèo đẻ rất vất vả nhưng lại không mang lại lợi ích gì
nhiều cho các gia đình. Mặt khác, chó cái đến kỳ động dục thường thải ra các
chất tiết và máu từ khe sinh dục, gây mùi khó chịu, nhất là đối với không gian
chật hẹp ở thành phố. Mèo cái động dục, chưa gặp được bạn tình thì gào suốt
đêm, thêm vào đó thời gian động dục của chúng không phải ít ngày (trên dưới
10 ngày). Vì vậy cách tốt nhất là thiến chúng đi.
b. Các bước tiến hành
- Gây mê: Chỉ định gây mê bắt buộc
- Cố định vật nuôi nằm ngửa trên bàn mổ
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
49
- Vệ sinh trong phẫu thuật: Cắt và cạo lông thật sạch vùng bụng rộng hơn
gấp 2-3 lần so với vùng phẫu thuật. Rửa sạch bằng xà phòng và nước sạch. Lau
khô bằng vải gạc hay khăn bông đã được tiệt trùng. Sát trùng 2 lần bằng cồn iod
5%.
- Vị trí vết mổ: nằm giữa đường trắng, ngang mức đôi hàng vú áp cuối
cùng, xu hướng nhích lên phía đầu. Khi khó tiếp cận với buồng trứng, cần mở
rộng vết mổ thì rạch về phía đầu con vật.
- Sau khi rạch cắt da, tìm đường trắng và rạch chính giữa nó. Do mô liên
kết của vùng này của chó, mèo rất lỏng lẻo, vì thế vết mổ da ở chính giữa bụng,
dưới nó chưa hẳn đã là đường trắng, mà đường trắng thường lệch về một phía
nào đó. Đường trắng rất mỏng, ngay dưới nó là phúc mạc.
- Rạch phúc mạc: Phúc mạc rất mỏng, không nên chọc thủng bằng tay, vì
làm như vậy rất khó khâu sau này, dùng kẹp nhấc phúc mạc lên rồi dùng kéo cắt
đứt nó một cách cẩn thận. Khi cắt phúc mạc chú ý không cắt vào ruột.
- Tìm sừng tử cung và tìm buồng trứng: Buồng trứng của chó, mèo rất
nhỏ và được bọc kín trong loa kèn dày chắc, rất khó cảm nhận và phân biệt được
khi sờ nó trong xoang bụng. Vì vậy muốn tiếp cận được buồng trứng phải sờ tìm
từ sừng tử cung. Sừng tử cung có cấu trúc hình ống nhỏ, thẳng và nhợt màu hơn
ruột non, lần tay về phía đuôi con vật, gặp ngã ba tử cung, lần về phía đầu sẽ
gặp ống dẫn trứng và buồng trứng.
- Bộc lộ buồng trứng: Cả sừng tử cung, ống dẫn trừng và buồng trứng của
chó, mèo được màng treo cố định vào các đốt sống vùng hông. Vì vậy không
đưa buồng trứng và ống dẫn trứng ra ngoài được, chỉ có thể đưa nó ra vừa tới
chỗ mở cửa vào xoang bụng. Lấy panh kẹp mạch máu, kẹp ngang ống dẫn trứng
va loa kèn (dùng panh cong, kẹp chiều lõm hướng ra ngoài dễ thao tác hơn).
Dùng kim chỉ, khâu thắt các mạch máu trước khi cắt bỏ buồng trứng. Sau khi
cắt buồng trứng, lấy bông tẩm cồn iod 5% thấm vào vết cắt, kiểm tra nếu thấy
máu vẫn chảy phải thắt lại. Tiếp tục làm như vậy đối với buồng trứng còn lại.
- Đóng ổ bụng: Sau khi cắt bỏ 2 buồng trứng, đưa hết ruột, màng treo
ruột, sừng tử cung, dây chằng sừng tử cung vào trong xoang bụng, khâu phúc
mạc theo phương pháp khâu vắt. Vì phúc mạc của chó, mèo rất mỏng, nên khâu
cùng với cân mạc, các lớp cơ vùng bụng. Khi khâu chú ý không được khâu vào
ruột.
- Cho bột kìm khuẩn.
- Khâu da theo phương pháp khâu nút đơn.
- Sát trùng toàn bộ vết mổ bằng cồn iod 5%.
c. Hộ lý – chăm sóc
Ngoài việc tuân thủ các biện pháp hộ lý chăm sóc chung như giữ gìn vệ
sinh, thường xuyên theo dõi vết mổ cần tiêm kháng sinh để đề phòng nhiễm
trùng với liệu trình 3-5 ngày.
Thạch Văn Mạnh TYD-K55
50
1. Gây tê – Gây mê – Cầm máu
a. Gây tê :
- Cục bộ ức chế thần kinh
b. Gây mê :
- Toàn thân ức chế thần kinh.
c. Chọn thuốc
- Liều trúng độc và liều mê phải xa nhau
- Sau mê , tê , khi hết thuốc mê không ảnh hưởng đến chức phận cơ thể ( thần
kinh)
- Gây tê thấm và gây tê dẫn truyền mổ đâu gây tê đó.
A. Gây tê thấm
- Novocain liều lượng cao nhưng nồng độ thấp tránh trúng độc.
- VD : Gây tê dạ cỏ 200,300,500 ml nồng độc 0,25-0,5%...nhưng phải <1%
Tự điều chỉnh liều lượng
B. Gây tê dẫn truyền
- Novocain liều lượng thấp nhưng nồng độ cao
- Nồng độ 3-5%
- Liều =< 10ml
*** Duy nhất vá mũi trâu bò: tiêm Novocain 3% mặc dù gây tê thấm.
d. Cầm máu
- Nếu máu chảy thành dòng , màu nâu, thẫm máu tĩnh mạch
- Nếu máu chảy phun lên, đỏ tươi máu động mạch cầm liên tục.
Chảy máu nội tạng là nguy hiểm nhất.
- Cầm máu thấm ép = bông
- Nếu mạch quản to dùng panh kẹp.
- Nếu sừng chảy nhiều máu dùng nhiệt độ ( dùng dao nhiệt độ cao áp vào)
- Cầm máu toàn thân Vitamin K + tiêm them Canxi clorua
- Truyền máu trước khi mổ có tác dụng cầm máu vì có các enzyme, chất đông
máu.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
de_cuong_on_thi_het_hoc_phan_mon_ngoai_khoa_thu_y_thuc_hanh.pdf