Hàm ý chính sách
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trên, các
hàm ý chính sách sau đây được đề xuất:
Đối với chính phủ, bộ, ngành:
- Ban hành các chính sách thúc đẩy phát triển
ngành hàng nấm rơm trở thành ngành hàng quan
trọng cần hỗ trợ phát triển tại ĐBSCL.
- Xây dựng các chiến lược, đề án, chương
trình, dự án về phát triển ngành hàng nấm rơm
bên cạnh ngành hàng lúa gạo theo tinh thần Nghị
quyết 120/NQQ-CP ban hành năm 2017 về phát
triển ĐBSCL đến năm 2010 thích ứng với biến
đổi khí hậu.
- Bố trí vốn đầu tư theo các giai đoạn 2021-
2025, 2026-2030 cho các chương trình, dự án
về phát triển ngành hàng nấm rơm trong các các
chương trình MTQG như chương trình xây dựng
Nông thôn mới, chương trình Mỗi xã một sản
phẩm (OCOP).
Đối với các tỉnh, thành phố:
- Xây dựng các đề án phát triển ngành hàng
nấm rơm tại địa phương.
- Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác như
THT, HTX trong ngành hàng nấm rơm.
- Đầu tư phát triển các mô hình trồng nấm
triển vọng ứng dụng khoa học công nghệ.
- Đưa nấm rơm vào danh mục các sản phẩm
OCOP tiềm năng để đầu tư và phát triển.
Đối với các tổ chức nghiên cứu, viện, trường:
- Nghiên cứu tuyển chọn, phục tráng các
giống meo địa phương cho năng suất cao và chất
lượng tốt.
- Chuyển giao sản xuất meo nấm rơm và các
mô hình trồng nấm tiên tiến (trong nhà và ngoài
trời) đến tận cơ sở, địa bàn sản xuất.
- Nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới
từ nấm rơm có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
22 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề xuất cơ sở quy hoạch vùng trồng nấm rơm ở đồng bằng sông Cửu Long, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ghề nông thôn và đem lại nhiều kết quả.
Đến nay nấm rơm đã trở thành ngành hàng lớn ở
ĐBSCL. Nhiều tỉnh, thành đã phát triển rất mạnh
ngành hàng này như Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh
Long, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc
Trăng... Đã có nhiều tổ hợp tác (THT), hợp tác
xã (HTX), hộ trồng nấm rơm có quy mô lớn và
đạt hiệu quả kinh tế cao. Các công ty sản xuất
kinh doanh nấm ở ĐBSCL có nhiều phát triển và
đã xuất hiện sự liên kết giữa địa phương, vùng
trồng nấm rơm lớn ở ĐBSCL và thị trường tiêu
thụ lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Thực tế này đòi
hỏi sự cần thiết quy hoạch bố trí vùng trồng nấm
rơm nhằm tập trung nguồn lực đầu tư, chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất và tiêu thụ
nấm rơm. Hung và cs (2019) cho thấy các giống
Volvariella Volvacea thường được sử dụng vì nó
phát triển dễ dàng và có thời gian tăng trưởng
ngắn là 14 ngày. Loài này phát triển tốt ở nhiệt
độ khoảng 30-35°C trong giai đoạn phát triển của
sợi nấm, và khoảng 28-30°C trong giai đoạn sản
xuất thân quả. Các đầu vào chính cho sản xuất
nấm rơm là rơm rạ, meo, lao động, và nước tưới.
Sản xuất nấm ngoài trời là một mô hình trồng
nấm phổ biến ở ĐBSCL. Chi phí đầu tư thấp là
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
52
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
một lợi thế của mô hình trồng nấm này. Nó tạo
ra một sản lượng 0,8 kg nấm rơm trên mỗi 10 kg
rơm rạ và tạo ra lợi nhuận 1,7-2,0 triệu đồng/tấn
rơm. Mô hình sản xuất nấm rơm trong nhà ít phổ
biến hơn vì chi phí đầu tư cao hơn và cần kiểm
soát chặt chẽ các điều kiện trong nhà trồng nấm.
Mặt khác, nấm trong nhà cho năng suất khoảng
2 kg cao hơn cho mỗi 10 kg khô rơm.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của nghiên
cứu này là xây dựng quy hoạch vùng trồng nấm
rơm ở ĐBSCL nhằm khai thác lợi thế vùng
nguyên liệu và nâng cao giá trị cho người nông
dân trồng lúa nói chung và người trồng nấm nói
riêng. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: nghiên cứu
thực trạng và tiềm năng nguồn cung cấp rơm rạ,
xác định các mô hình trồng nấm rơm hiệu quả,
phân tích thị trường nấm rơm, và quy hoạch vùng
trồng nấm rơm ở ĐBSCL.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Khung nghiên cứu
Nghiên cứu này cung cấp cơ sở lý thuyết
và căn cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược phát
triển ngành hàng nấm rơm ở ĐBSCL trong thời
gian tới dựa trên việc xây dựng quy hoạch vùng
sản xuất nấm rơm nhằm khai thác lợi thế so sánh
của các địa phương trong vùng ĐBSCL, đặc biệt
là tài nguyên rơm rạ sử dụng cho sản xuất nấm
rơm. Cơ sở cho các thiết kế quy hoạch vùng sản
xuất nấm rơm là các điều kiện đầu vào (cung
rơm rạ), năng lực sản xuất nấm rơm, điều kiện thị
trường, và năng lực của các bên liên quan trong
chuỗi giá trị nấm rơm.
Hình 1. Khung nghiên cứu quy hoạch phát triển sản xuất nấm rơm ở ĐBSCL
Cung rơm rạ
Quy hoạch
vùng sản xuất
nấm rơm
ở ĐBSCL
Chiến lược
phát triển ngành
hàng nấm rơm
ở ĐBSCL
Sản xuất nấm rơm
Các yếu tố khác
- Thị trường
- Chuỗi giá trị
- ...
2.2. Thời gian và địa điểm thu thập số liệu
Nghiên cứu này dựa trên các số liệu từ hai
cuộc khảo sát: (i) hộ trồng lúa (người cung cấp
rơm, rạ) và (ii) người trồng nấm rơm. Cả hai cuộc
khảo sát này được tiến hành năm 2019. Đối với
mẫu hộ trồng lúa (người cung cấp rơm, rạ), khảo
sát được tiến hành tại 04 tỉnh: Kiên Giang, Đồng
Tháp, An Giang, Cần Thơ. Đối với mẫu hộ trồng
nấm rơm, khảo sát được tiến hành tại 02 tỉnh:
Đồng Tháp, Cần Thơ.
2.3. Phương pháp nghiên cứu và chọn
mẫu điều tra
Nghiên cứu sử dụng hai loại nghiên cứu là
nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng
để nghiên cứu về đặc điểm, tính chất của các tác
nhân và mối liên hệ giữa các tác nhân trong chuỗi
giá trị. Phương pháp nghiên cứu định lượng được
sử dụng trong phân tích, đánh giá về hoạt động
sản xuất và tiêu thụ nấm rơm.
2.3.1. Nghiên cứu định tính
Đối với nghiên cứu định tính, một bản hỏi
bán cấu trúc (phiếu hỏi người cung cấp thông
tin chính) với nội dung hỏi về thực trạng chuỗi
(quy mô, đặc điểm mua bán, hình thức tồn trữ,
vận chuyển, bảo quản, sơ chế, chế biến nấm rơm,
53
các kênh buôn bán, phân phối, mối liên hệ giữa
các tác nhân trong chuỗi. Đối tượng khảo sát là
các tác nhân trung gian như nhà cung cấp rơm rạ,
meo nấm, người thu gom, người sơ chế, chế biến,
buôn sỉ, buôn lẻ, các công ty sản xuất kinh doanh
nấm. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được
sử dụng tại 05 tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, An
Giang, Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh. Bảng
1 tóm tắt về thông tin chọn mẫu các tác nhân của
chuỗi giá trị nấm rơm ở ĐBSCL. Tổng số quan
sát là 318 gồm tác nhân đầu vào, đầu ra, nông
dân trồng nấm rơm và các tác nhân ngoài chuỗi
giá trị. Nông dân trồng nấm rơm được phỏng
vấn tại hai vùng trồng lớn nhất ở ĐBSCL là Cần
Thơ và Đồng Tháp. Các tác nhân còn lại được
phỏng vấn chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh và
Sóc Trăng (nhà chế biến và xuất khẩu nấm rơm)
theo kênh phân phối của nấm rơm.
Bảng 1. Thông tin chọn mẫu các tác nhân của chuỗi giá trị nấm rơm ở ĐBSCL
Địa bàn Tác nhân Cỡ mẫu
Phương pháp
chọn mẫu
1. Cần Thơ
1.1. Người trồng nấm rơm 60 Thuận tiện
1.2. Người bán lẻ (thị trường truyền thống và siêu thị) 5 Mạng quan hệ
1.3. Người tiêu dùng (cá nhân và tổ chức) 5 Thuận tiện
1.4. Tác nhân đầu vào (người cung cấp rơm, meo nấm rơm,
lao động), tác nhân đầu ra (người thu gom, người sơ chế và
công ty chế biến)
15 Mạng quan hệ
1.5. Các tác nhân ngoài chuỗi 2 Mạng quan hệ
2. Đồng
Tháp và
Sóc Trăng
2.1. Người trồng nấm rơm 150 Thuận tiện
2.2. Người bán lẻ (thị trường truyền thống và siêu thị) 5 Mạng quan hệ
2.3. Người tiêu dùng (cá nhân và tổ chức) 38 Mạng quan hệ
2.4. Tác nhân đầu vào (người cung cấp rơm, meo nấm rơm,
lao động), tác nhân đầu ra (người thu gom, người sơ chế và
công ty chế biến)
15 Mạng quan hệ
2.5. Các tác nhân ngoài chuỗi 3 Mạng quan hệ
3. Hồ Chí
Minh
3.1. Người buôn sỉ 2 Mạng quan hệ
3.2. Người bán lẻ (thị trường truyền thống và siêu thị) 13 Mạng quan hệ
3.3. Người tiêu dùng (cá nhân và tổ chức) 5 Mạng quan hệ
Tổng cộng 318
2.3.2. Nghiên cứu định lượng
Đối với nghiên cứu định lượng, hai bản hỏi
soạn sẵn và thiết kế bằng phần mềm Cspro với
nội dung hỏi về thực trạng quản lý rơm rạ dành
cho đáp viên là người trồng lúa và tình hình trồng
nấm rơm dành cho đáp viên là người trồng nấm
và được thu thập bằng máy tính bảng. Phương
pháp chọn mẫu của cả hai cuộc khảo sát đều là
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.
- Đối với hộ trồng lúa (người cung cấp rơm rạ):
Cỡ mẫu được xác định theo công thức
n = N(/1+Ne2); trong đó n=số quan sát mẫu, N: số
quan sát tổng thể, e: độ chính xác. Phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được sử dụng.
Tại mỗi tỉnh, một huyện sẽ được chọn để khảo sát,
gồm huyện Hòn Đất của tỉnh Kiên Giang, huyện
Đồng Tháp Mười của tỉnh Đồng Tháp, huyện Cờ
Đỏ của thành phố Cần Thơ, và huyện Châu Thành
của tỉnh An Giang. Kết quả là có 543 hộ trồng lúa
(người cung cấp rơm rạ) được khảo sát. Thông tin
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
54
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
được thu thập dựa trên bản hỏi được thiết kế sẵn.
Đáp viên được hỏi những câu hỏi về tình hình quản
lý rơm rạ, cách thức bán rơm rạ, giá bán rơm rạ,
những lựa chọn trong quản lý rơm rạ...
Bảng 2. Cơ cấu mẫu khảo sát hộ trồng lúa (người cung cấp rơm rạ)
Địa bàn Số hộ Tỷ trọng (%)
1. Huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang 78 14,36
- Xã Sơn Kiên 41 7,55
- Xã Mỹ Hiệp Sơn 37 6,81
2. Huyện Đồng Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp 143 26,34
- Xã Mỹ Đông 54 9,95
- Xã Mỹ Quý 89 16,39
3. Huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ 162 29,83
- Xã Thới Đông 75 13,81
- Xã Thạnh Phú 87 16,02
4. Huyện Châu Thành, tỉnh An Giang 160 29,47
- Xã Vĩnh Bình 72 13,26
- Xã Vĩnh An 88 16,21
Tổng cộng 543 100,00
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
- Đối với hộ trồng nấm rơm:
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên phân tầng để xác định địa bàn
chọn mẫu. Đầu tiên là xác định địa bàn trồng
nấm trọng điểm trên địa bàn hai tỉnh Cần Thơ và
Đồng Tháp - là hai địa phương có truyền thống
trồng nấm rơm lâu năm, diện tích trồng nấm rơm
lớn và đa dạng các mô hình trồng nấm rơm ngoài
trời. Tại Cần Thơ có hai quận Ô Môn và Bình
Thủy và tại Đồng Tháp
có huyện Lai Vung được
chọn để khảo sát. Tại
địa điểm khảo sát ở mỗi
quận, huyện tiến hành
chọn các địa bàn (xã,
phường) có tập trung
trồng nấm và chọn mẫu
theo phương pháp chọn
mẫu hệ thống với bước
nhảy k=2 để chọn hộ
tham gia khảo sát. Kết
quả là có 115 hộ trồng
nấm rơm tại hai tỉnh
Đồng Tháp và Cần Thơ. Tại Đồng Tháp có 50
hộ trồng nấm ở 03 xã Định Hòa, Phong Hòa,
Tân Hòa tại huyện Lai Vung được khảo sát. Tại
Cần Thơ có 65 hộ trồng nấm thuộc 02 phường
Long Hòa, Thới An Đông tại quận Bình Thủy
và 03 phường Phước Thới, Thới Hưng, Trung
Thành tại quận Ô Môn được khảo sát. Đây là
những địa phương trồng nhiều nấm rơm ở hai
tỉnh được chọn.
Bảng 3. Cơ cấu mẫu khảo sát hộ trồng nấm rơm
Tỉnh Huyện Xã Số hộ
Tỷ trọng
(%)
Cần Thơ
Bình Thuỷ Thới An Đông 19 16,52
Long Hoà 10 8,70
Cờ Đỏ Thới Hưng 16 13,91
Trung Thạnh 13 11,30
Đồng Tháp
Lai Vung Tân Hoà 20 17,39
Tân Thuận 13 11,30
Định Hoà 12 10,43
Phong Hoà 12 10,43
Tổng cộng 115 100,0
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
55
2.4. Phương pháp phân tích số liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích
thống kê mô tả như tần suất, số tỷ lệ, số trung
bình, độ lệch chuẩn, và phân tổ thống kê. Để suy
rộng thống kê, các kiểm định thống kê t-test được
sử dụng trong các phân tích, đánh giá.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Mô tả tính chất mẫu điều tra
3.1.1. Đối với hộ trồng lúa (cung cấp rơm rạ)
Đối với hộ trồng lúa (người cung cấp rơm,
rạ), phần lớn đáp viên là nam với độ tuổi trung
bình 51 tuổi, học vấn từ lớp 6-7, số thành viên
trong hộ bình quân từ 4-5 người/hộ, số lao động
bình quân từ 1-2 người/hộ, thu nhập bình quân
của hộ là 180 triệu đồng/năm/hộ, số năm kinh
nghiệm trong trồng lúa là 28 năm, 88% đáp viên
đã từng tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật sản
xuất, 50% đáp viên là thành viên của các tổ chức
nông dân, và 38% đáp viên có sử dụng tín dụng.
Bảng 4. Tính chất mẫu điều tra hộ trồng lúa (cung cấp rơm rạ)
Đặc điểm
Đơn vị
tính
Kiên
Giang
Đồng
Tháp
Cần Thơ An Giang Tổng P-value
Giới tính 0,000a
- Nam % 75,64 90,21 90,74 96,25 90,06
- Nữ % 24,36 9,79 9,26 3,75 9,94
Tuổi Năm 50,31 53,92 49,48 48,28 50,41 0,000b
Trình độ học vấn
Số năm đi
học
6,10 7,69 6,59 6,60 6,81 0,003b
Kinh nghiệm
trồng trọt
Năm 28,05 31,34 27,22 25,45 27,90 0,000b
Số thành viên trong
gia đình
Người 4,32 4,45 4,41 4,37 4,40 0,908b
Số thành viên trong
gia đình làm việc
đồng ruộng
Người 1,96 2,19 1,70 1,63 1,85 0,000b
Thu nhập của hộ
gia đình hàng năm
1.000
VND
201.322 212.692 143.505 175.043 179.323 0,001b
- Thu nhập của
hộ gia đình
từ trồng lúa
1.000
VND
177.732 181.189 120.048 145.674 151.986 0,001b
- Thu nhập của hộ
gia đình từ không
phải trồng lúa
1.000
VND
23.590 31.503 23.457 29.369 27.337 0,479b
Tham gia đào tạo
về nông nghiệp
% 87,18 93,01 85,19 86,25 87,85 0,168a
Thành viên của tổ
chức nông dân
% 28,21 65,03 51,85 45,63 50,09 0,000a
Tiếp cận tín dụng % 51,28 41,26 35,80 33,13 38,67 0,041a
Ghi chú: a Kiểm định chi-bình phương, b Kiểm định ANOVA.
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
56
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
3.1.2. Đối với hộ trồng nấm rơm
Đối với hộ trồng nấm rơm, phần lớn đáp
viên là nam (79%), tuổi trung bình là 42 tuổi,
học vấn từ lớp 7-8, số người bình quân trong hộ
là 4-5 người/hộ, diện tích trồng nấm rơm bình
quân là 1.200-1.300 m2, thu nhập bình quân là
234 triệu đồng/hộ/năm, 19% đáp viên có tham
gia các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng nấm rơm.
Có gần 50% hộ trồng nấm rơm thuê đất để trồng
nấm, 41% sử dụng đất nhà để trồng nấm và gần
10% mượn đất để trồng nấm rơm.
Bảng 5. Tính chất mẫu điều tra hộ trồng nấm rơm
Chỉ tiêu Thấp nhất Cao nhất Trung bình Độ lệch chuẩn
Tuổi của đáp viên 22 69 42,08 11,14
Trình độ học vấn
(năm học)
0 12 7,17 9,02
Số người trong hộ
(người)
2 8 4,30 1,14
Diện tích trồng nấm
rơm (m2)
200 6.000 1.284,65 1.137,40
Thu nhập của hộ
(1.000đ/năm)
120.000 1.000.000 233.618 187.485
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Bảng 6. Tính chất mẫu điều tra hộ trồng nấm
rơm (tiếp theo)
Chỉ tiêu Tỷ lệ (%)
Giới tính
Nam 79,1
Nữ 20,9
Dân tộc
Kinh 97,4
Khác 2,6
Có tham gia tập huấn kỹ thuật
trồng nấm rơm
19,1
Loại đất trồng nấm rơm
Đất nhà 40,9
Đất thuê 49,6
Đất mượn 9,5
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
3.2. Sản xuất và tiêu thụ nấm rơm
3.2.1. Nguồn cung ứng rơm rạ
Các hình thức quản lý rơm rạ ở ĐBSCL
bao gồm đốt cả rơm và gốc rạ, mang rơm ra
khỏi đồng và đốt gốc rạ, mang rơm ra khỏi
đồng và vùi gốc rạ, và vùi cả rơm và gốc rạ.
Đốt cả rơm và gốc rạ là phương thức chủ yếu
của vùng ĐBSCL, từ 44% trong vụ Thu Đông
đến 83% trong vụ Đông Xuân. Trong vụ Hè
Thu, 55% nông dân báo cáo rằng họ đốt cả
rơm và gốc rạ, tiếp đến là vùi cả rơm và gốc
rạ (37%). Chỉ một số ít nông dân mang rơm
ra khỏi đồng và đốt gốc rạ (0,92%). Trong vụ
Thu Đông, vùi cả rơm và gốc rạ là phương thức
hàng đầu, với 47%, kế đến là phương thức đốt
cả rơm và gốc rạ và phương thức mang rơm
ra khỏi đồng và vùi gốc rạ. Phương thức vùi
cả rơm và gốc rạ chiếm tỷ lệ cao trong vụ Hè
Thu và Thu Đông bởi vì có nhiều mưa trong
hai vụ mùa này dẫn đến rơm rạ bị ướt. Vì vậy,
nông dân không thể đốt nhiều rơm rạ trong hai
mùa này, đặc biệt là vụ Thu Đông. Trong vụ
Đông Xuân, phần lớn nông dân báo cáo rằng
họ đốt cả rơm và gốc rạ, chiếm 83%.
57
Bảng 7. Các phương thức quản lý rơm rạ theo mùa vụ
Phương thức
Hè Thu 2018 Thu Đông 2018
Đông Xuân
2018-2019
Số hộ % Số hộ % Số hộ %
Đốt cả rơm và gốc rạ 297 54,70 190 43,68 451 83,06
Mang rơm ra khỏi đồng và đốt
gốc rạ
5 0,92 4 0,92 5 0,92
Mang rơm ra khỏi đồng và vùi
gốc rạ
43 7,92 38 8,74 62 11,42
Vùi cả rơm và gốc rạ 198 36,46 203 46,67 25 4,60
Tổng cộng 543 100,00 435 100,00 543 100,00
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Các phương thức đem rơm rạ ra khỏi đồng
ruộng bao gồm: mang rơm ra khỏi đồng và đốt
gốc rạ, và mang rơm ra khỏi đồng và vùi gốc rạ.
Tỷ lệ nông dân mang rơm rạ ra khỏi đồng ruộng
là rất ít. Điều này là do thiếu người mua rơm rạ
và thời tiết bất lợi dẫn đến chất lượng rơm kém.
Bảng 8. Thực trạng mang rơm rạ ra khỏi đồng ruộng
Mang rơm rạ
ra khỏi đồng
Kiên Giang Đồng Tháp Cần Thơ An Giang Tổng
N % N % N % N % N %
Hè Thu (p-value = 0,011)
Không 66 84,62 126 88,11 149 91,98 154 96,25 495 91,16
Có 12 15,38 17 11,89 13 8,02 6 3,75 48 8,84
Thu Đông (p-value = 0,000)
Không 11 39,29 130 90,91 152 96,20 100 94,34 393 90,34
Có 17 60,71 13 9,09 6 3,80 6 5,66 42 9,66
Đông Xuân (p-value = 0,000)
Không 57 73,08 112 78,32 154 95,06 153 95,63 476 87,66
Có 21 26,92 31 21,68 8 4,94 7 4,38 67 12,34
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Trong số người nông dân mang rơm rạ ra
khỏi đồng ruộng, phần lớn mục đích của họ
là để bán rơm. Những nông dân khác đã sử
dụng rơm rạ để làm thức ăn gia súc, chất nền
để trồng nấm, chất nền để làm phân bón và
nguyện liệu che phủ cho cây trồng. Tỷ lệ nông
dân bán rơm trong vụ Đông Xuân cao hơn so
với các vụ mùa khác. Thời tiết thường nóng
vào vụ Đông Xuân, vì vậy rơm rạ khô ráo và
có thể bán được.
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
58
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Bảng 9. Mục đích của việc đem rơm rạ ra khỏi đồng ruộng
Mục đích
Hè Thu 2018 Thu Đông 2018
Đông Xuân
2018-2019
Số hộ % Số hộ % Số hộ %
Bán rơm rạ 41 85,42 35 83,33 58 86,57
Làm chất nền cho trồng nấm 2 4,17 2 4,76 2 2,99
Làm chất nền để ủ phân (compost) 1 2,08 1 2,38 1 1,49
Thức ăn gia súc 2 4,17 2 4,76 3 4,48
Nguyên liệu che phủ cho cây trồng 2 4,17 2 4,76 3 4,48
Tổng cộng 48 100,00 42 100,00 67 100,00
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Giá rơm rạ ở vụ Đông Xuân là cao hơn
so với các vụ mùa khác, với giá trung bình là
404,80 nghìn đồng/ha. Thời tiết thường nóng và
khô trong mùa này, vì vậy tỷ lệ rơm rạ khô ráo
là cao. Vì thế, vụ Đông-Xuân là vụ mùa thuận
lợi để bán rơm. Bên cạnh đó, giá rơm cũng khác
nhau giữa các tỉnh. Giá rơm rạ cao hơn ở tỉnh
Đồng Tháp, nhưng thấp hơn ở thành phố Cần
Thơ. Điều này là do điều kiện thời tiết tốt dẫn
đến rơm chất lượng tốt, cánh đồng của nông
dân ở gần vị trí thuận lợi (gần đường), thương
lái thu mua nhiều trong khu vực này.
Theo kết quả khảo sát 115 hộ trồng nấm rơm,
chi phí rơm là chi phí cao nhất khoảng 73% đến
79,7% trong các chi phí sản xuất nấm rơm. Vì
vậy chất lượng rơm rất quan trọng trong sản xuất
nấm rơm. Nếu rơm có chất lượng tốt sẽ cho năng
suất cao và chất lượng rơm không đảm bảo sẽ cho
năng suất thấp hoặc không có nấm để thu hoạch.
Tuy nhiên các hộ trồng nấm khó xác định chất
lượng rơm. Họ chỉ biết thông tin rơm từ những
thương lái bán rơm mà họ quen biết.
Bảng 10. Giá rơm rạ (1.000 đồng/ha) theo địa phương
Giá rơm rạ Tần suất (hộ) Thấp nhất Lớn nhất Trung bình
Hè Thu 2018
Kiên Giang 11 200,00 400,00 337,45
Đồng Tháp 14 309,00 700,00 457,57
Cần Thơ 11 154,00 308,64 241,09
An Giang 5 300,00 500,00 360,80
Tổng cộng 41 154,00 700,00 355,46
Thu Đông 2018
Kiên Giang 16 200,00 400,00 323,10
Đồng Tháp 10 386,00 700,00 454,50
Cần Thơ 4 154,00 386,00 267,87
An Giang 5 231,00 600,00 405,20
Tổng cộng 35 154,00 700,00 366,06
Đông Xuân 2018-2019
59
Kiên Giang 19 200,00 800,00 365,40
Đồng Tháp 28 270,00 771,60 471,89
Cần Thơ 6 193,00 300,00 225,92
An Giang 5 309,00 500,00 393,40
Tổng cộng 58 193,00 800,00 404,80
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
3.2.2. Nguồn cung cấp meo nấm rơm và các
yếu tố đầu vào
Về sử dụng meo nấm, trong số 115 nông hộ
sản xuất nấm rơm, có 95 nông hộ sử dụng meo
Thần Nông (chiếm 82,6%), kế đến là các loại meo
Hoàn Mỹ, Sài Gòn 8, Sài Gòn 4, Sài Gòn 5
Bảng 11. Các loại meo nấm được sử dụng để
trồng nấm rơm
Loại meo
Tần suất
(hộ)
Tỉ lệ
(%)
Thần nông 95 82,61
Sài Gòn 8 6,96
Hoàn Mỹ 5 4,35
4 Sài Gòn 2 1,74
5 Sài Gòn 2 1,74
Các loại meo khác 3 2,61
Tổng cộng 115 100,0
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nấm
rơm cũng có các loại dịch hại phổ biến trên nấm
như: bệnh nhiễm nấm mực, nấm gió, bệnh mốc
trứng cá, bệnh chết sợi, bệnh nhiễm nấm hoa
cúc, bệnh dộp nấm con, bệnh xì meo, bị sâu ăn
nấm, chuột, bọ mạt. Vì vậy, các nông hộ sử dụng
lượng nhỏ thuốc bảo vệ thực vật để trị các bệnh
về nấm. Theo số lượng khảo sát thực tế trên địa
bàn nghiên cứu, trong số 115 nông hộ chỉ có 22
nông hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (chiếm
19,1%). Người trồng nấm thường sử dụng phân
bón để xử lý rơm khi ủ và xử lý nền đất trước khi
trồng nấm. Các loại phân thường được sử dụng là
phân ure, vôi... Trong số 115 nông hộ có 58 hộ sử
dụng phân bón (chiếm 50,4%). Lượng phân bón
sử dụng trung bình là 12,8 kg/1.000m2.
3.2.3. Các mô hình trồng nấm rơm
Nấm rơm được trồng ở ĐBSCL bởi cả nông
dân trồng lúa và người chuyên trồng nấm. Một
số nông dân trồng lúa tận dụng rơm của chính
họ để sản xuất nấm. Những người chuyên trồng
nấm là những người nông dân trồng từ 6-7 vụ/
năm. Trồng nấm ngoài trời là mô hình được
trồng phổ biến hiện nay trong khi mô hình trồng
nấm trong nhà đang dần được phát triển. Trong
số 115 nông hộ có 47 nông hộ trồng nấm trên
đất nhà, chiếm 40,87%, số lượng nông hộ trồng
nấm trên đất thuê là 57 hộ, chiếm 49,57%, số
lượng nông hộ trồng nấm trên đất mượn là 11
hộ, chiếm 9,57%. Giá thuê đất trung bình là 12
triệu đồng/1.000m2/năm. Giá thuê đất trung bình
là 1,07 triệu đồng/1.000m2/vụ. Diện tích trồng
nấm rơm trung bình là 1.108m2/vụ.
Bảng 12. Đặc điểm đất trồng nấm rơm
(ĐVT: m2/hộ/vụ)
Diện tích (m2) Số hộ Thấp nhất Cao nhất Trung bình Độ lệch chuẩn
Đất nhà 47 5 2.000 844,79 473,72
Đất thuê 57 0 6.000 1.293,39 1,062,53
Đất mượn 11 400 3.600 1.295,45 885,57
Tổng 115 0 6.000 1.108,64 863,32
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
60
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Kết quả khảo sát cho thấy nấm rơm được
trồng nhiều vào mùa mưa (chủ yếu là khoảng
thời gian từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 12). Có
72,2% hộ trồng nấm rơm quanh năm và 27,8%
hộ chỉ trồng nấm rơm từ tận dụng rơm nhà sau
vụ lúa nên họ trồng theo mùa vụ.
Bảng 13. Mô hình và hình thức sản xuất
nấm rơm
Chỉ tiêu
Tần số
(hộ)
Tỉ lệ
(%)
+ Trồng nấm quanh năm 83 72,17
+ Trồng nấm theo thời vụ 32 27,83
Tổng cộng 115 100
Nguồn: Kết quả khảo sát (2019).
Phần lớn người trồng nấm sản xuất nhỏ,
thiếu tính hợp tác, và không tham gia nhiều các tổ
chức sản xuất tập thể. Trong số 115 nông hộ trồng
nấm rơm được khảo sát có gần 16% hộ trồng nấm
bị lỗ. Điều này cho thấy nông hộ trồng nấm gặp
nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất nấm rơm.
Chất lượng meo nấm có ảnh hưởng đến năng suất
nấm rơm. Theo số liệu khảo sát thì các nông hộ
mua meo nấm theo kinh nghiệm từ các vụ sản
xuất nấm rơm trước hoặc theo kinh nghiệm của
các nông hộ trồng xung quanh.
3.2.4. Hệ thống marketing các sản phẩm
nấm rơm
Nấm tươi là sản phẩm tiêu dùng ngay vì khó
bảo quản và để lâu. Các loại nấm qua chế biến
có thời gian sử dụng khác nhau tuỳ vào mức độ
sơ chế, chế biến. Phần lớn người trồng nấm là
hộ gia đình (bao gồm người trồng lúa và người
chuyên trồng nấm rơm) ở quy mô nhỏ và phân
tán. Trong khi đó tại nhiều địa phương ở ĐBSCL
đã hình thành các THT, HTX, công ty hoạt động
sản xuất và tiêu thụ nấm quy mô lớn hơn và tập
trung. Tuỳ thuộc vào đối tượng trồng nấm mà
nấm rơm sau khi được thu hoạch được bán ra thị
trường theo các kênh marketing khác nhau. Các
công ty và HTX có kênh bán hàng trực tiếp đến
các thị trường bán sỉ (như chợ Bình Điền ở thành
phố Hồ Chí Minh) hay xuất khẩu trực tiếp. Sản
phẩm tiêu thụ đa dạng bao gồm nấm tươi và cả
các loại nấm qua sơ chế, chế biến. Phần lớn các
công ty và HTX cũng là người thu gom nấm, sơ
chế và chế biến nấm. Do đó, trong thị trường tiêu
thụ nấm rơm, công ty sản xuất kinh doanh nấm và
HTX trồng nấm là hai tác nhân marketing quan
trọng bên cạnh các tác nhân marketing khác như
chợ đầu mối Bình Điền ở thành phố Hồ Chí Minh
hay chợ Thơm Rơm ở thành phố Cần Thơ. Trong
khi đó các hộ trồng nấm thường bán nấm tươi
thông qua người thu gom. Hệ thống marketing
này tồn tại từ rất lâu (cuối những năm 1980) và
hiện nay tiếp tục đóng vai trò quan trọng, không
thể thiếu trong toàn bộ hệ thống marketing nấm
rơm ở ĐBSCL.
3.2.5. Logistics
Hệ thống logistics của ngành hàng nấm rơm
hiện nay chưa đáp ứng tốt yêu cầu. Do hoạt động
trồng nấm rơm phần lớn ở cấp độ gia đình có
quy mô nhỏ và phân tán nên khâu yếu nhất trong
chuỗi là thu hoạch nấm tươi và vận chuyển nấm
tươi đến các khâu tiếp theo (tiêu thụ nấm tươi,
sơ chế, chế biến). Thời gian từ lúc thu hoạch cần
vận chuyển thường rất ngắn nhưng phương tiện
vận chuyển từ địa điểm trồng nấm đến địa điểm
tập trung nấm vẫn thô sơ, thủ công. Hệ thống,
thiết bị bảo quản nấm tươi ngay từ lúc thu hoạch
nấm vẫn thô sơ, thủ công và chưa có công đoạn
phân loại nào ở giai đoạn này. Trong khi đó, giá
trị của nấm phụ thuộc nhiều vào quá trình thu
hoạch, bảo quản, vận chuyển trong giai đoạn này.
Tiếp theo đó, việc vận chuyển, phân phối nấm
sau thu hoạch do các tác nhân marketing khác
đặc biệt là tác nhân người thu gom vẫn dựa vào
các phương thức vận chuyển, phương tiện vận
chuyển cũ, ít hiện đại.
3.3. Quy hoạch vùng trồng nấm rơm ở
ĐBSCL
3.3.1. Các căn cứ quy hoạch
Việc quy hoạch vùng trồng nấm rơm dựa
trên ba căn cứ: (i) khả năng đảm bảo nguồn cung
cấp rơm rạ, (ii) điều kiện, kỹ thuật trồng nấm rơm,
(iii) nguồn nước tưới.
Nguồn cung cấp rơm rạ: ĐBSCL là vùng
sản xuất lúa trọng điểm của nước. Nhiều tỉnh
61
sản xuất lúa từ 2-3 vụ/năm. Do đó nguồn cung
cấp rơm rạ cho trồng nấm dồi dào. Một số nơi
ở Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre, Kiên Giang, Sóc
Trăng chỉ sản xuất 1 vụ lúa trong năm với mô
hình lúa-tôm. Rơm rạ thu hoạch từ vùng lúa-tôm
thường không được sử dụng cho trồng nấm vì
năng suất nấm không cao so với rơm rạ ở những
vùng 2-3 vụ lúa. Tuy nhiên, điều này không là
rào cản lớn vì rơm có thể dễ dàng được vận
chuyển từ nơi khác đến hay từ các địa phương
lân cận với chi phí vận chuyển không phải là
vấn đề lớn. Nhìn chung nguồn cung cấp rơm rạ
cho trồng nấm rơm ở ĐBSCL là dồi dào. Hiện
nay ở nhiều nơi thói quen đốt rạ ngoài đồng của
nông dân còn phổ biến và rơm không được đem
ra khỏi ruộng lúa chiếm một tỷ lệ lớn, nếu thay
đổi phương thức này trong tương lai thì tiềm
năng rơm rạ thu hoạch là rất lớn. Theo Gadde
và cs (2009) hệ số thu hoạch rơm rạ là 0,75 và
theo ước tính sản lượng rơm rạ toàn vùng đạt
18-19 triệu tấn/năm.
Điều kiện, kỹ thuật trồng nấm: Các chương
trình đào tạo nghề nông thôn, tập huấn các mô
hình sản xuất nông nghiệp trong đó có mô hình
trồng nấm rơm được triển khai rất thành công
và rộng khắp các tỉnh ĐBSCL. Thông qua các
chương trình này nhiều năm qua người nông dân
ở ĐBSCL đã thường xuyên được tập huấn và
nâng cao kỹ thuật trồng nấm rơm làm cho năng
suất và hiệu quả trồng nấm ngày càng cải thiện.
Phần lớn mô hình trồng nấm ở ĐBSCL là mô
hình trồng nấm ngoài trời. Gần đây các mô hình
trồng nấm trong nhà được các công ty sản xuất
kinh doanh nấm rơm và các HTX, THT triển khai
nhiều do có năng suất cao hơn từ 20-30% so với
các mô hình trồng nấm ngoài trời.
Nguồn nước tưới: Nấm rơm đòi hỏi nước
ngọt để canh tác. Nước tưới cho nấm rơm
thường lấy từ sông, rạch. Một số nơi thiếu hoặc
không có nguồn nước ngọt tưới như trong mùa
khô thì người trồng nấm sử dụng nước ngầm
để tưới. Nhiều tỉnh ở ĐBSCL thường đối mặt
với tình trạng xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt
cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô nên
sự cạnh tranh sử dụng nước cho các loại cây
trồng làm cho hoạt động sản xuất nấm rơm ở
những địa phương đó không thuận lợi nhất là
trong mùa khô.
Căn cứ vào các yếu tố về quy mô diện tích
sản xuất lúa, tình trạng xâm nhập mặn, điều kiện
sản xuất, tài nguyên nước ngọt thì các tỉnh ở
ĐBSCL đều có điều kiện trồng nấm rơm; trong
đó có 10 tỉnh, thành (trừ ba tỉnh Cà Mau, Bến
Tre, Bạc Liêu) đáp ứng các yêu cầu xây dựng các
vùng sản xuất nấm rơm lớn. Phân tích về tình
hình quản lý rơm rạ ở ĐBSCL cho thấy rằng phần
lớn rơm rạ- nguồn nguyên liệu/giá thể chủ yếu để
trồng nấm rơm - dồi dào cho sản xuất nấm rơm ở
ĐBSCL hiện nay đang bị bỏ phí, đốt bỏ; chỉ có
chưa tới 10% rơm được mang ra khỏi ruộng cho
những mục đích khác (bao gồm cho sản xuất nấm
rơm, chăn nuôi bò). Năm 2019 theo ước tính
có khoảng 1,62 triệu tấn rơm rạ được thu gom
và sử dụng cho các mục đích khác, trong đó sản
lượng rơm rạ được sử dụng cho trồng nấm rơm
khoảng 810 ngàn tấn/năm1.
Bảng 14. Dự kiến sản lượng rơm rạ thu hoạch hàng năm ở ĐBSCL
TT Tỉnh
Diện tích
(ngàn ha)
Sản lượng lúa
(ngàn tấn)
Sản lượng
rơm ngoài
đồng#
(ngàn tấn)
Sản lượng
rơm thu
gom##
(ngàn tấn)
Sản lượng
rơm trồng
nấm@
(ngàn tấn)
ĐBSCL 4.107 24.442 18.331 1.620 810
1 Vĩnh Long 162 969 727 64 32
2 Đồng Tháp 520 3.328 2.496 221 110
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
62
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đồng Tháp và Cần Thơ và tách riêng số liệu của
các tỉnh còn lại.
Có ba phương án phát triển ngành hàng nấm
rơm ở ĐBSCL như dưới đây:
Phương án 1: Phương án thấp2
Phương án này đang là hiện trạng của ngành
hàng nấm rơm hiện nay. Theo Phương án 1, diện
tích trồng nấm rơm (quy đổi) hơn 6.620 ha với
sản lượng ước đạt gần 60.000 tấn (với năng suất
từ 1,6-2,0 kg/m2) tương ứng với tổng giá trị sản
xuất nấm tươi đạt gần 2.400 tỷ đồng/năm. Kết
quả thực hiện theo phương án này ước tính có
tính khả thi cao nhưng tốc độ tăng trưởng không
cao so với tiềm năng phát triển của ngành hàng.
3 An Giang 623 3.891 2.918 258 129
4 Cần Thơ 237 1.426 930 82 41
5 Hậu Giang 195 1.240 1.599 141 71
6 Sóc Trăng 352 2.132 2.102 186 93
7 Long An 511 2.803 2.102 186 93
8 Kiên Giang 728 4.260 1.070 95 47
9 Tiền Giang 201 1.257 943 83 42
10 Trà Vinh 223 1.259 944 83 42
11 Bạc Liêu 185 1,111 833 625 468
12 Cà Mau 117 531 398 35 18
13 Bến Tre 52 237 178 16 8
Ghi chú: # Hệ số quy đổi 1 tấn lúa = 0,75 tấn rơm rạ (Gadde 2009)
## Số liệu khảo sát 2019: tỷ lệ thu gom rơm rạ bình quân là 8,84%
@ Số liệu ước tính từ khảo sát 2019: 50%
Nguồn: Niên giám thống kê (2019).
3.3.2. Các phương án quy hoạch
Nhóm nghiên cứu chỉ điều tra người trồng
nấm tại hai tỉnh là Đồng Tháp và Cần Thơ, với
phương pháp chọn mẫu điều tra không được đề
cập rõ (có khả năng cao là chọn mẫu thuận tiện),
như vậy kết quả chỉ có thể sử dụng cho các hộ
nông dân đã điều tra, hoặc nếu mạnh dạn hơn
thì chỉ có thể suy rộng ra cho 2 tỉnh Đồng Tháp
và Cần Thơ. Ở đây nhóm tác giả lại suy rộng ra
cho cả ĐBSCL là không có cơ sở. Chỉ nên xây
dựng số liệu qui hoạch cho 2 tỉnh Đồng Tháp và
Cần Thơ, vì trong thời gian ngắn hơn, như chỉ
đến 2025 (thay vì đến 2030). Còn các tỉnh khác
thì chỉ dự kiến dựa vào các chỉ số dự báo của
Bảng 13. Giá trị sản xuất (giá năm 2019) ngành hàng nấm rơm tươi theo Phương án 1
STT Tỉnh
Sản lượng
rơm rạ
thu gom
(ngàn tấn)
Sản lượng
rơm rạ
trồng nấm
(ngàn tấn)
Diện tích
trồng nấm
rơm (ha)
Sản lượng
nấm rơm
tươi (tấn)
GTSX
nấm rơm
(tỷ đồng)
ĐBSCL 1.524 762 6.626 59.630 2.385
1 Vĩnh Long 64 32 279 2.513 101
2 Đồng Tháp 221 110 959 8.633 345
63
3 An Giang 258 129 1.122 10.094 404
4 Cần Thơ 82 41 357 3.216 129
5 Hậu Giang 141 71 614 5.530 221
6 Sóc Trăng 186 93 808 7.271 291
7 Long An 186 93 808 7.271 291
8 Kiên Giang 95 47 411 3.700 148
9 Tiền Giang 83 42 362 3.262 130
10 Trà Vinh 83 42 363 3.267 131
11 Bạc Liêu 74 37 320 2.881 115
12 Cà Mau 35 18 153 1.377 55
13 Bến Tre 16 8 68 614 25
Phương án 2: Phương án trung bình3
Phương án 2 là phương án có tốc độ tăng
trưởng vừa phải. Phương án 2 đòi hỏi tập trung
nhiều vào sự phát triển thị trường rơm rạ. Diện
tích trồng nấm rơm (quy đổi) gần 18.000 ha
với sản lượng ước đạt gần 162.000 tấn tương
ứng với tổng giá trị sản xuất đạt gần 6.500 tỷ
đồng/năm.
Bảng 14. Giá trị sản xuất (giá năm 2019) ngành hàng nấm rơm tươi theo Phương án 2
STT Tỉnh
Sản lượng
rơm rạ
thu gom
(ngàn tấn)
Sản lượng
rơm rạ
trồng nấm
(ngàn tấn)
Diện tích
trồng nấm
rơm (ha)
Sản lượng
nấm rơm
tươi (tấn)
GTSX
nấm rơm
(tỷ đồng)
ĐBSCL 3.448 2.069 17.988 161.890 6.476
1 Vĩnh Long 145 87 758 6.824 273
2 Đồng Tháp 499 299 2.604 23.437 937
3 An Giang 584 350 3.045 27.404 1.096
4 Cần Thơ 186 112 970 8.731 349
5 Hậu Giang 320 192 1.668 15.013 601
6 Sóc Trăng 420 252 2.193 19.741 790
7 Long An 420 252 2.193 19.741 790
8 Kiên Giang 214 128 1.116 10.046 402
9 Tiền Giang 189 113 984 8.856 354
10 Trà Vinh 189 113 986 8.870 355
11 Bạc Liêu 167 100 986 8.870 355
12 Cà Mau 80 48 869 7.822 313
13 Bến Tre 36 21 415 3.738 150
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
64
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Phương án 3: Phương án cao4
Phương án 3 là phương án có tốc độ tăng
trưởng cao. Phương án 3 đòi hỏi tập trung nhiều
vào phát triển thị trường rơm rạ và thị trường tiêu
thụ trong nước và xuất khẩu. Diện tích trồng nấm
rơm (quy đổi) gần 42.000 ha với sản lượng ước
đạt gần 378.000 tấn tương ứng với tổng giá trị
sản xuất đạt hơn 15.100 tỷ đồng/năm.
Bảng 15. Giá trị sản xuất (giá năm 2019) ngành hàng nấm rơm tươi theo Phương án 3
STT Tỉnh
Sản lượng
rơm rạ
thu gom
(ngàn tấn)
Sản lượng
rơm rạ
trồng nấm
(ngàn tấn)
Diện tích
trồng nấm
rơm (ha)
Sản lượng
nấm rơm tươi
(tấn)
GTSX
nấm rơm
(tỷ đồng)
ĐBSCL 6.895 4.827 41.972 377.744 15.110
1 Vĩnh Long 291 203 1.769 15.922 637
2 Đồng Tháp 998 699 6.076 54.687 2.187
3 An Giang 1.167 817 7.105 63.943 2.558
4 Cần Thơ 372 260 2.264 20.373 815
5 Hậu Giang 639 448 3.892 35.031 1.401
6 Sóc Trăng 841 589 5.118 46.062 1.842
7 Long An 841 589 5.118 46.062 1.842
8 Kiên Giang 428 300 2.605 23.441 938
9 Tiền Giang 377 264 2.296 20.663 827
10 Trà Vinh 378 264 2.300 20.696 828
11 Bạc Liêu 333 233 2.028 18.251 730
12 Cà Mau 159 111 969 8.722 349
13 Bến Tre 71 50 432 3.892 156
Trong ba phương án trên thì Phương án 2
với mức tăng trưởng khá cao (diện tích trồng
nấm rơm (quy đổi) gấp 2,7 lần so với Phương
án 1 (tương đương với mức hiện tại). Trong khi
đó theo Phương án 3 đòi hỏi có sự chuyển dịch
mạnh mẽ với diện tích trồng nấm rơm (quy đổi)
gấp 6,3 lần so với Phương án 1. Phương án 3 đòi
hỏi nhiều diện tích lúa được thu gom rơm rạ và
sự phát triển của ngành trồng nấm rơm nhanh
hơn (do đó sử dụng nhiều rơm rạ hơn) và cần có
nhiều giải pháp, chính sách quyết liệt hơn. Dựa
trên những phân tích kịch bản liên quan, Phương
án 2 là phương án chọn.
3.3.3. Phân vùng sản xuất nấm rơm
Dựa trên các căn cứ quy hoạch và bố trí
phân vùng sinh thái nông nghiệp của Bộ Xây
dựng5, vùng trồng nấm rơm tập trung ở ĐBSCL
được bố trí thành 03 vùng trồng nấm. Vùng I
bao gồm các khu vực không bị ảnh hưởng hoặc
ít ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và đủ nước ngọt
quanh năm cho trồng nấm rơm bao gồm các tỉnh
An Giang, Đồng Tháp, Long An, Hậu Giang,
Cần Thơ, Vĩnh Long. Vùng II bao gồm các khu
vực bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và là các
tỉnh ven biển bao gồm các tỉnh Sóc Trăng, Kiên
Giang, Tiền Giang, Trà Vinh. Vùng III bao gồm
các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre nơi chủ yếu
là mô hình lúa-tôm (Cà Mau, Bạc Liêu) và đang
65
có sự chuyển dịch khỏi lúa nhiều như Bến Tre.
Vùng I:
Sự phát triển ngành hàng nấm rơm ở Vùng
I được ưu tiên và xem như là đòn bẩy để phát
triển hơn nữa ngành hàng nấm rơm ở ĐBSCL.
Đến năm 2025 diện tích trồng nấm rơm đạt hơn
16.000 ha và đến năm 2030 đạt hơn 21.500 ha.
Sản lượng và giá trị sản xuất lần lượt đến năm
2025 là hơn 146 ngàn tấn và hơn 7.000 tỷ đồng;
đến năm 2030 là hơn 197 ngàn tấn và hơn 11.500
tỷ đồng (Phụ lục 3 và 4). Cơ sở của việc tính toán
số liệu? Có số liệu hoặc cơ sở nào để xác định
nhu cầu tiêu thụ nấm rơm theo thời gian, đến năm
2030 không? Số liệu dự báo chỉ nên đến 2025 và
đồng thời mô tả rõ về phương pháp tính và dự báo
các chỉ số tăng trưởng liên quan đến nấm rơm.
Định hướng phát triển Vùng I là khu vực
sản xuất nấm rơm tập trung của ĐBSCL bao gồm
ưu tiên phát triển các mô hình trồng nấm trong
nhà bên cạnh các mô hình trồng nấm ngoài trời,
phát triển hệ thống liên kết sản xuất-tiêu thụ giữa
nông dân với HTX, công ty, phát triển hệ thống
thị trường cung cấp rơm rạ (tại Đồng Tháp), phát
triển thị trường bán buôn (tại thành phố Cần Thơ).
Bảng 16. Diện tích trồng nấm rơm tại Vùng I (ha)
Tỉnh 2020 2021 2022 2023 2024 2025 2026 2027 2028 2029 2030
Vĩnh
Long
811 860 912 966 1.024 1.086 1.151 1.220 1.293 1.371 1.453
Đồng
Tháp
2.786 2.954 3.131 3.319 3.518 3.729 3.953 4.190 4.441 4.708 4.990
An
Giang
3.258 3.454 3.661 3.880 4.113 4.360 4.622 4.899 5.193 5.504 5.835
Cần
Thơ
1.038 1.100 1.166 1.236 1.310 1.389 1.472 1.561 1.654 1.754 1.859
Hậu
Giang
1.785 1.892 2.006 2.126 2.253 2.389 2.532 2.684 2.845 3.016 3.196
Long
An
2.347 2.488 2.637 2.795 2.963 3.141 3.329 3.529 3.741 3.965 4.203
Tổng
cộng
12.026 12.747 13.512 14.323 15.182 16.093 17.059 18.082 19.167 20.317 21.536
Tại Vùng I bố trí nhiều mô hình trồng nấm
rơm trong nhà nhằm cải tiến chất lượng sản phẩm
và năng cao năng suất nấm rơm. Phát triển các
mô hình THT, HTX; liên kết giữa người trồng
nấm riêng lẻ với THT, HTX; liên kết giữa các
tác nhân này với các công ty kinh doanh nấm lớn
trên địa bàn các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần
Thơ (và Sóc Trăng) để hình thành chuỗi cung ứng
nấm rơm hoàn chỉnh.
Vùng II:
Quy mô diện tích trồng nấm bố trí ở Vùng
II ít hơn Vùng I. Đến năm 2025 diện tích trồng
nấm rơm đạt hơn 7.500 ha và đến năm 2030
đạt hơn 10.000 ha. Sản lượng và giá trị sản
xuất lần lượt đến năm 2025 là hơn 68.000
ngàn tấn và hơn 3.300 tỷ đồng; đến năm 2030
là gần 93.000 ngàn tấn và hơn 5.400 tỷ đồng
(Phụ lục 3 và 4).
Định hướng các mô hình trồng nấm rơm
tại Vùng II là phát triển các mô hình trống nấm
rơm ngoài trời cùng với phát triển các mô hình
trồng nấm rơm trong nhà; phát triển hệ thống
liên kết sản xuất - tiêu thụ giữa nông dân với
HTX, công ty; kết nối với với các vùng trồng
nấm rơm chính trong Vùng I và Vùng III để
tạo ra hệ thống chuỗi cung ứng nấm rơm hoàn
chỉnh cho ĐBSCL.
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
66
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Bảng 17. Diện tích trồng nấm rơm Vùng II (ha)
Tỉnh 2020 2021 2022 2023 2024 2025 2026 2027 2028 2029 2030
Sóc
Trăng
2.347 2.488 2.637 2.795 2.963 3.141 3.329 3.529 3.741 3.965 4.203
Kiên
Giang
1.194 1.266 1.342 1.423 1.508 1.598 1.694 1.796 1.904 2.018 2.139
Tiền
Giang
1.053 1.116 1.183 1.254 1.329 1.409 1.493 1.583 1.678 1.779 1.885
Trà
Vinh
1.055 1.118 1.185 1.256 1.331 1.411 1.496 1.586 1.681 1.782 1.888
Tổng
cộng
5.649 5.988 6.347 6.728 7.131 7.559 8.013 8.494 9.003 9.543 10.116
Vùng III:
Đến năm 2025 diện tích trồng nấm rơm đạt
hơn 2.100 ha và đến năm 2030 đạt hơn 2.800 ha.
Sản lượng và giá trị sản xuất lần lượt đến năm
2025 là hơn 19.100 ngàn tấn và gần 930 tỷ đồng;
đến năm 2030 hơn 25.800 ngàn tấn và hơn 1.500
tỷ đồng (Phụ lục 3 và 4).
Định hướng các mô hình trồng nấm rơm tại
Vùng II chủ yếu là các mô hình trống nấm rơm
ngoài trời cùng với phát triển các mô hình trồng
nấm rơm trong nhà ở những nơi có điều kiện thích
hợp; phát triển hệ thống liên kết sản xuất-tiêu thụ
giữa nông dân với HTX, công ty; kết nối với với
các vùng trồng nấm rơm chính trong Vùng I và
Vùng II để tạo ra hệ thống chuỗi cung ứng nấm
rơm hoàn chỉnh cho ĐBSCL.
Bảng 18. Diện tích trồng nấm rơm Vùng III (ha)
Tỉnh 2020 2021 2022 2023 2024 2025 2026 2027 2028 2029 2030
Bạc
Liêu
930 986 1.045 1.108 1.174 1.244 1.319 1.398 1.482 1.571 1.665
Cà
Mau
444 471 499 529 561 595 630 668 708 751 796
Bến
Tre
198 210 223 236 250 265 281 298 316 335 355
Tổng
cộng
1.573 1.667 1.767 1.873 1.985 2.105 2.231 2.365 2.507 2.657 2.816
4. Nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn ngân sách nhà nước là phần quan
trọng đảm bảo cân đối cho tổng nhu cầu vốn đầu
tư. Nguồn vốn ngân sách bao gồm ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương và được
bố trí từ các chương trình MTQG, các chương
trình, dự án trọng điểm cấp nhà nước, cấp tỉnh.
Dự kiến nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm
khoảng 14-16% tổng nhu cầu vốn đầu tư.
Nguồn vốn tín dụng bao gồm tín dụng nhà
nước và tín dụng ngân hàng. Nguồn vốn tín dụng
nhà nước được dành cho các chương trình, dự án
đầu tư theo các chủ trương, chính sách của Nhà
nước, như thực hiện các dự án sử dụng công nghệ
sạch, bảo vệ môi trường, giải quyết việc làm, hỗ
trợ đào tạo. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng chủ
67
yếu là vốn tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn. Để quản lý sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn này, cần có sự phối hợp, tham
gia chặt chẽ giữa Ngân hàng với chính quyền,
các tổ chức chính trị xã hội của địa phương (đặc
biệt là vai trò của các hội như: Phụ nữ, Nông dân,
Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên). Nguồn vốn
này đáp ứng khoảng 43-47% nhu cầu vốn đầu tư.
Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp, HTX
là nguồn vốn chủ yếu đầu tư phát triển ngành
hàng nấm rơm. Nguồn vốn này đóng góp khoảng
18-22%% nhu cầu vốn đầu tư. Nguồn vốn trong
dân được huy động cho việc xây dựng, nhân
rộng, phát triển các mô hình sản xuất tiên tiến,
các kỹ thuật sản xuất tiên tiến do dân tự đầu tư
và phát triển. Nguồn vốn này đóng góp khoảng
14-16%% nhu cầu vốn đầu tư. Các nguồn vốn
khác (dự án ODA, NGO, ) được huy động để
phát triển ngành hàng nấm rơm. Dự kiến nguồn
vốn này đạt khoảng 4% nhu cầu vốn đầu tư.
Bảng 19. Nhu cầu vốn đầu tư để phát triển ngành hàng nấm rơm ĐBSCL (tỷ đồng)
TT Hạng mục đầu tư
Nguồn vốn
Tổng
cộng
Ngân
sách
Tín dụng
Doanh
nghiệp,
HTX
Dân Khác
Giai đoạn 2020-2025
1
Nghiên cứu, chuyển giao
công nghệ meo nấm
400 200 200
2
Tập huấn, đào tạo nghề nông
thôn
1.200 1.000 200
3
Phát triển các kỹ thuật, mô
hình trồng nấm rơm
21.500 3.000 8.000 4.000 6.000 500
4 Phát triển sản phẩm mới 8.500 1.000 5.000 2.000 500
5 Phát triển thị trường 6.700 500 5.000 1.000 200
Tổng cộng 38.300 5.700 18.000 7.000 6.000 1.600
Giai đoạn 2026-2030
1
Nghiên cứu, chuyển giao
công nghệ meo nấm
500 300 200
2
Tập huấn, đào tạo nghề
nông thôn
1.400 1.200 200
3
Phát triển các kỹ thuật, mô
hình trồng nấm rơm
27.700 4.000 10.000 5.000 8.000 700
4 Phát triển sản phẩm mới 16.000 2.000 8.000 5.000 1.000
5 Phát triển thị trường 8.200 1.000 5.000 2.000 200
Tổng cộng 53.800 8.500 23.000 12.000 8.000 2.300
5. Các giải pháp quy hoạch
5.1. Quy hoạch chuyển đổi chi tiết
Căn cứ định hướng quy hoạch chung, các
tỉnh tiến hành bố trí sản xuất nấm rơm cụ thể,
xây dựng kế hoạch sản xuất (diện tích trồng, mô
hình trồng...) tại từng khu vực trong tỉnh.
5.2. Tăng cường công tác khuyến nông,
đào tạo nghề
- Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ công tác khuyến nông, tập huấn, đào tạo nghề
trồng nấm rơm. Triển khai các chương trình, dự
án về nấm rơm.
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
68
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và
khoa học công nghệ thông qua các chương trình
khuyến nông. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
vận động người dân tham gia các lớp tập huấn,
đào tạo nghệ nông thôn đối với các mô hình trồng
nấm rơm hiệu quả tại địa phương.
5.3. Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Tăng cường phổ biến thông tin khoa học kỹ
thuật, thông tin kinh tế thị trường đến người dân.
- Cùng với xây dựng mô hình, tiến hành
tổng kết nhân rộng, tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ trong việc áp dụng các thành tựu khoa học
và công nghệ.
- Nghiên cứu phát triển các sản phẩm từ
nấm rơm như nấm tiệt trùng, nấm đóng họp, gia
vị từ nấm
5.4. Phát triển hệ thống dịch vụ cung cấp
đầu vào và đầu ra sản phẩm
- Phát triển hệ thống chợ đầu mối cung cấp
rơm rạ như mô hình chợ rơm rạ ở Đồng Tháp tại
từng cụm tỉnh, thành.
- Phát triển hệ thống chợ bán buôn, đấu giá
sản phẩm như mô hình chợ Thơm Rơm ở thành
phố Cần Thơ tại từng cụm tỉnh, thành.
5.5. Tăng cường công tác giống
- Nghiên cứu phân lập, phục tráng các giống
meo tốt, phù hợp với điều kiện sản xuất tại chỗ.
- Chuyển giao các mô hình sản xuất meo
từ các cơ sở nghiên cứu, viện, trường trên từng
vùng sản xuất nấm.
- Huy động các nguồn lực bên ngoài cùng
với Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất,
hỗ trợ meo giống cho nông dân
5.6. Đầu tư hạ tầng kỹ thuật
- Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án
giao thông trọng điểm vùng ĐBSCL nhằm tăng
cường năng lực vận chuyển, logistics.
- Đầu tư các phương tiện, trang thiết bị hiện
đại trong các khâu bảo quản nấm tươi, meo nấm,
vận chuyển, sơ chế.
5.7. Tăng cường công tác thông tin thị
trường
- Xây dựng mạng lưới thông tin thị trường từ
tỉnh xuống huyện, xã; theo dõi, cập nhật thông tin
thường xuyên về giá cả cho nông dân. Hệ thống
khuyến nông cung cấp thông tin thị trường đến
trực tiếp người nông dân.
- Xây dựng thương hiệu nấm rơm tại các
địa phương có truyền thống trồng nấm rơm, kết
hợp với các chương trình MTQG Mỗi xã một
sản phẩm của các tỉnh để phát triển câc sản phẩm
OCOP nấm rơm đặc sắc của từng địa phương như
“nấm rơm Lai Vung - Đồng Tháp”, “nấm rơm
Ngã Năm-Sóc Trăng”
5.8. Cải thiện quan hệ sản xuất và hình
thức tổ chức sản xuất nhằm phát triển kinh
tế hợp tác, HTX, kinh tế trang trại
- Xây dựng các mô hình liên kết sản xuất
giữa nông dân với HTX, giữa nông dân với công
ty, giữa HTX với công ty.
- Tiếp tục triển khai nhân rộng các mô hình
THT, HTX đã thành công.
6. Kết luận và hàm ý chính sách
6.1. Kết luận
ĐBSCL là vùng sản xuất lúa quan trọng của
cả nước với trữ lượng rơm rạ rất lớn đủ cho nhu
cầu trồng nấm rơm. Người trồng nấm rơm đã áp
dụng nhiều mô hình sản xuất nấm rơm cả trồng
nấm ngoài trời và trồng nấm trong nhà. Năng
suất nấm luôn được cải thiện theo thời gian.
Tuy nhiên, đến nay các kỹ thuật trồng nấm vẫn
còn nhiều điều cần cải thiện (về thu hoạch rơm,
meo nấm, sử đụng thuốc bảo vệ thực vật, khâu
thu hoạch, bảo quản, vận chuyển, sơ chế, chế
biến) để tiến tới một nền sản xuất nấm rơm quy
mô lớn và đem lại giá trị gia tăng nhiều hơn. Thị
trường nấm rơm có nhiều triển vọng và có tiềm
69
năng lớn trong tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Hiện nay đã hình thành các khu vực sản xuất
nấm tập trung tại các tỉnh như Đồng Tháp, Cần
Thơ, Vĩnh Long, An Giang... Tại ĐBSCL đã xuất
hiện xu hướng liên kết giữa người trồng nấm với
HTX, công ty sản xuất kinh doanh nấm. Các thị
trường bán buôn, chợ đầu mối cung cấp rơm rạ
đã xuất hiện như ở Đồng Tháp và chợ bán buôn,
đấu giá sản phẩm nấm tươi tại Cần Thơ cho thấy
có những chuyển biến tích cực và sự năng động
của thị trường nấm rơm ở ĐBSCL.
Theo phương án quy hoạch vùng trồng
nấm rơm, ĐBSCL có ba vùng sản xuất nấm
rơm là: (i) Vùng I bao gồm các tỉnh An Giang,
Đồng Tháp, Long An, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh
Long; (ii) Vùng II bao gồm các tỉnh ven biển
bao gồm các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Tiền
Giang, Trà Vinh; (iii) Vùng III bao gồm các tỉnh
Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre. Vùng I được bố trí
là vùng trồng nấm rơm quan trọng của ĐBSCL
có tác động đầu tàu trong khi vùng II và vùng III
là các khu vực trồng nấm rơm kết nối, nhận tác
động lan tỏa cho toàn vùng. Đến năm 2025 tổng
diện tích trồng nấm rơm quy đổi tại Vùng I, II,
III lần lượt là 16.000 ha, 7.500 ha, và 2.100 ha.
Đến năm 2030 tổng diện tích trồng nấm rơm quy
đổi tại Vùng I, II, III lần lượt là 21.500 ha, 10.000
ha, và 2.800 ha. Dự kiến đến năm 2025 sản lượng
và giá trị sản lượng nấm rơm ở ĐBSCL lần lượt
đạt hơn 215.000 tấn và hơn 10.400 tỷ đồng; đến
năm 2030 sản lượng và giá trị sản lượng nấm
rơm ở ĐBSCL lần lượt đạt hơn 290.500 tấn và
gần 17.000 tỷ đồng.
6.2. Hàm ý chính sách
Dựa trên các kết quả nghiên cứu trên, các
hàm ý chính sách sau đây được đề xuất:
Đối với chính phủ, bộ, ngành:
- Ban hành các chính sách thúc đẩy phát triển
ngành hàng nấm rơm trở thành ngành hàng quan
trọng cần hỗ trợ phát triển tại ĐBSCL.
- Xây dựng các chiến lược, đề án, chương
trình, dự án về phát triển ngành hàng nấm rơm
bên cạnh ngành hàng lúa gạo theo tinh thần Nghị
quyết 120/NQQ-CP ban hành năm 2017 về phát
triển ĐBSCL đến năm 2010 thích ứng với biến
đổi khí hậu.
- Bố trí vốn đầu tư theo các giai đoạn 2021-
2025, 2026-2030 cho các chương trình, dự án
về phát triển ngành hàng nấm rơm trong các các
chương trình MTQG như chương trình xây dựng
Nông thôn mới, chương trình Mỗi xã một sản
phẩm (OCOP).
Đối với các tỉnh, thành phố:
- Xây dựng các đề án phát triển ngành hàng
nấm rơm tại địa phương.
- Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác như
THT, HTX trong ngành hàng nấm rơm.
- Đầu tư phát triển các mô hình trồng nấm
triển vọng ứng dụng khoa học công nghệ.
- Đưa nấm rơm vào danh mục các sản phẩm
OCOP tiềm năng để đầu tư và phát triển.
Đối với các tổ chức nghiên cứu, viện, trường:
- Nghiên cứu tuyển chọn, phục tráng các
giống meo địa phương cho năng suất cao và chất
lượng tốt.
- Chuyển giao sản xuất meo nấm rơm và các
mô hình trồng nấm tiên tiến (trong nhà và ngoài
trời) đến tận cơ sở, địa bàn sản xuất.
- Nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới
từ nấm rơm có hàm lượng giá trị gia tăng cao.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu được hỗ trợ kinh
phí từ Chương trình Khoa học và Công nghệ phục
vụ phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ (mã
số Chương trình: KHCN-TNB/14-19), mã số đề
tài: KHCN-TNB.ĐT/14-19/C09).
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 1, 2021, 49-70
70
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tài liệu tham khảo
Dobermann A. and Fairhurst T.H.,( 2002).
Rice straw management. Better Crops
International. 16 (Special Supplement): 7-9.
ESCAP-CSAM (2018). Status of straw
management in Asia-Pacific and options
for integrated straw management (Report
and Analysis). 46.
Gadde, B., Bonnet S., Menke C., and Garivait
S., (2009). Air pollutant emissions from
rice straw open field burning in India,
Thailand and the Philippines. Environmental
Pollution, 157: 1554-1558.
Hien, P.H. 2017. Utilization of rice straw in
the world and in Vietnam. Journal of
Agricultural Science and Technology, 6:
16-31.
Nam, T.S., Nhu N.T.H., Chiem N.H., and Ngan
N.V.C., (2014). To quantify the seasonal
rice straw and its use in diff erent provinces
in the Vietnamese Mekong Delta. Can Tho
University Journal of Science, 32: 87-93.
Van, N.P.H,. NGA T.T., Arai H., Hosen Y.,
Chiem N.H., and Inubushi K., (2014). Rice
straw management by farmers in a triple
rice production system in the Mekong
Delta, Vietnam. Tropical Agriculture and
Development, 58(4): 155-162.
Hung N, Monet C, Maria V, Reianne Quilloy,
Carlito B, and Martin (2019). Rice Straw
Overview: Availability, Properties and
Management Practices. Sustainable Rice
Straw Management. Springer. 1-14.
Ghi chú:
1 Kết quả khảo sát (2019) các tác nhân thu mua và
phân phối rơm cho thấy khoảng 50% rơm được bán
cho người trồng nấm rơm.
2 Theo Phương án 1: tỷ lệ thu gom rơm rạ là 8,5%, tỷ
lệ sử dụng rơm rạ cho trồng nấm rơm là 50%.
3 Theo Phương án 2: tỷ lệ thu gom rơm rạ là 20%, tỷ
lệ sử dụng rơm rạ cho trồng nấm rơm là 60%.
4 Theo Phương án 3: tỷ lệ thu gom rơm rạ là 40%, tỷ
lệ sử dụng rơm rạ cho trồng nấm rơm là 70%.
5 Theo Nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017 về phát triển
ĐBSCL thích ứng với BĐKH, toàn vùng ĐBSCL có
06 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
de_xuat_co_so_quy_hoach_vung_trong_nam_rom_o_dong_bang_song.pdf