Nhìn chung, khuê tảo có khả năng kháng cự và
mau phục hồi với sự xáo trộn của môi trường cao hơn
so với tảo lục và vi khuẩn lam bởi vì chúng có khả
năng phục hồi, sản sinh ra sản lượng lớn, thời gian
tạo ra thế hệ mới ngắn, kích thước nhỏ [29]. Các quần
xã khuê tảo bám có khả năng thích ứng nhanh, hơn là
chống chịu với lũ, và thường có khả năng tạo thành
những tập đoàn hay phân bố rời rạc để dễ thích ứng
với môi trường [20]. Khi gặp môi trường thuận lợi,
chúng sẽ phát triển nhanh, mang lại sinh khối lớn,
nhưng nếu gặp môi trường bất lợi thì chúng chỉ có thể
tồn tại trong một thời gian rất ngắn và chết, lưu lại
các mảnh vỏ hóa thạch theo thời gian.
Nếu xem cả đoạn trầm tích trong lõi TLS 1 được
hình thành trong thời gian ngắn và diễn ra gần đây thì
sự dao động lớn về mật độ và thành phần loài khuê
tảo hóa thạch, thậm chí xác định không có mảnh vỏ
khuê tảo ở các độ sâu khác nhau (54–58, 78–82, 90-
106 và 114–122 cm) cho thấy trong giai đoạn mà môi
trường ở vị trí này có ảnh hưởng lũ đến từ sông
Mekong thì vẫn có những xáo trộn nhất định đã xảy
ra. Giả thiết đặt ra có thể là diễn biến và quy mô lũ
không đều, và thậm chí có những đợt lũ quét cục bộ
mang vật liệu trầm tích đến từ các vùng địa hình cao–
thường khô hạn, gây lắng đọng và gián đoạn sự hiện
diện của nhóm phiêu sinh, vốn cần có cho môi trường
nước được duy trì khá thường xuyên.
13 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Diễn biến môi trường cận đại qua phổ khuê tảo hóa thạch tại Hồ Tonle Sap, Campuchia, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 20, SOÁ T5 - 2017
Trang 5
Diễn biến môi trường cận đại qua phổ khuê tảo
hóa thạch tại Hồ Tonle Sap, Campuchia
Nguyễn Thị Gia Hằng
Lê Xuân Thuyên
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 13 tháng 12 năm 2016, nhận đăng ngày 24 tháng 03 năm 2017)
TÓM TẮT
Hồ Tonle Sap (“Biển Hồ”, Campuchia) là hồ
chứa nước ngọt. Kích thước hồ thay đổi mạnh theo
chế độ gió mùa qua sự liên thông với dòng chảy sông
Mekong, đặc biệt là lũ. Lũ trên Biển Hồ ảnh hưởng
rất rõ đến đặc trưng hệ sinh thái hồ nói chung và
quần xã khuê tảo nói riêng. Mục tiêu của nghiên cứu
này là đánh giá ảnh hưởng của lũ đến quần xã khuê
tảo diễn biến theo thời gian. Hai lõi trầm tích đã
được thu cách bề mặt nền đất hồ có độ sâu lần lượt là
1,54 m và 1,27 m vào tháng 5 năm 2013 và 2015 và
một lõi trầm tích được thu ngay ngã ba sông Mekong
và sông Tonle Sap với độ sâu 1,68 m (05/ 2013). Tuổi
tương đối của trầm tích được xác định bằng phương
pháp phân tích đồng vị phóng xạ 210Pb và 137Cs.
Đánh giá độ đa dạng của quần xã khuê tảo hóa thạch
lưu giữ trong nền trầm tích thông qua chỉ số phong
phú Rarefaction (ES) và đa dạng loài (Hill's N2). Kết
quả cho thấy có 70 loài khuê tảo hóa thạch được tìm
thấy trong 3 lõi trầm tích và độ đa dạng quần xã khuê
tảo thay đổi rất rõ theo chế độ lũ (p-value =
0,0045***). Đặc biệt trong đó có 6 loài khuê tảo có
độ phong phú tương đối cao nhất (>1 %):
Aulacoseira distans, Aulacoseira granulata,
Aulacoseira granulata var. angustissima, Gyrosigma
acuminatum, Gyrosigma attenuatum và Paralia
sulcata. Sáu loài khuê tảo này có đời sống phiêu sinh
và sống bám trong môi trường nghèo đến giàu chất
dinh dưỡng; trong đó, hai loài Aulacosira granulata
và A. granulata var. angustissima ưa thích trong môi
trường có hàm lượng chất lơ lửng cao. Qua đó, nhận
thấy sự xuất hiện lũ đã ảnh hưởng rất lớn đến cấu
trúc quần xã khuê tảo nói riêng và sinh vật nói chung,
cũng như môi trường hồ Tonle Sap đã bị thay đổi rất
mạnh và có liên quan đến sự thay đổi chế độ thủy văn
nơi đây.
Từ khóa: Hồ Tonle Sap, khuê tảo hóa thạch, nhịp lũ
MỞ ĐẦU
Hồ Tonle Sap (TLS) hay còn gọi là Biển Hồ
được hình thành từ nền đất bằng phẳng của
Campuchia cách đây khoảng 5.700 năm [1], nhưng
các nghiên cứu gần đây cho thấy lịch sử hình thành
hồ TLS đã trải qua nhiều giai đoạn phức tạp và có thể
hình thành trong thời gian muộn hơn [2, 3]. Hồ TLS
là một hồ chứa nước ngọt lớn tại khu vực Đông Nam
Á và nối liền với sông Mekong thông qua sông Tonle
Sap (Hình 1). Trong suốt mùa khô (từ tháng 11 đến
tháng 4), dòng chảy theo hướng từ hồ đổ qua sông
TLS vào sông Mekong. Trong suốt những tháng mùa
mưa (tháng 5 đến tháng 10) khi gió mùa Tây Nam
mang nhiều hơi ẩm gây mưa toàn lưu vực, lưu lượng
nước dâng cao ngay từ ngã ba sông dẫn đến dòng
chảy bị đảo ngược; nước lũ từ sông Mekong chảy qua
sông TLS đổ vào hồ. Nhịp lũ hàng năm tạo nên sự co
dãn lưu vực nước trong hồ. Tương ứng là mực nước
sâu trung bình tăng từ 1–2 m trong mùa khô đến hơn
10 m trong giai đoạn đỉnh lũ, và diện tích của hồ tăng
gấp 5 lần, từ 2.500–3.000 km2 đến hơn 15.000 km2
[3].
Science & Technology Development, Vol 5, No.T20-2017
Trang 6
Thực tế cho thấy nhịp lũ từ sông Mekong đã giúp
đẩy năng suất sơ cấp trong Biển Hồ tăng cao. Năng
suất sinh học gia tăng là nhờ vào hoạt động của nhịp
lũ hàng năm. Điều này có liên quan đến các đặc điểm
như: (1) lũ đến sớm và kéo dài; (2) dòng chảy của lũ
giúp vận chuyển ấu trùng và con non của cá từ sông
Tonle Sap vào hồ; (3) đỉnh lũ ngập tràn cả diện tích
của hồ; (4) hệ thực vật sống trong những vùng đất
ngập nước giúp vận chuyển liên tục các chất dinh
dưỡng; (5) lượng trầm tích và hàm lượng các chất
dinh dưỡng liên tục đi vào hồ do dòng chảy của lũ
mang vào hồ. [1]
Những nghiên cứu cổ sinh thái trước đây về hồ Tonle
Sap
Môi trường cổ của hồ TLS đã được nghiên cứu,
khảo sát vào những năm 1960. Mười chín lõi trầm
tích đã được thu từ hồ và phân tích các đặc điểm lý-
hóa tính trong đất bao gồm: cấp hạt, hàm lượng nước
trong đất, hàm lượng sắt và khoáng chất [1]. Người ta
đã xác định trong đáy hồ gồm có: một “lớp bùn trẻ”
mà Carbonnel cho là sự lắng đọng trong điều kiện
môi trường cận đại, và ở bên dưới lớp bùn trẻ này là
một “lớp bùn cổ” đã tồn tại từ lâu trong những điều
kiện môi trường khác nhau [1]. Lớp bùn cổ này là lớp
trầm tích lót đáy hồ và có thể tương đương về địa
tầng với phù sa cổ được mô tả trong nhiều vật liệu địa
chất trong khu vực. Sau này, Penny còn tìm thấy phấn
hoa của loài Đước (Rhizophora spp.) và một loài
khuê tảo nước lợ Thalassiosira bramaputrae (Her.)
Hak. & Lock trong trầm tích “lớp bùn trẻ” ở hồ TLS
[2]. Penny đã suy luận rằng sự hiện diện của loài
phấn hoa đó chứng tỏ có ảnh hưởng của xâm nhập
mặn trong quá khứ theo sông Mekong tới phạm vi
Biển Hồ [2].
Trong nghiên cứu gần đây [3, 4] thì bề dày "lớp
bùn trẻ" này có nơi khá dày, khi chúng bồi phủ lấp
các thung lũng sông cổ khá sâu được phát hiện thấy ở
một số nơi dưới đáy hồ. Đồng thời các tác giả cũng
tách ra được từ “lớp bùn trẻ” gồm 2 lớp phụ. Lớp trên
dày khoảng 1 mét là trầm tích hồ có chịu ảnh hưởng
lũ từ sông Mekong, và bên dưới là lớp trầm tích hồ
không có tác động của lũ. Các nghiên cứu về phấn
hoa, thành phần vật chất trong trầm tích của Day và
cs. [1], Penny [2], Fukomoto [4] cho thấy: “lớp bùn
trẻ” gồm 2 tầng trầm tích gọi là trầm tích hồ có màu
xám xanh không ảnh hưởng lũ, và phủ lên trên là tầng
trầm tích hồ có màu xám nâu hình thành trong điều
kiện có ảnh hưởng lũ từ sông Mekong.
Lũ là một trong những yếu tố sinh thái vô sinh
góp phần gây xáo trộn các quần xã sinh vật bám ở
sông. Sự xáo trộn cực mạnh gây ra do hiện tượng lũ
quét thường ít xảy ra ở các con sông và sự truyền lũ
khi đến hạ nguồn thường bị giảm. Trong các nhóm
sinh vật bám thì khuê tảo là những loài vi tảo được
tìm thấy bất kỳ nơi nào độ ẩm cao, và mỗi loài trong
quần xã của chúng có đời sống phát triển riêng biệt,
phụ thuộc vào từng đặc điểm môi trường hóa lý khác
nhau [5]. Khuê tảo là công cụ minh chứng tuyệt vời
để tìm hiểu những điều kiện sống của cổ sinh nhờ sự
phong phú về số lượng cá thể cũng như thành phần
loài của chúng trong nền trầm tích, cùng với khả năng
đáp ứng với sự thay đổi của môi trường. Do đó, khuê
tảo thường được sử dụng như sinh vật chỉ dẫn cho sự
thay đổi môi trường về cổ sinh trong các thủy vực hồ
[2].
Thành phần loài và độ phong phú của quần xã tảo
bám sống trong môi trường thủy sinh đều bị ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố tương tác với nhau như hóa
tính nước, ánh sáng, nhiệt độ, tốc độ dòng chảy, kiểu
đài vật và con mồi [6]. Trong những yếu tố trên thì
dòng chảy thường là một yếu tố vật lý ảnh hưởng
mạnh nhất đến quần xã khuê tảo [7]. Sự xáo trộn do
lũ tạo nên sự thay đổi lớn trong hệ sinh thái thủy sinh,
phát sinh đời sống không đồng đều, kiểu hình và
những động thái của sinh vật [8]. Lũ có thể làm thay
đổi sự chuyển hóa hay sự trao đổi các vật chất trong
hệ sinh thái và làm giảm sinh khối tảo bám ở sông
[9]. Trong trường hợp quần xã sinh vật còn sống sót
sau khi môi trường bị xáo trộn mạnh thì chúng có thể
khôi phục lại ngay lập tức. Điều này có thể được xem
như là sự phối hợp giữa các nhóm loài về khả năng
chống lại sự xáo trộn và sự co dãn trong hệ sinh thái
ở sông [10]. Tần suất xuất hiện và cường độ của lũ đã
ảnh hưởng lên quần xã tảo bám, điều này đã thể hiện
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 20, SOÁ T5 - 2017
Trang 7
qua sự nhập cư hay xuất cư của một vài nhóm tảo,
hay sự sản sinh cũng như sự phân bố của các nhóm
loài trong quần xã cùng với chiến lược phát triển và
bám của mỗi loài [10].
Mục đích nghiên cứu này là tìm hiểu diễn biến
của môi trường thông qua khuê tảo hóa thạch để xem
xét hồ TLS có bị ảnh hưởng bởi lũ hay không? Để
thực hiện mục tiêu này, chúng tôi đã tập trung phân
tích, đánh giá mật độ và độ đa dạng của quần xã khuê
tảo diễn biến theo thời gian trong 3 lõi trầm tích: 2 lõi
được thu trong hồ và 1 lõi được thu ngay tại nơi sông
Tonle Sap đổ vào hồ.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vị trí nghiên cứu
Hồ Tonle Sap (Cambodia) đã được chọn làm vị
trí nghiên cứu. Để kết hợp đối sánh các kết quả
nghiên cứu trước đây trong hồ, chúng tôi đã tập trung
nghiên cứu diễn biến quần xã khuê tảo trong hai lõi
trầm tích, đó là TLS 2 và TLS 6. Lõi trầm tích số 6
(kí hiệu là TLS 6) được thu ngay bên cạnh vị trí TS-
18-XII-03. Vị trí này đã được khảo sát trước đây bởi
nhóm nghiên cứu của Day và cs. [3]. Lõi trầm tích
TLS 2 được thu ở tọa độ 12°41'21.50"N;
104°22'38.80"E với chiều sâu là 1,54 m tính từ nền bề
mặt đất của hồ, được thu vào ngày 31 tháng 05 năm
2013 và mực nước trong hồ sâu 60 cm. Lõi trầm tích
TLS 6 thu ở tọa độ 12°36'11.10"N; 104°17'9.90"E
với chiều sâu là 1,27 m và mực nước trong hồ sâu 65
cm (23/06/2015). Ngoài ra, chúng tôi cũng tập trung
nghiên cứu phân tích lõi trầm tích TLS 1, đây là lõi
trầm tích được thu ngay cửa sông Tonle Sap đổ vào
hồ, ở tọa độ 12°30'59.60"N; 104°30'14.90"E với
chiều sâu 1,68 m và độ sâu mực nước là 61 cm vào
ngày 30 tháng 5 năm 2013 (Hình 1).
Hình 1. Bản đồ cho thấy vị trí thu các lõi trầm tích trong hồ Tonle Sap và các điểm nghiên cứu trước đây của Day và cs. [3],
Penny [2], Fukomoto [4] được ký hiệu là những chấm tròn đen; vị trí nghiên cứu của Tsukawaki [11] được kí hiệu
là các ô vuông; vòng tròn là nghiên cứu của Carbonnel [12]. Hình tam giác là một vị trí được thu trong trạm
KompongLuong. Hình trên - bên phải thể hiện hình ảnh của hồ Tonle Sap và các khu vực bao quanh. Hình dưới -
bên trái là thủy học tại trạm KompongLuong
Xác định đặc điểm nền trầm tích và niên đại địa
chất
Lõi trầm tích được cắt dọc, mô tả các đặc trưng
vi cấu trúc, màu sắc. Sau đó, mẫu được lấy theo lớp,
theo độ sâu để sử dụng cho các phân tích khác nhau:
cấp hạt, tuổi trầm tích và khuê tảo. Đặc điểm nền
trầm tích được ghi nhận thông qua màu sắc và sa cấu
Science & Technology Development, Vol 5, No.T20-2017
Trang 8
của nền đất. Màu sắc của nền đất được so sánh với
bản so màu Munsell. Sa cấu là tỉ lệ phần trăm các cấp
hạt khoáng (sét, thịt, cát) trong đất dựa vào phương
pháp phân tích cấp hạt theo tiêu chuẩn ISO
11277:2009.
Phương pháp khảo sát đồng vị phóng xạ 210Pb và
137Cs đã được sử dụng để phân tích độ tuổi tương đối
của các lớp trầm tích trong lõi TLS 1, TLS 2 và TLS
3. Mật độ đồng vị trong mẫu được đo tại Viện Nghiên
cứu Hạt nhân, Đà Lạt, Việt Nam theo phương pháp
của Appleby [13] bằng máy quang phổ Gamma 150
sử dụng đầu dò high-purity Germanium detector
(PHGe) của Canberra Industries Inc. (Mỹ).
Phương pháp xác định tuổi trầm tích theo đồng vị
14C chứa trong những mảnh vỡ của động vật hai
mảnh vỏ Corbicula spp.. Chúng tập trung với mật độ
cao trong lõi trầm tích TLS 4 được thu ở giữa lòng hồ
và ở kề bên cạnh lõi TLS 2. Vì lý do này mà mẫu
được chọn là mẫu được bảo tồn trong lõi trầm tích
TLS 4 thì tốt hơn so với trong lõi TLS 2. Hơn nữa,
trật tự cấu trúc trầm tích giữa 2 lõi này là tương đồng.
Tuổi trầm tích theo theo đồng vị 14C được phân tích
theo phương pháp của Aitken [14] tại PTN Nghiên
cứu phóng xạ và chất đồng vị (Leibniz Laboratory for
Radiometric Dating and Stable Isotope Research),
Đại học Kiel (Đức).
Phân tích khuê tảo
Tổng cộng có 111 mẫu đã được phân tích cho cả
3 lõi trầm tích đã nêu. Trong mỗi lõi, mẫu được cắt
thành từng đoạn khoảng 5 cm. Tất cả các mẫu đã
được xử lý theo phương pháp oxy hóa các hợp chất
hữu cơ bằng H2O2, cùng với hydrochloric acid (HCl)
và tetra-sodiumpyrophosphate (Na4P2O7) [15]. Trong
mỗi mẫu, ít nhất 400 mảnh vỏ (nếu có thể) được định
danh và đếm dưới độ phóng đại 1000 của kính hiển vi
Leica ICC50 HD tại PTN Sinh môi, Bộ môn Sinh
thái-Sinh học tiến hóa, Khoa Sinh học-Công nghệ
Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại
học Quốc gia TP HCM. Định danh được thực hiện
đến cấp phân loại thấp nhất là loài và thứ loài (ngoại
trừ bào tử Chaetoceros) từ nhiều nguồn phân loại
[16–18]. Bào tử Chaetoceros được xác định dựa trên
hình thái, kích thước, đặc điểm phân loại theo tài liệu
của Ishii [19].
Mật độ mảnh vỏ được tính như là số lượng mảnh
vỏ/ g trầm tích khô. Độ phong phú của mỗi loài được
tính dựa trên số lượng mảnh vỏ của loài đó trên tổng
số mảnh vỏ có trong mẫu (Relative abudance % hay
Relative percentage %) (RA). Đối với những loài có
RA >1 % được sử dụng để phân tích đánh giá độ đa
dạng theo thời gian. [20]
Phân tích dữ liệu
Dựa trên kết quả phân tích độ phong phú tương
đối (RA%) để phân chia tối ưu nhất những phân khu
quần xã khuê tảo (Diatom Assembage Zones – DAZ)
dọc theo chiều sâu lõi trầm tích. Sự phân chia này
được tính theo phương pháp tổng bình phương độ lớn
khoảng cách (Euclidean) giữa các nhóm [21].
Độ phong phú của loài trong quần xã khuê tảo
theo thời gian được đánh giá thông qua phương pháp
phân tích Rarefaction (ES) [22]. Phương pháp này rất
tối ưu với những mẫu có độ chênh lệch rất lớn giữa số
lượng loài và số lượng mảnh vỏ đếm được giữa các
tầng mẫu trong một lõi trầm tích. Vì vậy mà chuỗi số
liệu trước khi phân tích độ phong phú theo phương
pháp Rarefaction phải được "chuẩn hóa”. Bên cạnh
đó, sử dụng chỉ số đa dạng Hill’s N2 để tính độ đa
dạng của loài trong quần xã khuê tảo, tính cho mỗi
đoạn trầm tích [23]. Chỉ số đa dạng Hill's N2 giúp
làm sáng tỏ nguyên nhân các yếu tố sinh thái ảnh
hưởng đến sự sai khác về đa dạng ở những độ sâu
khác nhau trong lõi trầm tích [24]. Phương pháp phân
tích phương sai đa nhân tố (Multi-ANOVA) được sử
dụng nhằm đánh giá ảnh hưởng của lũ và vị trí nền
trầm tích đến mật độ mảnh vỏ theo thời gian bằng
phần mềm R.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả
Đặc điểm nền trầm tích và niên đại
Phần trên cùng trong tất cả 4 lõi trầm tích (TLS
1, TLS 2, TLS 4, TLS 6) có chiều dài từ 0–20 cm,
chủ yếu là lớp bùn loãng có màu nâu xám (10YR
5/2). Lõi TLS 1, từ 20–100 cm lớp đất có màu nâu
xám (10YR 5/2) cùng với các hạt khoáng sét mịn và
các vật liệu hữu cơ bị xáo trộn; ở đoạn khoảng 100–
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 20, SOÁ T5 - 2017
Trang 9
155 cm hầu hết các vật liệu thô cứng và khoáng sét
mịn, nền trầm tích có màu nâu xám (10YR 5/1). Lõi
TLS 6 (20–80 cm) và TLS 4 (20–95 cm) có đặc điểm
tương đồng như lõi TLS 1 nhưng ở đây tìm thấy
nhiều mảnh vỡ của loài Corbicula spp., đặc biệt là
trong lõi TLS 4 tìm thấy rất nhiều mảnh vỏ của loài
Corbicula spp. ở độ sâu từ 90–95 cm. Lõi TLS 2 từ
độ sâu 20–70 cm là sét bột dẻo mềm màu xám nâu.
Riêng lõi TLS 6 từ 80–125 cm, nền trầm tích có lớp
sét mịn, các hạt thô, có màu nâu vàng nhạt (Gley 1
5/5 GY). Đặc điểm nền trầm tích này tương đồng với
lõi trầm tích TLS 4 từ 95–105 cm và 105–165 cm có
đặc điểm là khoáng sét cứng, có màu xám sáng đến
xám xanh rêu (5Y 6/1–5Y 6/2) với sự phân tán của
các hạt sắt màu nâu đỏ đến vàng. Trong khi ở phần
dưới của lõi TLS 2, từ 70–154 cm có đặc điểm là sét
dẻo cứng (Hình 2).
Phân bố đồng vị 210Pb và 137Cs gần như toàn bộ
bề dày lớp trầm tích nâu xám trong các lõi trầm tích
TLS 1, TLS 2 cho thấy lớp này hình thành rất gần so
với hiện tại. Đặc biệt, cường độ 210Pb xuất hiện khá
cao cho tới độ sâu 60 cm tương đương như cường độ
của 210Pb trong lớp 0–20 cm (TLS 2). Điều này chứng
tỏ là cả chiều dài lõi trầm tích TLS 1 (dài 153 cm)
được hình thành trong thời gian rất ngắn (khoảng sau
2.000 năm), tương ứng với giai đoạn trầm tích bùn
loãng có màu nâu xám trong lòng hồ. Dưới lòng hồ,
tuổi tuyệt đối của mẫu vỏ ốc Corbicula spp. ở độ sâu
0,66 m trong lõi TLS 4 xác định được 1530± 25 năm
và đoạn 0,95 m ở vị trí đáy lót trầm tích hồ có ảnh
hưởng của lũ xác định được 2145 ± 30 năm. So sánh
tương quan tính chất của địa tầng trong các lõi trầm
tích thu được tại nghiên cứu này và các nghiên cứu
trước đây [2, 3] thì thời gian 2145 ± 30 năm được
xem là thời điểm lũ xuất hiện từ sông Mekong lên
môi trường Biển Hồ (Lê Xuân Thuyên và Nguyễn
Thị Gia Hằng, chưa công bố). Thời điểm này được
xem là muộn hơn so với công bố trước đây [3].
Diễn biến quần xã khuê tảo theo thời gian
Tổng cộng có 70 loài khuê tảo hóa thạch thuộc
33 giống và bào tử của giống Chaetoceros và của
khuê tảo đã được tìm thấy trong 111 mẫu dọc theo
chiều dài của 3 lõi trầm tích (TLS 1, TLS 2 và TLS
6). Trong đó, có 26 loài khuê tảo hóa thạch được tìm
thấy trong lõi TLS 2; 19 loài (TLS 6) và 45 loài (TLS
1) (bao gồm cả bào tử). Kết quả phân tích DAZ cho
thấy quần xã khuê tảo phân thành 5 nhóm loài theo
độ sâu (Hình 2). Dựa vào các nghiên cứu về phấn
hoa, thành phần vật chất trong trầm tích của Day và
cs. [3], Penny [2], Fukomoto [4] cho thấy nền trầm
tích bị ảnh hưởng bởi chế độ thủy văn, đặc biệt là lũ.
Do vậy, tầng trầm tích trong 3 lõi được phân thành
hai nhóm: (i) tầng trầm tích hồ có màu xám xanh
không ảnh hưởng lũ; và (ii) tầng phủ lên trên là tầng
trầm tích hồ màu xám nâu hình thành trong điều kiện
có ảnh hưởng lũ từ sông Mekong. Do đó, kết quả
phân tích phương sai đa nhân tố cho thấy trung bình
mật độ mảnh vỏ có sự khác biệt rõ về mặt thống kê
giữa tầng có lũ và tầng không có lũ [F (1; 87)=5,19;
p-value=0,03*] ở mức tin cậy 95 %. So sánh cặp theo
phân tích Tukey HSD chỉ ra rằng trung bình mật độ
mảnh vỏ của tầng có lũ (8,29±0,23) có sự khác biệt rõ
với tầng không có lũ (6,84±0,62) với 95 % C.I. [0,18;
2,71] và p-value=0,0045***. Tuy nhiên, mật độ mảnh
vỏ khuê tảo chưa thấy sự khác biệt rõ giữa vị trí trong
hồ và ngoài hồ [F (1; 87)=3,92; p-value=0,05] ở mức
tin cậy 95 %. Vì vậy, kết quả diễn biến cấu trúc quần
xã khuê tảo được phân thành hai nhóm như sau:
Tầng trầm tích có ảnh hưởng lũ
Hai lõi trầm tích TLS 2 và TLS 6 được thu trong
Biển Hồ và đoạn trầm tích tương ứng từ 0–94 cm
(TLS 2) và 0–78 cm (TLS 6) có màu xám nâu, hình
thành trong điều kiện có ảnh hưởng lũ từ sông
Mekong. Do vậy, thành phần và độ phong phú cũng
như độ giàu loài có sự khác biệt so với tầng trầm tích
không ảnh hưởng của lũ nằm ở bên dưới. Trong giai
đoạn có lũ, hầu như nhóm loài Aulacoseira chiếm ưu
thế nhất. Ở đoạn trầm tích từ 58,5–85,5 cm (TLS 6),
ngoài sự xuất hiện của loài khuê tảo nước ngọt là A.
granulata còn tìm thấy nhóm loài khuê tảo nước mặn
như: Gyrosigma hippocampus, Paralia sulcata,
Thalassionema nitzschioides cùng với bào tử của
Chaetoceros spp.. Tuy vậy, loài A. granulata và bào
tử khuê tảo chiếm ưu thế nhất (lần lượt là RA = 66,67
Science & Technology Development, Vol 5, No.T20-2017
Trang 10
%; RA = 88,89 %). Độ phong phú của loài trong quần
xã cao nhất (ES= 4,76) ở đoạn từ 67,5–70,5 cm
nhưng độ giàu loài lại chiếm ưu thế trong đoạn từ
76,5–79,5 cm với Hill's N2=3,57.
Giai đoạn có lũ, sự đa dạng về thành phần loài
cao hơn so với giai đoạn không bị ảnh hưởng lũ. Tầng
trầm tích từ 0–70 cm (TLS 2) tập trung rất nhiều loài
khuê tảo sống trong môi trường nước ngọt
(Achnanthes lanceolata var. elliptica, A. granulata,
A. granulata var. angustissima, Cyclotella litoralis,
Discostella pseudostelligera, Eunotia arcus,
Gyrosigma acuminatum, Gyrosigma eximium,
Navicula cf. bryophila, Navicula pennata) đến nước
mặn (Actinocyclus curvatulus, Cymatotheca
weissflogii, Gyrosigma fasciola, Nitzschia capitellata,
P. sulcata, Thalassiosira ferelineata, Thalassiosira
lineata, Thalassiosira pacifica, Thalassiosira
simonsenii, Thalassiosira tenera). Độ đa dạng của
quần xã cao nhất trong 42–46 cm. Loài A. granulata
vẫn là loài khuê tảo chiếm ưu thế nhất (RA=100 %)
(Hình 2). Trong khi lõi trầm tích TLS 6, độ đa dạng
của quần xã chiếm ưu thế từ ~ 4–12 cm nhưng độ
giàu loài lại cao trong 25,5–28,5 cm. Nơi đây cũng có
sự tập trung của rất nhiều loài khuê tảo sống trong
môi trường nước ngọt (Achnanthidium minutissimum,
Aulacoseira distans, A. distans var. humilis, A.
granulata, A. granulata var. angustissima,
Gyrosigma attenuatum, Luticola muticola) và nước
mặn (Ditylum brightwellii, Gyrosigma hippocampus,
P. sulcata, Petroneis monilifera, Thalasionema
nitzschioides, Thalassiosira decipiens, Tryblionella
levidensis) và bào tử khuê tảo (Hình 2) (Bảng 1).
Bảng 1. Mật độ mảnh vỏ, độ phong phú và độ giàu loài khuê tảo cao nhất trong các tầng trầm tích khác nhau được thu trong
hồ Tonle Sap
Tầng trầm tích (lõi) Mật độ mảnh vỏ (mảnh
vỏ/ g trọng lượng khô)
Độ phong phú (ES) Độ giàu loài (Hill's N2)
42–46 cm (TLS 2) 255–403,119 3,99 4,00
4–12 cm (TLS 6) 3,332–188,446 5,17 1,69
25,5–28,5 cm (TLS 6) 368 – 188,446 3,00 1,84
Trong khi đó, lõi trầm tích TLS 1 nằm ngay cửa
sông Tonle Sap (nối thông từ sông Mekong) đổ vào
Biển Hồ và là nơi giao nhau với các phụ lưu xung
quanh; do đó, cấu trúc quần xã khuê tảo có sự phong
phú và thay đổi mạnh hơn so với vùng nước tương
đối khép kín như ở trong Biển Hồ. Trong môi trường
trầm tích cận đại (đoạn 0–66 cm) tập trung rất nhiều
loài khuê tảo sống trong các môi trường khác nhau, từ
môi trường nước ngọt – nước lợ – nước mặn. Độ đa
dạng tập trung cao nhất trong khoảng từ 22–26 cm.
Trong đó, loài A. granulata chiếm ưu thế nhất
(RA=100 %). Tuy nhiên, trong khoảng từ 66–134 cm,
thành phần loài khuê tảo tương đối ít, như trong đoạn
trầm tích từ 66–98 cm chỉ thấy tìm thấy hai loài khuê
tảo nước ngọt (A. granulata, Encyonema alpinum) và
1 loài khuê tảo nước mặn (P. sulcata), cùng với bào
tử của Chaetoceros spp. và của khuê tảo. Độ đa dạng
của quần xã tập trung nhiều nhất ở đoạn 70–74 cm.
Ngược lại, trong nền trầm tích lắng đọng trước đó (~
98–154 cm) có rất nhiều loài khuê tảo sống trong môi
trường nước ngọt (A. granulata, A. granulata var.
angustissima, Cyclotella atomus, C. meneghiniana,
Diploneis pseudovalis, Discostella stelligera) và mặn
(Ditylum brightwellii, P. sulcata, Thalassiosira
endoseriata) cùng với bào tử của Chaetoceros spp. và
của khuê tảo. Mật độ dao động trong khoảng từ 408 –
3513 mảnh vỏ/ g trọng lượng khô. Độ đa dạng của
quần xã cao nhất trong khoảng từ 122 – 126 cm, loài
A. granulata và bào tử khuê tảo chiếm ưu thế (RA lần
lượt là 91,13 % và 100 %) (Bảng 2).
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 20, SOÁ T5- 2017
Trang 11
Hình 2. Độ phong phú về loài trong cấu trúc quần xã (ES), sự phân nhóm (DAZ) và mật độ mảnh vỏ khuê tảo trong nền trầm
tích được thu bên trong hồ Tonle Sap (lần lượt từ trên xuống: TLS 2, TLS 6, TLS 1).
Science & Technology Development, Vol 5, No.T20- 2017
Trang 12
Bảng 2. Mật độ mảnh vỏ, độ phong phú và độ giàu loài khuê tảo cao nhất trong các tầng trầm tích khác nhau được thu bên
ngoài hồ Tonle Sap (TLS 1)
Tầng trầm tích (lõi)
(cm)
Mật độ mảnh vỏ
(mảnh vỏ/g trọng lượng
khô)
Độ đa dạng của quần xã
(ES)
Độ giàu loài (Hill's N2)
22–26 77,737 4,44 2,46
70–74 594 3,00 3,00
122 –126 1,230 4,00 4,00
Tầng trầm tích không có lũ tác động
Ở đây có tầng trầm tích hồ ở độ sâu dưới 78 cm
trong lõi trầm tích TLS 6 và trầm tích không phân
chia đã bị phong hóa nhẹ ở dưới 95 cm trong lõi trầm
tích TLS 2. Trong tầng trầm tích không phân chia đã
bị phong hóa nhẹ ở lõi TLS 2, thành phần loài khuê
tảo rất nghèo nàn, gần như là không tìm thấy bất kỳ
mảnh vỏ khuê tảo hóa thạch được lưu giữ trong nền
trầm tích. Ở độ sâu 134–150 cm chỉ tìm thấy một vài
mảnh vỡ; trong khi ở độ sâu 106–134 cm tìm thấy
duy nhất một loài khuê tảo sống trong môi trường
nước mặn, đó là loài Nitzschia insignis với mật độ
mảnh vỏ 317 mảnh vỏ/ g trọng lượng khô (Hình 2).
Tuy nhiên, đối với lõi trầm tích TLS 6 (ở độ sâu
< 78 cm), thành phần loài khuê tảo đa dạng hơn so
với lõi TLS 2, nhưng độ phong phú về loài trong cấu
trúc quần xã khuê tảo (ES) lại thấp hơn so với tầng
trầm tích có ảnh hưởng lũ ở lõi TLS 1, và phần trên
các lõi TLS 2 và TLS 6. Ở đây, thành phần loài khuê
tảo tìm thấy ở độ sâu từ 85,5–123,5 cm có 3 loài khuê
tảo sống trong môi trường nước ngọt (Achnanthidium
minutissimum, A. granulata, Discotella
pseudostelligera) và 1 loài sống trong môi trường lợ-
mặn (Thalassionema nitzschioides) cùng với bào tử
khuê tảo. Trong đó, bào tử khuê tảo xuất hiện nhiều
nhất (RA = 100 %) và mật độ khuê tảo dao động
trong khoảng 507–3015 mảnh vỏ/ g trọng lượng khô.
Độ phong phú của loài trong quần xã cao nhất là ES =
2,00 và độ giàu loài Hill's N2=1,80 (Hình 2).
Nhìn chung, cấu trúc quần xã khuê tảo trong nền
trầm tích theo thời gian cho thấy nhóm loài
Aulacoseira spp. chiếm ưu thế nhất, kế đến là nhóm
Gyrosigma spp. và loài khuê tảo nước lợ Paralia
sulcata có độ ưu thế rất cao trong 3 lõi trầm tích. Độ
thường gặp dao động trong khoảng từ 3,14–92,51 %
và độ đa dạng loài Hill's N2 dao động từ 1,00–7,18.
THẢO LUẬN
Đặc điểm tầng đất trong hai lõi trầm tích TLS 2
và TLS 6 cho thấy đây là môi trường trầm tích khép
kín, ít bị xáo trộn bởi các tác động của dòng chảy hơn
so với lõi TLS 1. Tuy nhiên, đã có một sự tương đồng
nhất định giữa thành phần các nhóm khuê tảo ở 3 vị
trí này, phản ánh có sự tương tác giữa môi trường bên
trong với bên ngoài hồ trong giai đoạn lũ. Trong đó,
nhóm loài Aulacoseira spp. là loài phổ biến, xuất hiện
hầu như liên tục trong tất cả các môi trường theo thời
gian, đặc biệt là trong nền trầm tích hiện đại. Nhóm
loài Aulacoseira thường tìm thấy trong môi trường
nước chua và nhiều hàm lượng chất lơ lửng [25]. Số
lượng mảnh vỏ của nhóm khuê tảo này tăng mạnh
trong tầng trầm tích từ 0–30 cm, đã cho thấy môi
trường càng gần đây thì càng bị khuấy động. Trong
môi trường đã có nhiều chất lơ lửng bị giữ lại trong
cột nước làm cho nước rất đục nên nhóm Aulacoseira
này dễ phát triển hơn so với những nhóm loài khuê
tảo khác. Nguyên nhân nước bị vẩn đục có thể là do
một khối lượng nước quá lớn, kéo theo các chất hữu
cơ/ vô cơ trên sàn rừng đổ vào hồ làm cho môi trường
bị xáo trộn [26]. Hơn nữa, giống Aulacoseira là loài
bản địa thường được tìm thấy trong quần xã phiêu
sinh ở sông Mekong, do đó, nhóm Aulacoseira chiếm
ưu thế trong quần xã phiêu sinh thực vật tại vùng hồ
và là kết quả của một lượng chất hữu cơ cực lớn từ
sông Mekong thông qua nhịp lũ đổ vào hồ [2].
Các nghiên cứu trước đây cho thấy nồng độ các
chất dinh dưỡng cao trong cột nước có thể làm tăng
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 20, SOÁ T5- 2017
Trang 13
độ phong phú và độ giàu loài các nhóm khuê tảo
trong nền trầm tích. Loài Paralia sulcata thường xuất
hiện ở ngoài biển và trong môi trường trầm tích giàu
chất dinh dưỡng, đặc biệt hàm lượng nitrogen do các
hoạt động của con người gây ra [27]. Trong khi loài
Thalassiosira bramaputrae (Ehrenberg) Hak. &
Locker [đồng danh: T. lacustris (Grunow) Hasle;
Coscinodiscus lacustris Grunow] được phát hiện thấy
trong nền trầm tích tại cửa sông Tonle Sap đổ vào hồ.
Sự hiện diện của hai loài khuê tảo có môi trường đặc
biệt này là bằng chứng rõ ràng cho thấy có sự hiện
diện của dòng chảy nước lợ - mặn lấn về phía hồ [2].
Hay trong đoạn trầm tích hồ trước khi có ảnh hưởng
của lũ (lõi TLS 6, đoạn 106,5–123,5 cm) đã tìm thấy
loài Thalassionema nitzschioides. Đây là loài có giới
hạn sinh thái rộng, thuộc nhóm phiêu sinh sống ven
bờ, ưa thích trong môi trường nước lợ - mặn. Đặc
biệt, đây là loài chỉ thị cho môi trường giàu chất dinh
dưỡng và độ mặn thấp [28]. Điều này đã thể hiện cho
thấy hồ Tonle Sap trước đây cũng đã bị ảnh hưởng
bởi sự xâm nhiễm nguồn nước lợ từ vùng cửa sông
chảy ngược lên theo dòng triều trên sông Mekong. Sự
xâm nhiễm này vốn đã có từ trước giai đoạn ảnh
hưởng lũ, nhưng tần suất xuất hiện gần đây có nhiều
hơn, chứng tỏ vấn đề xâm nhiễm có thể đã diễn ra
thường xuyên hơn. Do đó có sự trao đổi nước với bên
ngoài thông qua sông Mekong, góp phần làm tăng sự
hiện diện của những loài khuê tảo chịu mặn ở trong
hồ, hoặc có thể do vỏ của những loài khuê tảo này
lắng đọng trong trầm tích đã được tái vận đồng theo
dòng chảy và đưa vào hồ theo dòng lũ. Sự hiện diện
của phấn hoa rừng ngập mặn trong nền trầm tích ở
Biển Hồ cũng đã cho thấy dòng chảy bị ảnh hưởng
bởi thủy triều trong mùa cạn [2]. Bên cạnh đó, trong
môi trường hồ có sự xuất hiện của những nhóm khuê
tảo phiêu sinh và sống bám trong môi trường nước
mặn như Odontella rhombus, Tryblionella
navicularis, Thalassiosira spp., v.v.. là một bằng
chứng rõ nét cho thấy hồ có ảnh hưởng xâm nhiễm
mặn. Tuy vậy, từ nhóm khuê tảo hóa thạch tìm thấy
trong nền trầm tích cho thấy nhóm khuê tảo sống
trong môi trường nước ngọt là luôn chiếm đa số.
Lũ theo nhịp hàng năm đều gây ra những xáo
trộn đáng kể trong môi trường nước hồ, từ độ đục tới
chất dinh dưỡng và tác động tới quần xã khuê tảo.
Như loài Achnanthidium minutisssium là loài chiếm
ưu thế trong môi trường bị xáo trộn, đặc biệt là cường
độ lũ cao [29]. Hay nhóm loài Discotella spp. có thể
phát triển trong điều kiện dinh dưỡng từ nghèo đến
giàu, do vậy chúng có thể thích nghi với môi trường
sống mới [30]. Nhóm khuê tảo này hiện diện trong
nền trầm tích của lõi TLS 2 và TLS 6 có ảnh hưởng
lũ, cũng như trong nền trầm tích thường xuyên bị xáo
trộn (TLS 1).
Ngoài ra, có một số nhóm khuê tảo có liên quan
rất rõ với giai đoạn môi trường có lũ. Một số nhóm
loài khuê tảo chỉ thị cho dòng chảy của lũ mạnh
(Cymbella microcephala, Gomphonema angustum, G.
gracile, Nitzschia fonticola, Rhopalodia gibba);
nhóm loài khuê tảo chỉ thị cho mức lũ trung bình (A.
minutissimum, Cocconeis placentula, Gomphonema
parvulum, Epithemia adnata, Nitzschia paleacea,
Navicula radiosa); lũ yếu (Craticula halophila,
Epithemia turgida, Navicula cryptocephala); mức lũ
kém (Cocconeis placentula, Gomphonema clavatum,
Navicula minima, Nitzschia palea) [20]. Khi dòng lũ
quét qua một vùng nào đó thì một số loài khuê tảo có
cấu trúc hình thái gắn kết chặt chẽ và có kiểu bò
trườn (như Achnanthidium minutissimum và
Cocconeis placentula) sẽ bị đánh bật ra khỏi thể
khảm của chúng. Sau đó, chúng thường bị chết và các
mảnh vỡ của vỏ sẽ tập trung nhiều trong những lưu
vực có dòng chảy hơi mạnh [29]. Hơn nữa, hình dạng
hay cấu trúc bên ngoài của mảnh vỏ khuê tảo cho
thấy khả năng kháng cự lại với sự xáo trộn của môi
trường như: loài Navicula và Nitzschia có sự gắn kết
lỏng lẻo nên thường bị tách rời khỏi giá thể bám và
trôi giạt theo dòng chảy [26]. Nhóm Navicula và
Nitzschia thường có khả năng di chuyển nhanh sau
khi có lũ [20].
Nhìn chung, khuê tảo có khả năng kháng cự và
mau phục hồi với sự xáo trộn của môi trường cao hơn
so với tảo lục và vi khuẩn lam bởi vì chúng có khả
năng phục hồi, sản sinh ra sản lượng lớn, thời gian
Science & Technology Development, Vol 5, No.T20- 2017
Trang 14
tạo ra thế hệ mới ngắn, kích thước nhỏ [29]. Các quần
xã khuê tảo bám có khả năng thích ứng nhanh, hơn là
chống chịu với lũ, và thường có khả năng tạo thành
những tập đoàn hay phân bố rời rạc để dễ thích ứng
với môi trường [20]. Khi gặp môi trường thuận lợi,
chúng sẽ phát triển nhanh, mang lại sinh khối lớn,
nhưng nếu gặp môi trường bất lợi thì chúng chỉ có thể
tồn tại trong một thời gian rất ngắn và chết, lưu lại
các mảnh vỏ hóa thạch theo thời gian.
Nếu xem cả đoạn trầm tích trong lõi TLS 1 được
hình thành trong thời gian ngắn và diễn ra gần đây thì
sự dao động lớn về mật độ và thành phần loài khuê
tảo hóa thạch, thậm chí xác định không có mảnh vỏ
khuê tảo ở các độ sâu khác nhau (54–58, 78–82, 90-
106 và 114–122 cm) cho thấy trong giai đoạn mà môi
trường ở vị trí này có ảnh hưởng lũ đến từ sông
Mekong thì vẫn có những xáo trộn nhất định đã xảy
ra. Giả thiết đặt ra có thể là diễn biến và quy mô lũ
không đều, và thậm chí có những đợt lũ quét cục bộ
mang vật liệu trầm tích đến từ các vùng địa hình cao–
thường khô hạn, gây lắng đọng và gián đoạn sự hiện
diện của nhóm phiêu sinh, vốn cần có cho môi trường
nước được duy trì khá thường xuyên.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu phân bố khuê tảo hóa thạch
trong trầm tích cho phép tái thiết lập diễn biến thay
đổi tính chất môi trường thủy vực hồ Tonle Sap theo
không gian và trật tự thời gian có liên quan đến lũ
trong hệ thống dòng chảy. Hơn nữa, nghiên cứu này
cho thấy môi trường lưu vực nước hồ Tonle Sap có
mối liên kết chặt chẽ với dòng chảy sông Mekong.
Ảnh hưởng của sự xáo trộn dòng chảy từ Mekong
cũng như sự xâm nhiễm mặn từ hạ du đã góp phần
làm thay đổi tính đa dạng và độ giàu loài của một số
loài trong quần xã khuê tảo tại hồ Tonle Sap so với
giai đoạn trước đây không có lũ. Sự hiện diện của loài
Achnanthidium minutissimum đã cho thấy môi trường
bị ảnh hưởng lũ ở mức trung bình và sự vùi lấp của
nhóm loài Navicula, Nitzschia báo hiệu cho thấy có
dòng chảy cực mạnh đã quét qua vùng hồ.
Holocene environmental change in Tonle Sap,
Cambodia based on fossil diatoms
Nguyen Thi Gia Hang
Le Xuan Thuyen
University of Science, VNU-HCM
ABSTRACT
Tonle Sap Lake (“Great Lake”, Cambodia) is a
biggest inland freshwater body. The size of the lake is
changed dynamically following monsoon via
connected to the Mekong river, especially the flood
pulse. The flood pulse on Tonle Sap has affected
considerably the lake’s ecological property as well
diatom assemblages. The present study aimed to
assess the impact of the flood pulse to diatom
assemblages by time. Two short sediment cores from
Tonle Sap Lake with the depth of 1.54 m and 1.27 m
respectively below the lake floor were collected in
May 2013 and 2015 and one short sediment core with
the depth of 1.68 m was collected from the confluence
of the Mekong River and Tonle Sap River in May,
2013. The sedimentations were dated by using
radiometric dating (210Pb and 137Cs). Succession of
fossil diatom assemblages was calculated by
Rarefaction index (ES) and species richness is by
Hill's N2 index. A total of 70 diatom species was
released, and the diversity of diatom assemblages
was extremely fluctuated in function of time (p-value
= 0.0045***). Especially, 6 diatom taxa: Aulacoseira
distans, Aulacoseira granulata, Aulacoseira
granulata var. angustissima, Gyrosigma acuminatum,
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 20, SOÁ T5- 2017
Trang 15
Gyrosigma attenuatum and Paralia sulcata
characterized by the highest relative abundance (>1
%). In term of ecology, these species are the epipelic
diatoms living commonly in eutrophication and high
suspendid solid conditions. In fact, it is clear that the
onset of flood pulses affected considerably the studied
diatom assemblages in particular, and made sense to
bio-community in general; also the lacustrine
environment of Tonle Sap lake was changed very
strongly in response to this shift of hydrological
regime.
Keywords: Tonle Sap Lake, fossil diatoms, flood flush
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. J.P. Carbonnel, J. Guiscafré, Grand Lac du
Cambodge: Sedimentologie et hydrologie,
Muséum National d’Histoire Naturelle de Paris,
Paris, 1962–1963 (1965).
[2]. D. Penny, The Holocene history and development
of the Tonle Sap, Cambodia, Quat Sci Rev, 25,
310–322 (2006).
[3]. M.B. Day, D.A. Hodell, M. Brenner, J.H. Curtis,
G.D. Kamenov, T.P. Guilderson, L.C. Peterson,
W.F. Kenney, A.L. Kolata, Middle to late
Holocene initiation of the annual flood pulse in
Tonle Sap Lake, Cambodia, J. Paleolimnol., 45,
85–99 (2011).
[4]. Y. Fukomoto, Holocene Climate Changes in East
Asia Reconstructed from Boring Sediments in
Lakes and Peatlands, Dissertation, Kyushu
University, 166 (2014).
[5]. I. Hendey, An introductory account of the smaller
algae of British coastal waters. Part V:
Bacillariophyceae, Fish. Inest Ser IV, Ministr.
Agric. Fish and Food, Her Majesty’s Stationery
Office, London, 317 (1964).
[6]. R.J. Stevenson, The stimulation and drag of
current. In: Stevenson R.J., Bothwell M.L. and
Lowe R.L. (eds.) Algal Ecology: Freshwater
Benthic Ecosystem, Academic Press, San Diego,
California, 321–340 (1996).
[7]. N.L. Poff and J.V. Ward, Implications of
streamflow variability and predictability for lotic
community structure: a regional analysis of
streamflow patterns, Can. J. Fish Aquat. Sci., 46,
1085–1818 (1989).
[8]. R.G. Death, Disturbance and riverine benthic
communities: what has it contributed to general
ecological theory?, River Res. Appl., 26, 15–25
(2010).
[9]. G.Y. Yang, T. Tang, D. Dudgeon, Spatial and
seasonal variations in benthic algal assemblages in
streams in monsoonal Hong Kong, Hydrobiologia,
632, 189–200 (2009).
[10]. C.G. Peterson, R.J. Stevenson, Resistance and
resilience of lotic algal communities: importance
of disturbance timing and current, Ecology, 73,
1445–1461 (1992).
[11]. S. Tsukawaki, Conclusion of TonleSap 21
Programme-Environmental changes and
geological developments of Lake Tonle Sap in
Cambodia during the last 10,000 years,
International Symposium on Environmental
Changes of the Great Lake Tonle Sap, Phnom
Penh, Ministry of
Industry, Mines and Energy, (2002).
[12]. J.P. Carbonnel, Le Quaternaire Cambodgien:
Structure et Stratigraphie, ORSTOM, 243 (1972).
[13]. P.G. Appleby, Chronostratigraphic techniques in
recent sediments. In: Last WM, Smol JP (eds.)
Trachking envrionmental change using lake
sediments volume 1: Basin analysis, coring, and
chronolgical techniques. Kluwer, Dordrecht, 171–
203 (2001).
[14]. M. Aiken, Radiocarbon dating. In E. Linda
“Archaelogical Method and Theory”, New York,
Garland Publishing, 505–508 (2003).
[15]. M.T. Moss, K.R. Laird, B.F. Cumming, Diatom
assemblages and water depth in Lake 239
(Experimental Lakes Area, Ontario): a
palaeolimnological perspective, The Holocene, 19,
359–367 (2005).
[16]. K. Krammer, H. Lange-Bertalot,
Bacillariophyceae 2. Teil: Bacillariaceae,
Epithemiaceae, Surirellaceae. In: Ettl H., Gerloff
J., Heynig H. and Mollenhauer D. (eds)
Science & Technology Development, Vol 5, No.T20- 2017
Trang 16
Süsswasserflora von Mitteleuropa, Gustav Fischer
Verlag, Stuttgart, 596 (1988).
[17]. K. Krammer, H. Lange-Bertalot,
Bacillariophyceae 3. Teil: Centrales,
Fragilariaceae, Eunotiaceae. In: Ettl H., Gerloff J.,
Heynig H. and Mollenhauer D. (eds),
Süsswasserfloravon Mitteleuropa, Gustav Fischer
Verlag, Stuttgart, 576 (1991a).
[18]. K. Krammer, H. Lange-Bertalot,
Bacillariophyceae 4. Teil: Achnanthaceae,
Kritische Ergänzungen zu Navicula (Lineolatae)
und Gomphonema. In: Ettl H., Gärtner G., Gerloff
J., Heynig H. and Mollenhauer D. (eds)
Süsswasserflora von Mitteleuropa, Gustav Fischer
Verlag, Stuttgart, 437 (1991b).
[19]. K-I. Ishii, M. Iwataki, I. Imai, Proposal of
identification criteria for resting spores of
Chaetoceros species (Bacillariophyceae) from a
temperate coastal sea, Phycologia, 50, 4, 351–362
(2011).
[20]. J.A. Wiklund, N. Bozinovski, R.I. Hall, B.B.
Wolfe, Epiphytic diatoms as flood indicators, J.
Paleolimnol., 44, 25–42 (2010).
[21]. P. Legendre, L. Legendre, Numerical ecology,
Second English Edition, Elsevier, Amsterdam,
1006 (1998).
[22]. H.J.B. Birks, J.M. Line, The use of rarefaction
analysis forestimating palynological richness from
the Quaternary pollen-analytical data, The
Holocene, 2, 1–10 (1992).
[23]. M.O. Hill, Diversity and evenness: a unifying
notion and its consequences, Ecology, 54, 427–
432 (1973).
[24]. J.P. Smol, Problems with the use of “species
diversity” in paleolimnological studies,
Quaternary Research, 15, 209–212 (1981).
[25]. H. van Dam, A. Mertens, J. Sinkeldam, A coded
checklist and ecological indicator values of
freshwater diatoms from the Netherlands, J.
Aquatic Ecol, 28, 117–133 (1994).
[26]. P. Kilham, S.S. Kilham, R.E. Hecky,
Hypothesizedresource relationships among
African planktonic diatoms, Limnol Oceanogr, 31,
1169–1181 (1986).
[27]. Z.H. Liu, X.H. Liu, B. He, J.F. Nie, J.Y. Peng, L.
Zhao, Spatio-temporal change of water chemical
elements in Lake Dianchi, China, Water Environ.
J., 23, 235–244 (2009).
[28]. J.M. van Iperen, A.J. van Bennekom, T.C.E. van
Weering, Diatoms in surface sediments of the
Indonesian Archipelago and their relation to
hydrography, Hydrobiologia, 269–270, 1, 113–
118 (1993).
[29]. F. Schneck, A.S. Melo, Hydrological disturbance
overrides the effect of substratum roughness on
the resistance and resilience of stream benthic
algae, Freshw. Biol., 57, 1678–1688 (2012).
[30]. V. Houk, R. Klee, H. Tanaka, Atlas of freshwater
centric diatoms with a brief key and descriptions
part III. In: Poulícková A. (ed.) Stephanodiscaceae
A: Cyclotella, Tertiarius, Discotella, Fottea, 10
Supplement, 498 (2010).
TAÏP CHÍ PHAÙT TRIEÅN KH&CN, TAÄP 20, SOÁ T5- 2017
Trang 17
Tỉ lệ thước :10 µm
1. Aulacoseira granulata (Ehrenberg) Simonsen 1979
2. Aulacoseira granulata (Ehrenberg) Simonsen var. angustissima
(O.Müller) Simonsen 1979
3. Cymbella cesatii (Rabenhorst) Grunow in Schmidt et al. 1881
4. Eunotia arcus Ehrenberg 1837
5. Tryblionella navicularis (Brebisson ex Kützing) Ralfs in Pritchard
6. Gyrosigma attenuatum (Kützing) Rabenhorst 1853
7. Gomphonema minutum (C.Agardh) C.Agardh 1831
8. Thalassiosira angulata (W. Gregory) Hasle 1978
9. Diploneis ovalis (Hilse) Cleve 1891
10. Cyclotella kuetzingiana Thwaites var. planetophora Fricke in A.
Schmidt 1900
11. Luticola mutica (Kutzing) D.G.Mann
12. Pinnularia suchlandtii Hustedt 1943
1900
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dien_bien_moi_truong_can_dai_qua_pho_khue_tao_hoa_thach_tai.pdf