Điều chế glucosamin từ chitin/chitosan với tác nhân axit clohiđric và chiếu xạ
Ảnh hưởng của thời gian phản ứng:
Khảo sát ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu suất cắt mạch với điều kiện
phản ứng cố định: Khối lượng chitin đã chiếu xạ: 10 g; Nồng độ HCl: 12 N; Thể tích HCl:
180 ml; Liều xạ: 10 KGy; Nhiệt độ: 95 ◦C. Kết quả khảo sát được thể hiện ở Hình 2.
Hình 2 cho thấy: Khi tăng thời gian thì hiệu suất cắt mạch tăng và đạt cực đại ở 5
giờ. Nếu tăng thời gian thì hiệu suất cắt mạch giảm do vòng của glucosamin bị phá hủy.
Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian cắt mạch tối ưu là 5 giờ.
- Với cùng các giá trị tối ưu được chọn thì mẫu chitin đã chiếu xạ có hiệu suất cắt
mạch cao hơn so với chitin chưa chiếu xạ. Điều này có thể được giải thích là do chiếu xạ
nên mạch chitin đã được cắt sơ bộ thành các oligo chitin.
- Đối với các mẫu chitin đã chiếu xạ: Với liều xạ càng cao thì hiệu suất càng thấp
do khi tăng liều xạ lên cao thì glucosamin sẽ mở vòng và sản phẩm tạo thành không như
mong muốn.
* Phổ hồng ngoại của Glucosamin chuẩn và mẫu nghiên cứu
Phổ hồng ngoại (IR) của glucosamin chuẩn (do Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Mỹ
cung cấp) và glucosamin nghiên cứu được trình bày trong Hình 3 và Hình 4. Phổ hồng
ngoại cho thấy có sự hiện diện của liên kết O-H tại 3327 cm−1 (glucosamin chuẩn) và tại
3292 cm−1 (mẫu glucosamin nghiên cứu). Dao động đặc trưng của liên kết amin bậc một
N-H được ghi nhận tại 1628 cm−1 và 1538 cm−1 trong cả hai phổ. Dao động của nhóm
C-O-C cũng được ghi nhận trong phổ hồng ngoại tại vùng hấp thu từ 1022 - 1131 cm−1
trong cả hai phổ. Kết quả trên cho thấy mẫu glucosamin nghiên cứu có dữ liệu phổ hồng
ngoại tương tự như mẫu glucosamin chuẩn.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 15 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Điều chế glucosamin từ chitin/chitosan với tác nhân axit clohiđric và chiếu xạ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Interdisciplinary Sci., 2013, Vol. 58, No. 10, pp. 28-34
ĐIỀU CHẾ GLUCOSAMIN TỪ CHITIN/CHITOSAN
VỚI TÁC NHÂN AXIT CLOHIĐRIC VÀ CHIẾU XẠ
Nguyễn Thị Nhi Phương
Khoa Cơ bản, Trường Đại học Phạm Văn Đồng, Quảng Ngãi
Tóm tắt. Chitin/chitosan là hợp chất có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, đặc biệt
là nguyên liệu để sản xuất các biệt dược, chất chống viêm, nguyên liệu sinh học.
Chitin/chitosan có chủ yếu ở vỏ bọc bên ngoài của các loài động vật giáp xác và côn
trùng. Trong bài báo này tác giả trình bày các điều kiện để điều chế chitin/chitosan
từ vỏ tôm với hiệu suất cao nhất tương ứng các điều kiện phản ứng: nồng độ axit
HCl; thể tích axit HCl; nhiệt độ phản ứng; thời gian bẽ gãy mạch và liều xạ. Cấu
trúc của sản phẩm được xác nhận bằng phương pháp phổ hồng ngoại.
Từ khóa: Điều chế, glucosamin, chitin/chitosan, tác nhân HCl.
1. Introduction
Chitin (kitin) được tìm thấy đầu tiên trong nấm vào năm 1811 do nhà khoa học
Henry Braconnot, ông đặt tên cho chất này là "Fungie" để ghi nhớ nguồn gốc của nó.
Đến năm 1823 Odier phân lập được một chất từ bọ cánh cứng mà ông gọi là chitin, sau
đó vào năm 1934 Children phát hiện ra sự có mặt của nitơ trong phân tử, đến năm 1875
Ledderhose thủy phân vỏ tôm hùm bằng dung dịch HCl và nhận được một muối clorua
của amin 6C. Cuối cùng đều đi đến kết luận chitin có dạng công thức giống xenlulozơ [3].
Công thức cấu tạo của chitin như sau:
Poly(1,4)-2 acetamido 2-deoxy -D-glucoza
Ngày nhận bài: 22/9/2013. Ngày nhận đăng: 24/10/2013.
Tác giả liên lạc: Nguyễn Thị Nhi Phương, địa chỉ E-mail: nhiphuongnpn@gmail.com
28
Điều chế glucosamin từ chitin/chitosan với tác nhân axit clohidric và chiếu xạ
Năm 1894 nhà khoa học người Đức Hoppe Seyler chuyển hoá chitin tạo sản phẩm
mới (dẫn xuất của chitin) được đặt tên là chitosan.
Công thức cấu tạo của chitosan như sau:
Poly(1,4)-2 amido 2-deoxy -D-glucoza
Chitin có chủ yếu trong động vật không xương sống, tạo thành vỏ bọc bên ngoài
của các loài giáp xác và côn trùng. Chitosan là dẫn xuất của chitin thu được từ phản ứng
đeacetyl hóa, tách gốc acetyl khỏi nhóm amino ở vị trí C2. Trên thực tế mạch phân tử
chitosan vẫn tồn tại nhóm acetyl đan xen do sự đeacetyl hóa chưa hoàn toàn. Do đó công
thức chính xác của mạch chitosan như sau:
Chitin/chitosan có trữ lượng rất lớn trong thiên nhiên: lượng chitin/chitosan được
tạo ra trong thiên nhiên ước tính khoảng 100 tỉ tấn/năm, được phân bố rải rác ở các loài
động vật giáp xác và sản lượng chỉ đứng sau xenlulozơ.
Hiện nay, nhiều dự án lớn về nuôi tôm trên cát đang được triển khai như: dự án
2.000 ha nuôi tôm trên cát và nhà máy chế biến tại Hà Tĩnh, dự án xây dựng khu nuôi tôm
công nghiệp trên cát lớn nhất Việt Nam tại Quảng Bình với diện tích 2.800 ha. Theo nhận
định của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (Bộ Thủy sản), xu hướng này sẽ còn tăng
mạnh trong thời gian tới. Qua thống kê của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, Trung
tâm Nghiên cứu Thủy sản III (Bộ Thủy sản) cho thấy, vùng ven biển nước ta có khoảng
100.000 ha đất cát, tập trung chủ yếu tại miền Trung, nhiều nhất là ở Quảng Bình (39.000
ha), Phú Yên (14.000 ha), Quảng Trị (13.000 ha) và Quảng Ngãi (13.000 ha). Tại các tỉnh
Đồng bằng sông Cửu Long diện tích nuôi tôm càng xanh đã tăng nhanh trong những năm
gần đây và hiện đạt gần 5.000 ha, sản lượng đạt mức 1,5 tấn/ha. Vì vậy, nghề nuôi tôm
phát triển mạnh mẽ từ Bắc tới Nam, sản lượng năm sau luôn cao hơn năm trước.
Mặc dù chitin/chitosan có rất nhiều trong tự nhiên, được xem là hợp chất có nhiều
ứng dụng trong y học, có khả năng tự phân huỷ sinh học và tương hợp sinh học, nhưng
quá trình nghiên cứu chitin/chitosan chỉ thực sự có hệ thống vào giữa thế kỉ 20 [1].
Vào năm 1978, một hội nghị đầu tiên nói về chitin và chitosan diễn ra tại Mỹ và thu
hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới. Hiện nay, những nghiên
cứu về chitin và chitosan đã đạt những thành công nhất định. Tại Nhật, một chương trình
nghiên cứu dài hơn 10 năm cũng bắt đầu khởi động. Trung Quốc, tuy là nước bắt đầu
29
Nguyễn Thị Nhi Phương
nghiên cứu chậm hơn so với những nước khác nhưng lại đang phát triển rất nhanh trong
lĩnh vực này [3].
Ở Việt Nam, chitin/chitosan bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1984 tại phòng nghiên
cứu các hợp chất cao phân tử, thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và công nghệ Quốc gia.
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều cơ sở khoa học đang nghiên cứu sản xuất chitin/chitosan
như: Trường Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu polyme
viện Khoa học Việt Nam, Viện Hoá học thuộc phân viện Khoa học Việt Nam tại thành
phố Hồ Chí Minh.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Thực nghiệm
* Xử lí sơ bộ nguyên liệu:
Nguyên liệu là vỏ tôm được mua từ nhà máy đông lạnh. Vỏ tôm được rửa sạch bằng
nước, loại bỏ phần mắt và thịt ở đầu, phơi khô và nghiền nhỏ, lúc này mẫu có màu hồng
sáng.
* Tách chitin/chitosan từ vỏ tôm cua phế thải:
- Nguyên tắc: Công nghệ sản xuất chitin/chitosan dựa trên nguyên tắc loại bỏ muối
khoáng và protein
- Giai đoạn loại protein: Tách protein bằng cách đun cách thủy với dung dịch NaOH
5% ở 90 C trong 2 giờ. Mẫu sau khi loại protein được rửa nhiều lần bằng nước để loại
hết NaOH. Mẫu sau khi rửa sạch kiềm, làm khô nước và tiến hành loại khoáng.
- Giai đoạn loại khoáng: Tách khoáng bằng cách ngâm trong dung dịch HCl 12% ở
nhiệt độ phòng trong 6 giờ (cần thêm HCl vào từ từ vì CO2 thoát ra rất mạnh). Chitin tạo
thành được rửa bằng nước nhiều lần để loại axit.
Tỉ lệ mẫu và hóa chất: 100 g mẫu khô tiêu tốn hết 0,5 l HCl 12% và 0,5 l NaOH
5%, kết quả thu được 16 g chitin.
* Phương pháp xác nhận cấu trúc của glucosamin:
Sử dụng phương pháp Phổ hồng ngoại trên máy Shimadzu FTIR- 8101M (ép viên
với KBr).
2.2. Kết quả và thảo luận
2.2.1. Điều chế glucosamin từ chitin với tác nhân HCl
* Ảnh hưởng của nhiệt độ:
Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến hiệu suất cắt mạch với các thông số
cố định như: Khối lượng chitin:10 g; Thể tích HCl:150 ml; Nồng độ HCl: 10 N; Thời gian
phản ứng: 4 giờ. Kết quả khảo sát được biểu diễn ở Hình 1.
30
Điều chế glucosamin từ chitin/chitosan với tác nhân axit clohidric và chiếu xạ
Hình 1. Sự ảnh hưởng của hiệu suất cắt mạch vào nhiệt độ
Hình 1 cho thấy: Khi nhiệt độ càng tăng thì hiệu suất cắt mạch tăng và đạt cực đại
ở 95 C. Vì vậy, chúng tôi chọn giá trị nhiệt độ này cho các nghiên cứu tiếp theo.
* Ảnh hưởng của nồng độ HCl:
Khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ axit HCl đến hiệu suất cắt mạch với các điều
kiện phản ứng cố định: Khối lượng chitin: 10 g; Thể tích HCl: 150 ml; Thời gian: 4 giờ;
Nhiệt độ: 95 C.
Bảng 1. Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ HCl đến hiệu suất cắt mạch
Nồng độ HCl (N) Hiệu suất (%)
9 23,000
10 25,754
10,5 29,793
11 32,714
11,5 35,612
12 38,660
12,5 38,006
Từ kết quả ở Bảng 1 ta thấy, khi nồng độ HCl càng tăng thì hiệu suất cắt mạch tăng
và đạt cực đại ở 12 N. Vì vậy, chúng tôi chọn nồng độ HCl 12 N cho các nghiên cứu tiếp
theo.
2.2.2. Điều chế glucosamin từ chitin với tác nhân chiếu xạ và HCl
* Ảnh hưởng của thể tích HCl
Khảo sát ảnh hưởng thể tích axit HCl đến hiệu suất cắt mạch ở 3 mẫu có liều xạ
khác nhau và các điều kiện phản ứng cố định: Khối lượng chitin đã chiếu xạ: 10 g; Nồng
độ HCl: 12 N; Thời gian: 4 giờ; Nhiệt độ: 95 C.
31
Nguyễn Thị Nhi Phương
Bảng 2. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thể tích HCl đến hiệu suất cắt mạch
ở 3 mẫu có liều xạ khác nhau
Liều xạ (KGy) Thể tích HCl (ml) Hiệu suất (%)
140 65,190
150 68,104
10 160 71,130
180 84,722
200 74,570
100 57,186
120 67,700
30 140 78,806
150 75,178
160 74,608
90 70,025
100 70,834
50 120 69,352
140 65,454
150 60,340
Nhận xét tổng quát: Qua khảo sát ảnh hưởng của thể tích HCl đến hiệu suất cắt
mạch ở các liều xạ khác nhau ta thấy, ở liều xạ 10 KGy đạt hiệu suất cao nhất và ứng với
thể tích HCl 180 ml, vì thể tích lớn hơn sẽ xảy ra sự phá hủy vòng glucosamin làm cho
hiệu suất giảm xuống.
Vì vậy, chúng tôi chọn mẫu có liều xạ 10 KGy và 180 ml HCl 12 N cho các nghiên
cứu tiếp theo.
* Ảnh hưởng của thời gian phản ứng:
Khảo sát ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến hiệu suất cắt mạch với điều kiện
phản ứng cố định: Khối lượng chitin đã chiếu xạ: 10 g; Nồng độ HCl: 12 N; Thể tích HCl:
180 ml; Liều xạ: 10 KGy; Nhiệt độ: 95 C. Kết quả khảo sát được thể hiện ở Hình 2.
Hình 2. Sự ảnh hưởng của thời gian đến hiệu suất cắt mạch
32
Điều chế glucosamin từ chitin/chitosan với tác nhân axit clohidric và chiếu xạ
Hình 2 cho thấy: Khi tăng thời gian thì hiệu suất cắt mạch tăng và đạt cực đại ở 5
giờ. Nếu tăng thời gian thì hiệu suất cắt mạch giảm do vòng của glucosamin bị phá hủy.
Vì vậy, chúng tôi chọn thời gian cắt mạch tối ưu là 5 giờ.
- Với cùng các giá trị tối ưu được chọn thì mẫu chitin đã chiếu xạ có hiệu suất cắt
mạch cao hơn so với chitin chưa chiếu xạ. Điều này có thể được giải thích là do chiếu xạ
nên mạch chitin đã được cắt sơ bộ thành các oligo chitin.
- Đối với các mẫu chitin đã chiếu xạ: Với liều xạ càng cao thì hiệu suất càng thấp
do khi tăng liều xạ lên cao thì glucosamin sẽ mở vòng và sản phẩm tạo thành không như
mong muốn.
* Phổ hồng ngoại của Glucosamin chuẩn và mẫu nghiên cứu
Hình 3. Phổ hồng ngoại của mẫu glucosamin chuẩn
Hình 4. Phổ hồng ngoại của mẫu glucosamin nghiên cứu
Phổ hồng ngoại (IR) của glucosamin chuẩn (do Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Mỹ
cung cấp) và glucosamin nghiên cứu được trình bày trong Hình 3 và Hình 4. Phổ hồng
ngoại cho thấy có sự hiện diện của liên kết O-H tại 3327 cm 1 (glucosamin chuẩn) và tại
3292 cm 1 (mẫu glucosamin nghiên cứu). Dao động đặc trưng của liên kết amin bậc một
N-H được ghi nhận tại 1628 cm 1 và 1538 cm 1 trong cả hai phổ. Dao động của nhóm
C-O-C cũng được ghi nhận trong phổ hồng ngoại tại vùng hấp thu từ 1022 - 1131 cm 1
trong cả hai phổ. Kết quả trên cho thấy mẫu glucosamin nghiên cứu có dữ liệu phổ hồng
ngoại tương tự như mẫu glucosamin chuẩn.
33
Nguyễn Thị Nhi Phương
3. Kết luận
- Tác giả đã khảo sát một số điều kiện ảnh hưởng đến hiệu suất cắt mạch chitin bằng
tác nhân HCl để điều chế glucosamin hiệu suất cao nhất (65,5%) với các điều kiện phản
ứng như sau: Nồng độ HCl: 12 N; Thể tích HCl: 150 ml/10 g chitin; Nhiệt độ: 95 C.
- Tác giả cũng đã khảo sát một số điều kiện ảnh hưởng đến hiệu suất cắt mạch
chitin để điều chế glucosamin bằng phương pháp kết hợp chiếu xạ và HCl. Kết quả thu
glucosamin hiệu suất cao nhất (84,7%) với các điều kiện phản ứng như sau: Liều xạ: 10
KGy; Nồng độ HCl: 12 N; Thể tích HCl: 180 ml/10 g chitin; Thời gian: 5 giờ; Nhiệt độ:
95 C.
- Với điều kiện phản ứng như nhau, thì mẫu có chiếu xạ cho lượng glucosamin nhiều
hơn mẫu không chiếu xạ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Văn Đàn, Ngô Ngọc Khuyến, 1999. Hợp chất thiên nhiên dùng làm thuốc.
Nxb Y học, Hà Nội.
[2] Nguyễn Quốc Hiến, 2000. Hoá học bức xạ và các quá trình công nghệ bức xạ chế
tạo, biến tính vật liệu polyme. Nxb Đà Lạt.
[3] Wikipedia.
ABSTRACT
The modulation glucosamin from chitin/chitosan
with hydrochloric acid and radiation agents
Chitin/chitosan is a compound substance that has many applications in life, such as
the production of drugs, anti-inflammatory agents, biological rawmaterials. Chitin/chitosan
is found mainly in the external covers of the species of crustaceans and insects. In this arti-
cle, the author presents the conditions for modulating chitin/chitosan from shrimps shells
with high efficiency corresponding to reaction conditions such as: the concentration of
HCl acid, capacity of HCl acid, reaction temperature, time of breaking down artery and
dose.
34
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dieu_che_glucosamin_tu_chitinchitosan_voi_tac_nhan_axit_cloh.pdf