Điều tra dịch tễ tình hình nhiễm vi rút viêm gan B và C tại Hà Nội và Bắc Giang

Mối liên quan thô giữa nhận truyền máu với tình trạng nhiễm HBV (huyết thanh dương tính với HbsAg) được xác định với tỷ số chênh OR = 6,3. Tương tự mối liên quan thô giữa phẫu thuật mổ xẻ với tình trạng nhiễm HCV (huyết thanh dương tính với anti- HCV) được xác định với OR = 13,4. Tuy nhiên khi được kiểm soát với các yếu tố nhiễu tiềm tàng như tuổi, giới tính và tình trạng học vấn, độ mạnh của sự kết hợp giữa nhận tryền máu và mang HbsAg là 4,1. Điều này có nghĩa là những người nhận truyền máu có khả năng mang HbsAg(+) cao gấp 4 lần so với những người không truyền máu. Tuy nhiên mối quan hệ này không có ý nghĩa thông kê với p= 0,11. Mối quan hệ có xu hướng tương tự cũng được thể hiện trong nghiên cứu đo lường mối liên quan giữa truyền máu với tình trạng nhiễm HBV ở những người khỏe mạnh. Tuy nhiên sự kết hợp thu được trong nghiên cứu này nhỏ hơn và giá trị p lớn hơn so với nghiên cứu của chúng tôi (OR thô = 2.11, CI 95%: 0,67 - 6,48 và OR điều chỉnh = 1,26; CI 95%: 0,36 - 4,44). Trong nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù sự kết hợp mạnh được xác định giữa tiền sử phẫu thuật và viêm gan C trong phân tích đơn biến, cỡ mẫu nhỏ đã là một cản trở cho việc khẳng định độ mạnh của sự kết hợp trong phân tích đa biến. Một hạn chế của nghiên cứu này là sử dụng test kit để phát hiện kháng thể kháng HCV chứ không xác định trực tiếp sự có mặt của HCV trong máu. Điều này có thể dẫn đến một ước lượng thấp hoặc cao của con số nhiễm HCV trong thực tế. Một hạn chế nữa của nghiên cứu này là cỡ mẫu chưa đủ để tìm ra mối liên quan giữa các hành vi nguy cơ với lây nhiễm HBV và HCV. Quan hệ nhân quả giữa các yếu tố truyền máu và phẫu thuật với tính trạng nhiễm viêm gan cũng chưa được khẳng định bởi trật tự về mặt thời gian giữa phơi nhiễm và bệnh không được khẳng định trong thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên nhóm hiện mắc. Nghiên cứu được triển khai trên hai địa bàn hẹp của Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Giang. Vì vậy việc khái quát kết quả nghiên cứu ra bên ngoài phạm vi nghiên cứu cần thận trọng.

pdf13 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 26/01/2022 | Lượt xem: 75 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Điều tra dịch tễ tình hình nhiễm vi rút viêm gan B và C tại Hà Nội và Bắc Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 71 ĐIỀU TRA DỊCH TỄ TÌNH HÌNH NHIỄM VI RÚT VIÊM GAN B VÀ C TẠI HÀ NỘI VÀ BẮC GIANG Trần Hữu Bích*, Nguyễn Thúy Quỳnh*, Nguyễn Ngọc Bích*, Trần Văn Thuấn**, Bùi Diệu**, Nguyễn Thị Hoài Nga** TÓM TẮT Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan cao, vì vậy tỷ lệ mới mắc ung thư gan ở cả hai giới chiếm 4% tổng số các ca ung thư, đứng thứ 3 ở nam và đứng thư 5 ở nữ. Mục tiêu: Mô tả một số ñặc ñiểm dịch tễ và xác ñịnh tỉ lệ hiện nhiễm HBV và HCV của người trong độ tuổi từ 15 - 60 hai quận/huyện thuộc hai tỉnh/thành Hà Nội và Bắc Giang. Xác định một số yếu tố liên quan như nhận máu, phẫu thuật dùng chung bàn chải đánh răng, kim châm cứu, bơm kim tiêm... với tình trạng nhiễm HBV và HCV. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích; triển khai trên quần thể từ 15 - 60 tuổi; chọn mẫu xác xuất nhiều giai đoạn ở hai huyện thuộc Hà Nội và Bắc Giang Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HBV và HCV hai địa bàn Hà Nội, Bắc Giang lần lượt là 8,0 % và 2,7%. Tỷ lệ nhiễm HBV và HCV ở Sóc Sơn cao hơn so với Lạng Giang, lần lượt là 9,5% và 6,5% với HBV và 4,5% và 0,5% đối với HCV. Tỷ lệ đối tượng nhiễm cả hai virut viêm gan là 0,3%. Tỷ lệ phân bố của HBV cao ở nữ trong nhóm tuổi 20 - 49. Ba hành vi nguy cơ được coi là liên quan đến tình trạng nhiễm virut viêm gan B và C là dùng chung bơm kim tiêm (BKT), dùng chung kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng. Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin viêm gan B (VGB) ở Sóc Sơn (15,3%) cao hơn ở Lạng Giang (4,5%) với tỷ lệ tương ứng là 15,3% và 4,5%. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HBV và HCV ở Sóc Sơn cao hơn so với Lạng Giang. Tỷ lệ đối tượng nhiễm cả hai virut viêm gan là 0,3%. Tỷ lệ phân bố của HBV cao ở nữ trong nhóm tuổi 20-49. Tuyên truyền nhằm giảm thiểu các nguy cơ cá nhân có thể dẫn đến lây nhiễm viêm gan B và C như dùng chung bơm kim tiêm, kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng. Từ khóa: Điều tra dịch tễ, nhiễm vi rút viêm gan B và C ABSTRACT EPIDEMIOLOGY SURVEY OF HBV AND HCV INFECTION IN HANOI AND BACGIANG PROVINCE Tran Huu Bich, Nguyen Thuy Quynh, Nguyen Ngoc Bich, Tran Van Thuan, Bui Dieu, Nguyen Thi Hoai Nga * Y Hoc TP. Ho Chi Minh – Vol.14 - Supplement of No 4 – 2010 : 71 - 82 Background: Vietnam is one of area where has high HBV and HCV prevalence, therefor, liver cancer incidence was 4%, was third for male and fifth for female. Objective: To describe epidemiology characteristics and measure HBV & HCV prevalence among population from 15 - 60 in 2 districts in Hanoi, Bacgiang. To define main factors relate HBV&HCV prevalence as sharing syringes and needles, sharing acupuncture tool and sharing tooth-brush Methodology: Using cross-sectional study among population aged 15 - 60, random sampling with multi-stages in 2 districts in Hanoi and Bacgiang Result: HBV & HCV prevalence in Hanoi, Bacgiang is 8% and 2.7%. HBV & HCV prevalence in Soc Son is higher than Lang Giang, 9.5% and 6.5% with HBV and 4.5% and 0.5% with HCV. Prevalence for both is 0.3%. HBV prevalence is high among female aged 20 - 49. Three high risk behaviors relate HBV & HCV status are sharing syringes and needles, sharing acupuncture tool and sharing tooth-brush. Percent of HBV vaxin injecting in Soc Son (15.3%) is higher than Lang Giang (4.5%) Conclusion: HBV & HCV prevalence in Soc Son is higher than Lang Giang. Prevalence for both is 0.3%. HBV prevalence is high among female aged 20 - 49. Comunication and education to reduce HBV & HCV high risk as sharing syringes and needles, sharing acupuncture tool and sharing tooth-brush. * Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Hội Y tế CC; ** Bệnh viện K Địa chỉ liên lạc: BS. Nguyễn Hoài Thị Nga. Email: nguyenhoainga@yahoo.com Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 72 Key words: Epidemiology survey, HBV and HCV infection. ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm gan B (VGB) và viêm gan C (VGC) là những nguyên nhân hàng đầu của các bệnh gan mạn tính trên thế giới. HBsAg có ở 58% số bệnh nhân xơ gan và 84% số bệnh nhân ung thư gan nguyên phát. Mặc dù tỷ lệ nhiễm HBV đã giảm trong những năm gần đây do áp dụng thành công chương trình tiêm phòng VGB. Vắc xin VGB đã được vào chương trình tiêm chủng mở rộng dành cho trẻ em và miễn phí cho tất cả trẻ em dưới 6 tuổi. Tiêm phòng vắc xin cũng được khuyến cáo với những người trưởng thành nhưng chưa bị nhiễm HBV, tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng ở nhóm này vẫn chưa cao. Trong khi đó, vi rút viêm gan C (HCV) hiện vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh. Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu tỷ lệ nhiễm, đặc điểm dịch tễ học của hai loại nhiễm khuẩn nói trên một cách có hệ thống. Tỷ lệ bội nhiễm hai loại nhiễm khuẩn trên cũng là vấn đề đáng quan tâm nhưng chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: - Mô tả một số ñặc ñiểm dịch tễ và xác ñịnh tỉ lệ hiện nhiễm HBV và HCV của người dân trong ñộ tuổi từ 15-60 hai quận/huyện thuộc hai tỉnh/thành Hà Nội và Bắc Giang. - Xác ñịnh một số yếu tố liên quan như nhận máu, phẫu thuật dùng chung bàn chải ñánh răng, kim châm cứu, bơm kim tiêm...với tình trạng nhiễm HBV và HCV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Người dân có độ tuổi 15 - 60, tự nguyện tham gia nghiên cứu, có khả năng giao tiếp thông thường. Địa ñiểm nghiên cứu Tại hai huyên là Sóc Sơn Hà Nội và Lạng Giang Bắc Giang. Thiết kế nghiên cứu Mô tả cắt ngang có phân tích. Phương pháp chọn mẫu Chọn mẫu nhiều giai đoạn, đảm bảo tính ngẫu nhiên. Chọn thị trấn và xã. Chọn ngẫu nhiên một xã và một thị trấn. Cụ thể, ở huyện Sóc Sơn chọn thị trấn Sóc Sơn và xã Tiên Dược; ở Lạng Giang là thị trấn Vôi và xã Tân Thanh. Chọn địa bàn điều tra. Chọn xác suất ngẫu nhiên đơn giản để lấy ra 2 tuyến tổ dân phố/cụm dân cư/thôn để tiến hành khảo sát. Chọn hộ gia đình: - Chọn ngẫu nhiên hệ thống 100 hộ gia đình từ danh sách. - Chọn đối tượng điều tra. Sử dụng bảng Kish để lựa chọn ngẫu nhiên thành viên trong hộ gia đình làm đối tượng điều tra. Cỡ mẫu Công thức tính cỡ mẫu: Trong đó: n = cỡ mẫu. p = 0,15 (tỷ lệ nhiễm vi rút HBV, tham khảo một số nghiên cứu). z2 1-α/2 = 1,96 (mức ý nghĩa α = 0,05). d = 0,05 (sai số tối đa cho phép). Do chọn mẫu nhiều giai đoạn được lựa chọn nên cỡ mẫu được tính là: n = 196 x 2 = 392 (với 2 là tác động do thiết kế mẫu nhiều giai đoạn/cụm). Nhằm đảm bảo đủ cỡ mẫu cho ước lượng tỷ lệ, tỷ lệ từ chối được ước tính là 5%. Như vậy cỡ mẫu cần thiết tối thiểu để điều tra tại mỗi quận/huyện là: 392 + 392 x 0,05 = 412 người. Và cỡ mẫu cần thiết cho mỗi xã/thị trấn = 412/2 = 206 người. Phương pháp thu thập số liệu Thông tin liên quan đến tình trạng nhiễm HBV và HCV được thu thập thông qua xét nghiệm huyết thanh xác định sự hiện diện của kháng nguyên bề mặt HbsAg và kháng thể kháng HCV bằng test sàng lọc. Các thông tin liên quan đến các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm viêm gan nói chung cũng như các thục hành phòng chống nhiễm viêm gan được thu thập thông qua phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi định lượng. Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 73 Quy trình phỏng vấn Điều tra viên lần lượt thực hiện các bước sau: Giải thích cho đối tượng phỏng vấn về tính bảo mật thông tin. Đọc lần lượt từng câu hỏi trong bảng hỏi cho đối tượng phỏng vấn nghe và trả lời. Hẹn lịch xét nghiệm. Xét nghiệm Mẫu máu của đối tượng được xét nghiệm tại chỗ bằng test xét nghiệm nhanh (kết quả nhận được sau 15 – 20 phút): SD bioline HBsAg (độ nhạy 99%, độ đặc hiệu 100%) để tìm kháng nguyên bề mặt HBsAg và SD bioline HCV (độ nhạy 99%, độ đặc hiệu 99,4%) để xác định kháng thể kháng HCV trong huyết thanh của đối tượng.. Xử lý và phân tích số liệu Phân tích thống kê thích hợp được thực hiện bởi phần mềm Stata 9.0. Mức ý nghĩa 0,05. Tỷ số chênh OR bao gồm OR thô và OR được hiệu chỉnh với một số yếu tố nhiễu tiềm tàng được lựa chọn là đơn vị đo lường sự kết hợp giữa hai yếu tố. Các biến số/chỉ số nghiên cứu chính Tên biến Định nghĩa biến Thông tin chung về hộ gia ñình Là các thông tin về nhân khẩu học, số thành viên trong ñộ tuổi 15 – 60 và tiền sử xét nghiệm VGB, VGC Thông tin chung về ñối tượng Là các thông tin về tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, tình trạng học vấn và nghề nghiệp hiện nay HBsAg phát hiện ra HBsAg trong huyết thanh của một người chứng tỏ người ñó có HBV và có khả năng truyền bệnh cho người khác Anti HCV Xét nghiệm máu xác ñịnh có kháng thể HCV trong huyết thanh Từng tiêm thuốc/truyền dịch Là thông tin về tiền sử ñã từng tiêm thuốc/truyền dịch Nhận máu Là thông tin về tiền sử ñã từng nhận máu của người khác Hiến máu Tiền sử ñã từng hiến máu, bao gồm cả hiến máu nhân ñạo và bán máu Dùng lại bơm kim tiêm Là tiến sử ñã từng sử dụng lại bơm kim tiêm Tên biến Định nghĩa biến Chữa răng/làm răng Là tiền sử ñã từng chữa răng, làm răng Phẫu thuật Là tiền sử ñã từng phẫu thuật, mổ xẻ Chạy thận nhân tạo Là tiền sử ñã từng chạy thận nhân tạo Sử dụng vật dụng sắc nhọn Tiền sử ñã từng châm cứu, xăm trổ, dùng chung dao cạo râu Hành vi tình dục Quan hệ tình dục với nhiều người hay không, tuổi quan hệ tình dục lần ñầu, sử dụng bao cao su không Sử dụng bơm kim tiêm Tiền sử từng sử dụng bơm kim tiêm, sử dụng chung bơm kim tiêm và sử dụng ma túy Các đối tượng nghiên cứu có kết quả xét nghiệm dương tính, không cung cấp các xét nghiệm khẳng định tình trạng nhiễm HBV và HCV nhưng sẽ cung cấp thông tin về viêm gan B và viêm gan C, các biện pháp dự phòng lây nhiễm cũng như một số địa chỉ mà đối tượng có thể nhận được tư vấn kỹ hơn.. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 1. Đặc điểm về hộ gia đình của quần thể nghiên cứu Số thành viên trong hộ gia ñình Số hộ gia ñình Trung bình Khoảng tin cậy 95% Huyện Sóc Sơn Thị trấn Sóc Sơn 215 3,22 3,07 – 3,36 Xã Tiên Dược 199 4,13 3,94 – 4,32 Huyện Lạng Giang Thị trấn Vôi 200 3,48 3,33 – 3,64 Xã Tân Giang 200 3,61 3,46 – 3,77 Số thành viên trung bình trong một hộ gia đình ở địa bàn xã xã đều lớn hơn số thành viên trung bình ở hộ gia đình thuộc khu vực thị trấn. Sự khác biệt Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 74 này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 ở cả hai huyện nghiên cứu. Bảng 2. Đặc điểm nhân khẩu của đối tượng nghiên cứu Đặc ñiểm Sóc Sơn Lạng Giang Chung N (%) N (%) N (%) Giới tính Nam 133 32,1 156 39,0 289 35,5 Nữ 281 67,9 244 61,0 525 64,5 Tổng 414 100 400 100 814 100 Nhóm tuổi 15 – 20 39 9,4 45 11,3 84 10,3 20 – 29 80 19,4 98 24,5 178 21,9 30 – 39 123 29,8 110 27,5 233 28,7 40 – 49 98 23,7 96 24,0 194 23,9 49 – 60 73 17,7 51 12,7 124 15,2 Tổng 413 100 400 100 813 100 Tình trạng hôn nhân Chưa lập gia ñình 78 19 71 17,8 149 18,4 Sống với vợ/chồng 305 74,2 309 77,4 614 75,8 Ly hôn/ly thân/góa 28 6,8 19 4,8 47 5,8 Tổng 411 100 399 100 810 100 Tổng số 814 người được phỏng vấn, 779 người đã được lấy máu xét nghiệm tình trạng nhiễm HBV và HCV ở cả hai địa bàn nghiên cứu. Trong tổng số 779 người có 388 người ở Sóc Sơn và 391 người ở Lạng Giang. Bảng 3. Phân bố tỷ lệ đối tượng có HBsAg và Anti-HCV theo địa bàn nghiên cứu Sóc Sơn Lạng Giang Chung Tình trạng viêm gan Thị trấn Sóc Sơn (N=196) Xã Tiên Dược (N=192) Chung (N=388) Thị trấn Vôi (N=192) Xã Tân Thanh (N=199) Chung (N=391) (N=779) HbsAg (+) n (%) 15 (7,6%) 22 (11,5%) 37 (9,5%) 13 (6,8%) 12 (6,0) 25 (6,4%) 62 (8,0%) Anti – HCV (+) n (%) 9 (4,6%) 10 (5,2%) 19 (4,9%) 0 (0%) 2 (1,0%) 2 (0,5%) 21 (2,7%) Tỷ lệ anti HCV ở Sóc Sơn cao hơn ở Lạng Giang (4,9% so với 0, 5%) một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Sự khác biệt giữa tỷ lệ HBsAg ở Sóc Sơn (9,5%) so với Lạng Giang (6,4%) không có ý nghĩa thống kê với p = 0,105. Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 75 Biểu đồ 1. Phân bố tỷ lệ đối tượng hiện có HBsAg và anti HCV theo loại nhiễm Tỷ lệ các đối tượng dương tính với cả 2 loại xét nghiệm không cao, chiếm 0,3%. Có 2/62 người nhiễm HBV có kết quả dương tính với xét nghiệm tìm anti HCV, chiếm tỷ lệ 3,3%. Biểu đồ 2. Phân bố tỷ lệ đối tượng hiện có HBsAg theo nhóm tuổi và giới tính Tỷ lệ hiện mắc HBsAg ở nữ cao hơn nam ở các nhóm tuổi từ 20 - 49 và thấp hơn ở nhóm 15-20 tuổi và 49 - 60 tuổi. Trong nhóm nam, phân bố HBsAg khá đồng đều ở các lứa tuổi, chênh lệch về tỷ lệ HBsAg giữa nhóm cao nhất (10,1%) so với nhóm thấp nhất (6,5%) chưa đến 4%. Trong khi đó, ở nhóm nữ, phân bố tỷ lệ HBsAg theo nhóm tuổi có sự chênh lệch; nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất là nhóm 40 - 49 tuổi (10,3%) so với nhóm có tỷ lệ mắc thấp nhất là nhóm 49 - 60 tuổi (2,7%). Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (p = 0,05). 90% 8% 2% 0,3% không nhiễm HBsAgHBsAg anti HCV Cả 2 loại Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 76 Biểu đồ 3. Phân bố tỷ lệ hiện mắc anti HCV theo nhóm tuổi và giới tính Tỷ lệ mang anti HCV ở nữ cao hơn nam ở tất cả các nhóm tuổi. Trong nhóm nữ, sự khác biệt về tỷ lệ mang anti HCV giữa các nhóm tuổi không đáng kể (nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất là 4,9% so với tỷ lệ thấp nhất là 2,7%). Trong nhóm nam, do số người mang anti HCV thấp (chỉ có 2 đối tượng) nên việc so sánh không có ý nghĩa. Tiêm vaxin phòng nhiễm VGB thường được chỉ định cho những người chưa nhiễm HBV. Đây được coi là biện pháp thực hành có hiệu quả trong phòng chống nhiễm HBV trong cộng đồng. Bảng 4. Tình hình tiêm phòng HBV theo địa bàn nghiên cứu. Sóc Sơn Lạng Giang Chung Tiêm phòng HBV Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%) Chưa tiêm 349 84,7 380 95,5 729 90 Đã tiêm 63 15,3 18 4,5 81 10 Tổng 412 100 398 100 810 100 χ2 = 26.08; p < 0.001 Tỷ lệ tiêm phòng VGB ở cả hai địa bàn nghiên cứu là 10%. Tỷ lệ tiêm phòng ở Sóc Sơn cao hơn ở Lạng Giang với tỷ lệ tương ứng là15,3% và 4,5% (p < 0,001). Bảng 5. Phân bố tần suất các hành vi nguy cơ theo địa bàn nghiên cứu Sóc Sơn Lạng Giang Chung Tầ n số Tỷ lệ % Tầ n số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Tiêm thuốc/truyền dịch Chưa bao giờ 13 9 34, 7 69 17, 6 208 26, 3 1 lần 34 8,5 39 10, 0 73 9,2 2-3 lần 76 19, 0 75 19, 1 151 19, 0 Nhiều hơn ba lần 15 1 37, 8 20 9 53, 3 360 45, 5 Tổng 40 0 10 0 39 2 10 0 792 100 Nhận máu từ người khác Chưa bao giờ 40 2 97, 8 39 3 98, 2 795 98, 0 1 lần 6 1,5 4 1 10 1,2 2-3 lần 3 0,7 2 0,5 5 0,7 Nhiều hơn ba lần 0 0 1 0,3 1 0,1 Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 77 Sóc Sơn Lạng Giang Chung Tầ n số Tỷ lệ % Tầ n số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Tổng 41 1 10 0 40 0 10 0 811 100 Dùng chung BKT Chưa bao giờ 30 1 80, 9 23 9 62, 5 540 71, 6 1 lần 11 3,0 4 1,1 15 2,0 2 - 3 lần 25 6,7 24 6,3 49 6,5 Nhiều hơn ba lần 35 8,4 11 5 30, 1 150 19, 9 Tổng 37 2 10 0 38 2 10 0 754 100 Chữa răng/làm răng Chưa bao giờ 26 7 64, 5 24 2 60, 6 509 62, 6 1 lần 73 17, 6 71 17, 8 144 17, 7 2 - 3 lần 49 11, 8 55 13, 8 104 12, 8 Nhiều hơn ba lần 25 6,1 31 7,8 56 6,9 Tổng 41 4 10 0 39 9 10 0 813 100 Phẫu thuật/mổ xẻ Chưa bao giờ 31 0 74, 8 32 5 81, 6 635 78, 2 1 lần 79 19, 1 64 16, 1 143 17, 6 2 - 3 lần 24 5,8 9 2,3 33 4,0 Nhiều hơn ba lần 1 0,3 0 0 1 0,1 2 Tổng 41 4 10 0 39 8 10 0 812 100 Dùng chung kim châm cứu Chưa bao giờ 50 61, 7 24 26, 2 74 45, 4 Sóc Sơn Lạng Giang Chung Tầ n số Tỷ lệ % Tầ n số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % 1 lần 14 17, 3 16 19, 5 30 18, 4 2-3 lần 6 7,4 19 23, 2 25 15, 3 Nhiều hơn ba lần 11 13, 6 23 28, 1 34 20, 9 Tổng 81 10 0 82 10 0 163 100 Dùng chung bàn chải ñánh răng Chưa bao giờ 28 3 71, 3 21 7 59, 0 500 65, 4 1 lần 8 2,0 0 0 8 1,0 2-3 lần 23 5,8 24 6,5 47 6,1 Nhiều hơn ba lần 83 20, 9 12 7 34, 5 210 27, 5 Tổng 39 7 10 0 36 8 10 0 765 100 Tiêm thuốc và truyền dịch là các thực hành phổ biến. Số liệu bảng 10 cho thấy 73,7% đối tượng được phỏng vấn đã truyền dịch ít nhất một lần, tỷ lệ này ở Lạng Giang cao hơn so với ở Sóc Sơn (lần lược là 84,4% và 65,3%). Số người nhận máu truyền chỉ chiếm 1,97% trong tổng số người được hỏi. Đáng chú ý là tỷ lệ sử dụng kim tiêm ở Lạng Giang cao (37,4%) hơn so với ở Sóc Sơn (18,1%), p < 0,001. Tỷ lệ từng sử dụng kim tiêm dùng nhiều lần với tần suất nhiều hơn ba lần khá cao, tương ứng ở Sóc Sơn và Lạng Giang và Sóc Sơn là 30,1% và 8,4%. Sự chênh lệch giữa hai tỷ lệ một lần nữa cho thấy việc sử dụng kim tiêm dùng nhiều lần ở Lạng Giang là phổ biến hơn ở Sóc Sơn. Gần 11% cho biết còn sử dụng chung dao cạo râu. Đặc biệt, khoảng 6,4% đối tượng báo cáo từng sử dụng chung dao cạo râu nhiều hơn ba lần. Tỷ lệ dùng chung dao cạo râu ở Lạng Giang cao hơn ở Sóc Sơn. 8,8% so với 4,1%. Hành vi quan hệ tình dục với nhiều người không phổ biến, chỉ chiếm 1,6%, lần lượt là 2% và Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 78 1,3% ở Sóc Sơn và Lạng Giang. Với tính nhạy cảm của câu hỏi, ta có thể dự đoán kết quả tìm được là một ước lượng thấp của con số trong thực tế. 59.46 2.037.43 31.08 64.53 0.435.56 29.49 22.22 25 22.22 30.56 34.78 15.22 23.91 26.09 60.56 07.04 32.39 57.96 06.19 35.84 0 20 40 60 80 100 120 nam nữ nam nữ nam nữ dùng chung bơm kim tiêm dùng chung kim châm cứu dùng chung bàn chải chưa bao giờ một lần 2-3 lần nhiều hơn 3 lần Biểu đồ 4. Phân bố tỷ lệ ba hành vi nguy cơ theo giới tính ở Lạng Giang Đo lường mức độ phổ biến của ba hành vi nguy cơ (dùng chung BKT, dùng chung kim châm cứu, dùng chung bàn chải đánh răng) theo hai giới nam và nữ tại địa bàn Lạng Giang. Tỷ lệ các hành vi nguy cơ đối chiếu theo giới có sự chênh lệnh nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Bảng 6. Phân bổ tần suất hành vi sử dụng chung BKT theo nhóm tuổi ở hai địa bàn nghiên cứu Nhóm tuổi Sử dụng chung kim tiêm 15 – 20 20 – 29 30 – 39 40 – 49 49 – 60 Sóc Sơn (37) (72) (110) (88) (64) Chưa bao giờ 89,19 90,28 86,36 78,41 59,38 Một lần 0 1,39 4,55 3,41 3,13 2-3 lần 0 4,17 4,55 9,09 14,06 Nhiều hơn ba lần 10,81 4,14 4,55 9,09 23,44 Lạng Giang (42) (94) (107) (91) (48) Chưa bao giờ 92,86 75,53 51,4 57,14 45,83 Một lần 0 1,06 0,93 1,1 2,08 2-3 lần 0 4,26 8,41 7,69 8,33 Nhiều hơn 7,14 19,15 39,25 34,07 43,75 ba lần Hành vi sử dụng chung BKT khá phổ biến. Sự phân bố của việc sử dụng chung BKT theo nhóm tuổi cho thấy việc sử dụng chung BKT diễn ra nhiều nhất tại nhóm tuổi trên 49 (lớn hơn 40%). Hầu hết những đối tượng có sử dụng chung BKT đều là những người có hành vi này nhiều lần (đặc biệt có nhóm có mức độ thường xuyên, 23% nhóm trên 40 tuổi dùng chung nhiều hơn ba lần). Chỉ có một số ít đối tượng sử dụng chung BKT một lần. Tại Lạng Giang, việc sử dụng chung BKT diễn ra có phần nhiều hơn so với Sóc Sơn Bảng 7. Phân bổ tần suất hành vi sử dụng chung bàn chải đánh răng theo nhóm tuổi ở hai địa bàn nghiên cứu Nhóm tuổi Sử dụng chung bàn chải ñánh răng 15 - 20 20 – 29 30 – 39 40 – 49 49 – 60 Sóc Sơn (35) (78) (120) (94) (69) Chưa bao giờ 68,6 74,4 75 62,8 73,9 Một lần 0 1,3 0,8 3,2 4,3 2-3 lần 8,6 5,1 5 6,4 5,8 Nhiều hơn ba lần 22,9 19,2 19,2 27,7 16 Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 79 Lạng Giang (43) (90) (101) (87) (47) Chưa bao giờ 76,7 56,7 59,4 55,2 59 Một lần 0 0 0 0 0 2-3 lần 2,3 6, 7 6,9 8,0 6,5 Nhiều hơn ba lần 20,9 36, 7 33,7 36,8 40,4 Tại Sóc Sơn tỷ lệ hành vi sử dụng chung bàn chải đánh răng cao nhất tại nhóm 40-49 tuổi (27,6%), tỷ lệ tương ứng ở Lạng Giang là 40,4% ở nhóm 49 – 60 tuổi. Bảng 8. Mối liên quan giữa nhận máu với tình trạng có HBsAg tại Sóc Sơn HBsAg Dương tính Âm tính Tổng Nhận máu Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Có 1 9,1 10 91,9 11 100 Không 38 10,9 340 89,1 378 100 Tổng 39 10,0 350 90,0 389 100 χ2 = 0,01; p = 0,32; OR = 0,9; KTC 95% (0,02 – 6,6) Tỷ lệ có HBsAg trong nhóm có nhận máu không thấp hơn nhiều so với nhóm chưa từng nhận máu từ người khác; 9,1% so với 10,9% và không có sự kết hợp giữa thống kê giữa hai yếu tố. Bảng 9. Mối liên quan giữa việc nhận máu với việc mang anti HCV tại Sóc Sơn Anti HCV Dương tính Âm tính Tổng Nhận máu Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Có 1 11,1 8 88,9 9 100 Không 18 4,8 358 95,2 376 100 Tổng 19 4,9 366 95,1 385 100 χ2 = 0,75; p = 0,39; OR = 2,5; KTC 95% (0,3 – 21,1) Kết quả cho thấy những người nhận máu từ người khác co khả năng bi có anti HCV cao gấp 2,5 lần so với những người không nhận máu. Tuy nhiên sự kết hợp này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,39 > 0,05). Mặc dù vậy, với khoảng tin cậy 95% rộng (0,3 - 21,1) có xu hướng nghiêng về sự kết hợp dương tính cho ta gợi ý về sự thiếu hụt mẫu nghiên cứu trong việc đảm bảo sự kết hợp có ý nghĩa thống kê giữa việc nhận mãu với lây nhiễm HCV. Bảng 10. Đo lường mối liên quan giữa việc nhận máu với lây nhiễm HBsAg tại Lạng Giang HBsAg Dương tính Âm tính Tổng Nhận máu Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Có 2 28,6 5 71,4 7 100 Không 23 6,0 361 94 366 100 Tổng 25 6,4 366 93,6 391 100 χ2 = 5,86; p = 0,016; OR = 6,3; KTC 95% (1,1 – 34,6) Những người nhận máu có khả năng có HBsAg cao gấp 6,3 lần người không nhận máu từ người khác. Phân tích đo lường mối liên quan giữa dùng chung BKT, mổ xẻ, dùng chung kim châm cứu với tình trạng mang HBsAg cho thấy không có mối liên quan giữa các yếu tố này với tình trạng mang HBsAg. Không có mối liên quan giữa nhận máu từ người khác, dùng chung kim châm cứu với tình trạng mang HCV. Bảng 11. Mối liên quan giữa việc từng được phẫu thuật/mổ xẻ với anti HCV (+) tại Lạng Giang Anti HCV Dương tính Âm tính Tổng Phẫu thuật Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ % Có 3 4,0 71 96,0 74 100 Không 1 0,3 318 99,7 389 100 Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 80 Tổng 4 1,0 389 99,0 393 100 χ2 = 8,34; p = 0,004; OR = 13,4; KTC 95% (1,1 – 707,4) Những người ở Lạng Giang đã từng được phẫu thuật/mổ xẻ có khả năng mang anti HCV cao gấp 13,4 lần so với người chưa từng được phẫu thuật/mổ xẻ. Bảng 12. Mô hình hồi quy logistic đo lường mối liên quan giữa nhận truyền máu với tình trạng mang HbsAg kiểm soát với các yếu tố tuổi, giới, học vấn. Mang HBsAg OR KTC 95% P Từng nhận máu của người khác 4,1 0,7 – 23,2 0,112 Nhóm tuổi 2,6 0,6 – 11,8 0,213 Giới tính 0,5 0,2 – 1,3 0,155 Trình ñộ học vấn 1,4 0,6 – 3,3 0,425 Mối liên quan giữa việc từng nhận máu với mang HBsAg không còn mang ý nghĩa thống kê (p = 0,112), cho dù sự kết hợp vẫn khá mạnh (OR = 4,1) khi nó được đưa vào mô hình hồi qui logistic kiểm soát với các yếu tố nhiễu tiềm tàng. BÀN LUẬN Tỷ lệ đối tượng có HBsAg trong nghiên cứu này là 8%, tỷ lệ ở Sóc Sơn cao hơn so với Lạng Giang. Theo tổ chức y tế thế giới, vắc xin VGB có hiệu lực phòng bệnh khoảng 95%. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng VGB chưa cao. Ở Sóc Sơn, tỷ lệ này là 15,3%; tỷ lệ ở Lạng Giang thậm chí còn thấp hơn, chỉ 4,5% (p < 0,001). Vắc xin VGB sản xuất trong nước được lưu hành từ 1999 và chỉ được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 2002 dành cho trẻ dưới 6 tuổi. Như vậy, thế hệ trẻ được hưởng lợi ích từ chương trình này không nằm trong khoảng tuổi được điều tra. Đây có thể là giải thích cho tỷ lệ tiêm chủng thấp như vậy. Bội nhiễm HBV và HCV chiếm một tỷ lệ tương đối trong số các trường hợp bệnh gan trên toàn cầu. Hiện chưa có một phác đồ điều trị bội nhiễm HBV/HCV cụ thể mà phải phụ thuộc vào từng trường hợp. Trong khi đó, chưa có số liệu về tỷ lệ bội nhiễm HBV/HCV trên thế giới và ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, 2 đối tượng (0.25%) có kết quả xét nghiệm dương tính với cả HBsAg và anti-HCV, nghĩa là tỷ lệ anti-HCV trong những người mang HBsAg là 3,2%. Tỷ lệ có HBsAg nhiều hơn ở nhóm đã tiêm vắc xin phòng bệnh (9,46% so với 7,85%) nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Xét nghiệm HBsAg chỉ xác định liệu cơ thể có bị nhiễm HBV không mà chưa đánh giá được tình trạng miễn dịch của cơ thể. Những đối tượng vừa tiêm phòng HBV có thể dương tính với xét nghiệm này. Như vậy, một khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo là tiến hành thêm xét nghiệm anti Hbs để xác định tình trạng miễn dịch của cơ thể, qua đó đánh giá tình trạng nhiễm HBV tại thời điểm nghiên cứu. Tại địa bàn Lạng Giang, chúng tôi tìm thấy mối liên quan giữa việc từng được nhận máu với việc mang HBsAg và giữa việc từng được phẫu thuật với mang dấu ấn của HCV. Trên thế giới và ngay tại Việt Nam, truyền máu được coi là một trong những đường lây truyền cần được theo dõi sát sao. Theo đánh giá của Viện Huyết học và truyền máu Trung ương năm 2007 thì việc lấy máu, truyền máu, sàng lọc máu tại Việt Nam vẫn chưa được đảm bảo. Sóc Sơn và Lạng Giang có điều kiện tự nhiên, kinh tế và y tế khá giống với địa bàn của nghiên cứu trên. Kết quả tìm ra được của nghiên cứu khẳng định thêm khả năng về việc lây truyền HCV qua đường truyền máu góp phần chỉ ra được thực trạng tại Việt Nam. Việc phẫu thuật không phổ biến trong quần thể nghiên cứu. Tỷ lệ 20% người mắc HBsAg trong nghiên cứu thấp hơn so với nghiên cứu trên đối tượng người lao động trên biển của Phạm Văn Thức và cộng sự sự, 57,1%. Về việc dùng kim châm cứu, đối với những người mắc HBsAg, có đến hơn 60% có sử dụng kim châm cứu, tuy nhiên trong nghiên cứu này, việc sử dụng các phương pháp thống kê chưa đem lại kết quả chứng minh rõ ràng việc ảnh hưởng của dùng chung kim châm cứu tới tình trạng nhiễm HBsAg hay HCV. Việc dùng kim châm cứu phổ biến hầu hết chỉ ở các nước Châu Á, không có nhiều nghiên cứu xác định về vấn đề này, tuy nhiên, việc dùng chung kim châm cứu cũng được đánh giá là có khả năng Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 81 cao trong việc lây truyền HBsAg cũng như HCV. Với việc phân bố hành vi, tại địa bàn Lạng Giang, việc tỷ lệ dùng chung kim châm cứu cao hơn so với ở Sóc Sơn cũng là một điều đáng lưu ý trong công cuộc kiểm soát HBsAg và HCV. Về việc dùng chung bàn chải đánh răng và dao cạo râu cũng còn một số người thực hiện. Đối với bàn chải đánh răng, vẫn còn 25% những người mắc HBsAg sử dụng chung bàn chải thường xuyên, và 4,5% là những người mắc HCV sử dụng thường xuyên. Mối liên quan thô giữa nhận truyền máu với tình trạng nhiễm HBV (huyết thanh dương tính với HbsAg) được xác định với tỷ số chênh OR = 6,3. Tương tự mối liên quan thô giữa phẫu thuật mổ xẻ với tình trạng nhiễm HCV (huyết thanh dương tính với anti- HCV) được xác định với OR = 13,4. Tuy nhiên khi được kiểm soát với các yếu tố nhiễu tiềm tàng như tuổi, giới tính và tình trạng học vấn, độ mạnh của sự kết hợp giữa nhận tryền máu và mang HbsAg là 4,1. Điều này có nghĩa là những người nhận truyền máu có khả năng mang HbsAg(+) cao gấp 4 lần so với những người không truyền máu. Tuy nhiên mối quan hệ này không có ý nghĩa thông kê với p= 0,11. Mối quan hệ có xu hướng tương tự cũng được thể hiện trong nghiên cứu đo lường mối liên quan giữa truyền máu với tình trạng nhiễm HBV ở những người khỏe mạnh. Tuy nhiên sự kết hợp thu được trong nghiên cứu này nhỏ hơn và giá trị p lớn hơn so với nghiên cứu của chúng tôi (OR thô = 2.11, CI 95%: 0,67 - 6,48 và OR điều chỉnh = 1,26; CI 95%: 0,36 - 4,44). Trong nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù sự kết hợp mạnh được xác định giữa tiền sử phẫu thuật và viêm gan C trong phân tích đơn biến, cỡ mẫu nhỏ đã là một cản trở cho việc khẳng định độ mạnh của sự kết hợp trong phân tích đa biến. Một hạn chế của nghiên cứu này là sử dụng test kit để phát hiện kháng thể kháng HCV chứ không xác định trực tiếp sự có mặt của HCV trong máu. Điều này có thể dẫn đến một ước lượng thấp hoặc cao của con số nhiễm HCV trong thực tế. Một hạn chế nữa của nghiên cứu này là cỡ mẫu chưa đủ để tìm ra mối liên quan giữa các hành vi nguy cơ với lây nhiễm HBV và HCV. Quan hệ nhân quả giữa các yếu tố truyền máu và phẫu thuật với tính trạng nhiễm viêm gan cũng chưa được khẳng định bởi trật tự về mặt thời gian giữa phơi nhiễm và bệnh không được khẳng định trong thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên nhóm hiện mắc. Nghiên cứu được triển khai trên hai địa bàn hẹp của Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Giang. Vì vậy việc khái quát kết quả nghiên cứu ra bên ngoài phạm vi nghiên cứu cần thận trọng. KẾT LUẬN Nghiên cứu này tìm thấy tỷ lệ mang HBsAg trong cộng đồng là 8,0%. Tỷ lệ ở Sóc Sơn (9,54%) cao hơn ở Lạng Giang (6,39%). Tuy nhiên sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ anti-HCV (+) là 2,7%.Trong số những người mang HBsAg, tỷ lệ có anti HCV là 3,3%; Trong quần thể nghiên cứu có 0,3% đối tượng dương tính với cả hai loại xét nghiệm sàng lọc viêm gan vius B và C. Tỷ lệ phân bố của HbsAg (+) cao hơn ở nữ trong nhóm tuổi từ 20 - 49 ở cả hai địa bàn nghiên cứu. Ba hành vi nguy cơ phổ biến nhất trong các hành vi nguy cơ được coi là có liên quan đến tình trạng nhiễm virut VGB và C là dùng chung BKT, dùng chung kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng. Trong đó, dùng chung BKT với người khác (26,1%), chữa răng và làm răng (37,4%), dùng chung kim châm cứu (46,8% trong số những người đã từng châm cứu) và dùng chung bàn chải đánh răng (32,86%). Tại Sóc Sơn, không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ tiềm tàng với tình trạng nhiễm HBV và HCV. Tuy nhiên, tại Lạng Giang, trong phân tích đơn biến, người nhận truyền máu có khả năng bi nhiễm HBV cao gấp 6,3 lần so với người không nhận máu từ người khác (OR 95%: 1,1 - 34,6). Những người có tiền sử phẫu thuật có khả năng bị nhiễm viêm gan C cao gập 13,4 lần so với người không bị phẫu thuật/mổ xẻ (OR 95%: 1,1 - 707,4). Tỷ lệ tiêm phòng VGB tại địa bàn nghiên cứu là 15,3% ở Sóc Sơn và 4,5%, ở Lạng Giang.g TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bo-Moon Shin, Hyeon Mi Yoo, Ae Sook Lee, Sang Keun Park. Seroprevalence of Hepatitis B virus among Health Care Workers in Korea. Journal of Korean Medicine & Science 2006; 2005. 21: 58-62 2. Gilbert Siame (2006). Hepatitis B and hepatitis C prevalence in HIV positive pregnant women, Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 82 2006. International Meeting of The Institute of Human Virology, Baltimore, USA. 17–21 November, 2006. Published: 21 December 2006. 3. J. Abbas, S. Shahnaz, M. Kamyar, M. Shahram & S. A. Hossein. Prevalence of Hepatitis B and C Infections and Their Associated Risk Factors in Addict Prisoners of Central Provinces of Iran. The Internet Journal of Epidemiology. 2006 Volume 3 Number 1. 4. Nguyễn Mai Anh và cộng sự (2002), Tình hình nhiễm vi rút VGB ở cộng đồng qua điều tra tại một số tỉnh phía Bắc năm 2000. Tạp chí thông tin Y dược học. Số đặc biệt chuyên đề gan mật Tr1- 5. 5. Nguyễn Thu Vân (2004) Dịch tễ học phân tử nhiễm virus VGC tại Hà Nội. Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Bộ. 6. Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng sự (2007). Mối liên quan giữa chấn thương do vật sắc nhọn và bệnh VGB trong nhân viên y tế. Báo cáo tại Hội nghị châu á Thái bình dương lần thứ 2 về Phòng chống TNTT. 7. Parkin DM & all, 2005. Cancer incidence in five continents. IARC CancerBase No7, Lyon 2005. 8. Suzuki H, Woodfield G. Viral hepatitis in Asia: Summary of a plenary session. In: Nishioka K, Suzuki H, Mishiro S, Oda T, eds.Viral hepatitis and liver disease. Tokyo: Springer Verlag,1994:385-402. 9. Zhannat Z Nurgalivea, F Blaine Hollinger, David Y Graham et al (2007). Epidemiology and transmission of hepatitis B and C viruses in Kazakhtan. Tổng quan Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Chuyên ñề Ung Bướu 83

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdieu_tra_dich_te_tinh_hinh_nhiem_vi_rut_viem_gan_b_va_c_tai.pdf
Tài liệu liên quan