Tổng số 44.395 mẫu huyết thanh được thu
thập từ năm 2010 đến năm 2015 ở 21 tỉnh của
Trung Quốc. Kết quả kiểm tra huyết thanh học
cho thấy tỷ lệ dương tính trung bình là 41,19%.
Vì chưa có vacxin phòng M. synoviae cho gà ở
Trung Quốc, nên kháng thể phát hiện được ở
những gia cầm này có thể hình thành do nhiễm
trùng tự nhiên. Kết quả cho thấy rằng nhiễm
M. synoviae đã trở nên phổ biến ở Trung Quốc
trong những năm gần đây.
Nhiễm trùng M. synoviae gây thiệt hại về
kinh tế. Ở gà thịt, nhiễm M. synoviae có thể
làm tăng tỷ lệ chết, chuyển hóa thức ăn và loại
thải. Ở gà giống và gà thịt, gây giảm đẻ trứng
và tăng chí phí điều trị, dẫn tới tổn thất kinh tế.
Một nghiên cứu trước đây cho thấy nhiễm M.
synoviae gây giảm đáng kể sản lượng trứng ở gà
đẻ và thường gặp hơn ở những trại nuôi nhiều
lứa tuổi gà khác nhau (Aras và Sayin, 2014).
Ở nghiên cứu này, chúng tôi phân tích huyết
thanh từ những nhóm gà khác nhau. Tỷ lệ lưu
hành huyết thanh của gà thịt là thấp nhất nếu
so với gà đẻ và gà giống. Có thể giải thích cho
phát hiện này là một khi gà bị nhiễm mầm bệnh,
sự tồn tại suốt đời của mầm bệnh có thể gây
nhiễm cho những gà mẫn cảm qua lây nhiễm
ngang trong đàn. Với sự khác nhau trong điều
kiện quản lý chăn nuôi, hàm lượng kháng thể
kháng M. synoviae trong huyết thanh sẽ thay
đổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ lưu
hành huyết thanh cũng được nghiên cứu theo
lứa tuổi. Kháng thể phát hiện được ở gà con 1 -3
ngày tuổi chứng tỏ sự nhiễm trùng ở gà giống bố
mẹ. Gà 3 - 4 tuần tuổi có tỷ lệ dương tính huyết
thanh thấp nhất do sự suy giảm kháng thể qua
mẹ. Ở gà lứa tuổi lớn hơn, tỷ lệ lưu hành huyết
thanh tăng lên có thể do nhiễm trùng tự nhiên.
Có nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ dương tính
huyết thanh của Mycoplasma ở gà đẻ cao nhất
vào mùa hè và thấp nhất vào mùa đông (Zute
và Valdovska, 2014). Nghiên cứu của chúng tôi
cũng cho thấy xu hướng tương tự.
Phức hợp bệnh đường hô hấp ở gà gây ra
bởi các vi rút gây bệnh đường hô hấp (vi rút
cúm gia cầm, vi rút gây bệnh Newcastle và
vi rút gây viêm phế quản truyền nhiễm), các
vi khuẩn (Escherichia coli, Avibacterium và
Gallibacterium, suy giảm miễn dịch (vi rút gây
bệnh Marek’s, vi rút gây bệnh thiếu máu truyền
nhiễm ở gà và vi rút gây bệnh Gumboro), môi
trường (bụi, khí ammoniac và nhiệt độ), các loài
Mycoplasma (Vardaman et al., 1975; Bolha et al.,
2013). Vi khuẩn M. synoviae đóng vai trò trung
tâm trong phức hợp bệnh đường hô hấp này
(Buim et al., 2011). Để phòng ngừa, khống chế,
giảm thiểu hoặc loại trừ M. synoviae, việc giám
sát nhiễm trùng là cần thiết. Phản ứng ELISA
có độ nhạy, đặc hiệu, thiết thực, tương đối rẻ và
được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán huyết
thanh học. An toàn sinh học và sử dụng thuốc
điều trị là quan trọng trong việc kiểm soát bệnh.
Tóm lại, nghiên cứu này cho biết tỷ lệ lưu
hành của M. synoviae ở Trung Quốc từ năm
2010 đến năm 2015. Phát hiện của chúng tôi
nâng cao nhận thức rằng M. synoviae có thể ảnh
hưởng nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi gia
cầm, vì vậy cần phải có các chiến lược kiểm
soát và phòng ngừa bệnh có hiệu quả.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 36 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Điều tra huyết thanh học nhiễm mycoplasma synoviae ở gà tại Trung Quốc từ năm 2010 đến 2015, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
76
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
ÑIEÀU TRA HUYEÁT THANH HOÏC NHIEÃM MYCOPLASMA SYNOVIAE ÔÛ GAØ
TAÏI TRUNG QUOÁC TÖØ NAÊM 2010 ÑEÁN 2015
J. Xue1, M. Y. Xu1, Z. J. Ma2, J. Zhao1, N. Jin1, G. Z. Zhang1
TÓM TẮT
Vi khuẩn Mycoplasma synoviae gây bệnh đường hô hấp, viêm màng hoạt dịch hoặc các triệu
chứng cận lâm sàng ở gia cầm trên khắp thế giới. Nhiễm trùng M. synoviae xảy ra quanh năm và gây
thiệt hại kinh tế lớn do tỷ lệ chết, loại thải, thuốc điều trị và chi phí chăn nuôi tăng. Ở nghiên cứu
này, tỷ lệ lưu hành huyết thanh của M. synoviae trong 44.395 gà chưa tiêm vacxin từ 21 tỉnh ở Trung
Quốc được đánh giá bằng phản ứng ELISA. Tổng tỷ lệ lưu hành huyết thanh là 41,19%. Tỷ lệ huyết
thanh dương tính ở các năm khác nhau dao động từ 24,7 - 57,2%, với tỷ lệ dương tính cao nhất vào
năm 2010 và thấp nhất vào năm 2013.
Tỷ lệ lưu hành khác biệt lớn giữa các tỉnh, từ 5,1% đến 100%. Trong số 463 đàn thương phẩm
được kiểm tra, có 375 đàn (80,99%) dương tính với M. synoviae trong phản ứng ELISA. Sự phân bố
theo mùa dao động giữa 26,83% (tháng Mười) và 53,98% (tháng Bảy). Nghiên cứu trên gà theo lứa
tuổi cho thấy M. synoviae có thể nhiễm cho gà ở mọi lứa tuổi. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy nhiễm M. synoviae rất phổ biến ở Trung Quốc và cần có thêm nghiên cứu về sự lưu hành để xây
dựng các chiến lược phòng chống bệnh hiệu quả.
Từ khóa: Mycoplasma synoviae, ELISA, huyết thanh học.
I. GIỚI THIỆU
Mycoplasma synoviae là một trong những tác
nhân gây bệnh phổ biến nhất ảnh hưởng đến chăn nuôi
gia cầm trên khắp thế giới, bao gồm cả gà thịt, gà đẻ
trứng và gà giống. M. synoviae gây ra bệnh đường
hô hấp, viêm màng hoạt dịch hoặc nhiễm trùng
cận lâm sàng ở gia cầm (Vardaman et al., 1973),
cũng như có thể ảnh hưởng đến chất lượng vỏ
trứng ở gà đẻ (Gole et al., 2012; Jeon et al.,
2014; Catania et al., 2016). M. synoviae có thể
lây nhiễm cả theo chiều dọc và chiều ngang
(Jordan, 1975).
Nhiễm trùng M. synoviae xảy ra quanh
năm và gây thiệt hại kinh tế lớn do tỷ lệ chết,
loại thải, thuốc điều trị và chi phí chăn nuôi
tăng. Những năm gần đây, tình hình nhiễm M.
synoviae đã được cống bố ở Pháp, Hà Lan,
Đan Mạch, Úc, Bỉ, Bồ Đào Nha và các nước
khác (Dufour- Gesbert et al., 2006; Feberwee
et al., 2008; Haghighi- Khoshkhoo et al.,
2011; Gole, Chousalkar and Roberts 2012;
Khalifa et al., 2013; Landman 2014; Moreira
et al., 2015; Michiels et al., 2016). Đáng chú
ý là trong các nghiên cứu về tỷ lệ lưu hành
huyết thanh của M. synoviae ở Châu Âu trên
gia cầm nuôi gia đình cho biết kháng thể M.
synoviae được phát hiện ở 76,3% động vật
nghiên cứu (Haesendonck et al., 2014).
1. Phòng thí nghiệm trung tâm về dịch tễ học động vật thuộc Bộ Nông nghiệp, Trường Thú y, Đại học Nông nghiệp Trung Quốc,
Bắc Kinh 100193
2. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh động vật Bắc Kinh, Bắc Kinh 102629, Trung Quốc
77
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
Dữ liệu liên quan về M. synoviae đang còn
thiếu tại Trung Quốc. Mục đích của nghiên cứu
này là để bước đầu xác định tình hình dịch tễ học
và đặc điểm nhiễm M. synoviae ở Trung Quốc,
bao gồm kháng thể ở các năm khác nhau, các tỉnh
khác nhau, lứa tuổi và loại gà khác nhau, để hỗ trợ
cho việc xây dựng các chiến lược phòng, chống
bệnh có hiệu quả.
II. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP
2.1. Lấy mẫu
Tổng số 44.395 mẫu huyết thanh đã được thu
thập để xác định khả năng nhiễm M. synoviae
ở gà không tiêm phòng vắc xin từ 21 tỉnh của
Trung Quốc từ năm 2010 đến 2015. Tất cả gà
lấy mẫu đều không có biểu hiện triệu chứng lâm
sàng bệnh. Huyết thanh được lấy từ 463 đàn gà
thương phẩm, ở mỗi đàn lấy ngẫu nhiên từ 20
đến 60 bộ mẫu theo cỡ mẫu. Huyết thanh được
bảo quản ở -20◦C cho đến khi sử dụng.
2.2. Kiểm tra kháng thể trong huyết thanh
Mẫu máu đươc lấy vô trùng từ tĩnh mạch cánh.
Sau đó kiểm tra kháng thể M. synoviae trong
huyết thanh bằng kit ELISA thương mại (IDEXX
99–06728, IDEXX Laboratories, Westbrook,
ME) theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Tóm tắt như sau, nhỏ 100 µl mỗi mẫu đã pha
loãng (1:500) vào một giếng phản ứng, ủ ở 18-
26°C trong 30 phút, rồi rửa bằng 350 µl nước cất
(rửa 3-5 lần). Sau đó, nhỏ kháng thể gắn enzyme
HRP (A goat antibody to chicken IgG labeled
with horseradish peroxidase) vào từng giếng và
ủ ở 18-26°C trong 30 phút. Tiếp tục rửa mỗi
giếng bằng 350 µl nước cất (rửa 3-5 lần), thêm
100 µl tetramethyl benzidine (TMB), rồi tiếp
tục ủ ở 18-26°C trong 15 phút. Dừng phản ứng
bằng 100 µl dung dịch stopping solution. Đọc
phản ứng ở bước sóng 650 nm. Huyết thanh có
giá trị s/P-values lớn hơn giá trị cut-off 0,5 (hiệu
giá = 1.076) được coi là dương tính.
III. KẾT QUẢ
3.1. Tỷ lệ lưu hành huyết thanh của M.
synoviae ở Trung Quốc từ 2010-2015
Tỷ lệ lưu hành M. synoviae ở 44.395 gà
không tiêm phòng vacxin từ 21 tỉnh được
nghiên cứu từ năm 2010 đến 2015. Tỷ lệ dương
tính huyết thanh ở các năm khác nhau dao động
giữa 24,7-57,2%; tỷ lệ dương tính huyết thanh
cao nhất ghi nhận được năm 2010 và thấp nhất
là năm 2013. Tổng tỷ lệ lưu hành huyết thanh là
41,19% (bảng 1).
Bảng 1. Tỷ lệ lưu hành huyết thanh của M. synoviae ở Trung Quốc từ 2010 tới 2015
Năm Số mẫu huyết thanh kiểm tra
Số mẫu huyết thanh
dương tính
Tỷ lệ dương tính
(%)
2010 7128 4077 57,20
2011 3340 1836 54,97
2012 5379 3025 56,24
2013 3085 762 24,70
2014 6839 3517 51,43
2015 18624 5068 27,21
Tổng 44395 18285 41,19
3.2. Tỷ lệ lưu hành huyết thanh của M.
synoviae ở các tỉnh khác nhau của Trung Quốc
Trong nghiên cứu này, mẫu được thu thập từ
hầu hết các tỉnh khắp nước Trung Quốc. Tỷ lệ
lưu hành của M. synoviae được phân tích theo
tỉnh. Tỷ lệ lưu hành khác biệt lớn ở các tỉnh,
từ 5,1 đến 100% (bảng 2). Tuy nhiên, ở một số
tỉnh, huyết thanh được lấy từ cả những đàn gà có
ít hơn 10 con. Để khách quan hơn, tỷ lệ dương
78
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
Bảng 2. Tỷ lệ lưu hành huyết thanh của M. synoviae ở các tỉnh khác nhau của Trung Quốc
Tỉnh
Số mẫu
huyết thanh
kiểm tra
Số mẫu
huyết thanh
dương tính
Tỷ lệ dương
tính %a Đàn
Đàn
dương tính
Tỷ lệ
dương tính %b
Quảng Tây 1766 1530 86,64 18 16 88,89
Chiết Giang 157 8 5,10 1 1 100
Phúc Kiến 1424 371 26,05 19 7 36,84
Quảng Đông 174 133 76,44 4 4 100
An Huy 755 392 51,92 7 5 71,43
Hồ Nam 380 133 35 8 8 100
Giang Tây 89 89 100 2 2 100
Vân Nam 19 10 52,63 1 1 100
Tứ Xuyên 192 139 72,40 5 4 80
Sơn Đông 7260 3011 41,47 74 60 81,08
Liêu Ninh 2949 1457 49,41 60 49 81,67
Cát Lâm 362 173 47,79 10 8 80
Hắc Long Giang 120 120 100 2 2 100
Ninh Hạ 333 162 48,65 3 2 66,67
Giang Tô 130 56 43,08 3 3 100
Hà Bắc 741 201 27,13 24 17 70,83
Bắc Kinh 5780 3334 57,68 82 67 81,71
Nội Mông 1595 298 18,68 31 25 80,65
Hà Nam 621 213 34,30 13 9 69,23
Thiểm Tây 20 20 100 1 1 100
Tổng 44395 18285 41,19 463 375 80,99
tính cũng được tính trên cơ sở đàn dương tính
(Bảng 2). Trong 463 đàn được kiểm tra, có 375
đàn (chiếm 80,99%) dương tính với M. synoviae
trong phản ứng ELISA.
3.3. Phân bố theo mùa của M. synoviae
Tỷ lệ lưu hành M. synoviae ở 44.395 gà
không tiêm vacxin cũng được phân tích theo
tháng (đồ thị 1). Tỷ lệ dương tính huyết thanh
ở các tháng khác nhau dao động giữa 26,83%
(tháng 10) và 53,98% (tháng 7). Tỷ lệ lưu hành
huyết thanh ở các tháng 3, 4, 5, 7, 11 và 12 cao
hơn tỷ lệ trung bình chung là 41,19%.
3.4. Tỷ lệ lưu hành huyết thanh của M.
synoviae ở gà các lứa tuổi khác nhau
Tỷ lệ nhiễm M. synoviae ở gà các lứa tuổi
a. Tỷ lệ dương tính = số mẫu huyết thanh dương tính chia cho số mẫu huyết thanh kiểm tra
b. Tỷ lệ dương tính = đàn dương tính chia cho đàn
79
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
khác nhau được trình bày ở biểu đồ 2. Tỷ lệ lưu
hành huyết thanh của gà con 1-3 ngày tuổi dao
động từ 29,11 - 53,97%; ở gà 3-4 tuần tuổi giảm
xuống 2,7 - 5,65%; ở gà 6- 7 tuần tuổi là 26,32-
48,56%. Tỷ lệ lưu hành huyết thanh tăng tới
27,43-68,48% ở gà 10-11 tuần tuổi; dao động
từ 27,43-68,48% ở gà 17-18 tuần tuổi và 50,71-
67,58% ở gà 24-25 tuần tuổi. Ở gà 35 tuần tuổi,
tỷ lệ lưu hành đạt tới 70,56-82,79%.
IV. THẢO LUẬN
Tổng số 44.395 mẫu huyết thanh được thu
thập từ năm 2010 đến năm 2015 ở 21 tỉnh của
Trung Quốc. Kết quả kiểm tra huyết thanh học
cho thấy tỷ lệ dương tính trung bình là 41,19%.
Vì chưa có vacxin phòng M. synoviae cho gà ở
Trung Quốc, nên kháng thể phát hiện được ở
những gia cầm này có thể hình thành do nhiễm
trùng tự nhiên. Kết quả cho thấy rằng nhiễm
M. synoviae đã trở nên phổ biến ở Trung Quốc
trong những năm gần đây.
Nhiễm trùng M. synoviae gây thiệt hại về
kinh tế. Ở gà thịt, nhiễm M. synoviae có thể
làm tăng tỷ lệ chết, chuyển hóa thức ăn và loại
thải. Ở gà giống và gà thịt, gây giảm đẻ trứng
và tăng chí phí điều trị, dẫn tới tổn thất kinh tế.
Một nghiên cứu trước đây cho thấy nhiễm M.
synoviae gây giảm đáng kể sản lượng trứng ở gà
đẻ và thường gặp hơn ở những trại nuôi nhiều
lứa tuổi gà khác nhau (Aras và Sayin, 2014).
Ở nghiên cứu này, chúng tôi phân tích huyết
thanh từ những nhóm gà khác nhau. Tỷ lệ lưu
hành huyết thanh của gà thịt là thấp nhất nếu
so với gà đẻ và gà giống. Có thể giải thích cho
phát hiện này là một khi gà bị nhiễm mầm bệnh,
sự tồn tại suốt đời của mầm bệnh có thể gây
nhiễm cho những gà mẫn cảm qua lây nhiễm
ngang trong đàn. Với sự khác nhau trong điều
kiện quản lý chăn nuôi, hàm lượng kháng thể
kháng M. synoviae trong huyết thanh sẽ thay
đổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ lưu
hành huyết thanh cũng được nghiên cứu theo
lứa tuổi. Kháng thể phát hiện được ở gà con 1 -3
ngày tuổi chứng tỏ sự nhiễm trùng ở gà giống bố
mẹ. Gà 3 - 4 tuần tuổi có tỷ lệ dương tính huyết
thanh thấp nhất do sự suy giảm kháng thể qua
mẹ. Ở gà lứa tuổi lớn hơn, tỷ lệ lưu hành huyết
thanh tăng lên có thể do nhiễm trùng tự nhiên.
Có nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ dương tính
huyết thanh của Mycoplasma ở gà đẻ cao nhất
vào mùa hè và thấp nhất vào mùa đông (Zute
và Valdovska, 2014). Nghiên cứu của chúng tôi
cũng cho thấy xu hướng tương tự.
Phức hợp bệnh đường hô hấp ở gà gây ra
bởi các vi rút gây bệnh đường hô hấp (vi rút
cúm gia cầm, vi rút gây bệnh Newcastle và
vi rút gây viêm phế quản truyền nhiễm), các
vi khuẩn (Escherichia coli, Avibacterium và
Gallibacterium, suy giảm miễn dịch (vi rút gây
bệnh Marek’s, vi rút gây bệnh thiếu máu truyền
nhiễm ở gà và vi rút gây bệnh Gumboro), môi
trường (bụi, khí ammoniac và nhiệt độ), các loài
Mycoplasma (Vardaman et al., 1975; Bolha et al.,
2013). Vi khuẩn M. synoviae đóng vai trò trung
tâm trong phức hợp bệnh đường hô hấp này
(Buim et al., 2011). Để phòng ngừa, khống chế,
80
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
giảm thiểu hoặc loại trừ M. synoviae, việc giám
sát nhiễm trùng là cần thiết. Phản ứng ELISA
có độ nhạy, đặc hiệu, thiết thực, tương đối rẻ và
được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán huyết
thanh học. An toàn sinh học và sử dụng thuốc
điều trị là quan trọng trong việc kiểm soát bệnh.
Tóm lại, nghiên cứu này cho biết tỷ lệ lưu
hành của M. synoviae ở Trung Quốc từ năm
2010 đến năm 2015. Phát hiện của chúng tôi
nâng cao nhận thức rằng M. synoviae có thể ảnh
hưởng nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi gia
cầm, vì vậy cần phải có các chiến lược kiểm
soát và phòng ngừa bệnh có hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aras, Z., and Z. Sayin. 2014. Molecular epidemiology
of Mycoplasma synoviae infection in commercial
layers. Kafkas Universitesi Veteriner Fakultesi
Dergisi. 20:83–87.
2. Bolha, L., D. Bencina, I. Cizelj, I. Oven, B.
Slavec, O. Z. Rojs, and M. Narat. 2013. Effect of
Mycoplasma synoviae and lentogenic Newcastle
disease virus coinfection on cytokine and chemokine
gene expression in chicken embryos. Poult. Sci.
92:3134–3143.
3. Buim, M. R., M. Buzinhani, M. Yamaguti,
R. C. Oliveira, E. Mettifogo, P. M. Ueno, J.
Timenetsky, G. M. Santelli, and A. J. Ferreira. 2011.
Mycoplasma synoviae cell invasion: Elucidation
of the Mycoplasma pathogenesis in chicken. Comp.
Immunol. Microbiol. Infect. Dis. 34:41–47.
4. Catania, S., F. Gobbo, D. Bilato, L. Gagliazzo, M.
L. Moronato, C. Terregino, J. M. Bradbury, and
A. S. Ramirez. 2016. Two strains of Mycoplasma
synoviae from chicken flocks on the same layer
farm differ in their ability to produce eggshell apex
abnormality. Vet. Microbiol. 193:60–66.
5. Dufour-Gesbert, F., A. Dheilly, C. Marois, and I.
Kempf. 2006. Epidemiological study on Mycoplasma
synoviae infection in layers. Vet. Microbiol. 114:148–
154.
6. Feberwee, A., T. S. de Vries, and W. J. Landman.
2008. Seroprevalence of Mycoplasma synoviae in
Dutch commercial poultry farms. Avian. Pathol.
37:629–633.
7. Gole, V. C., K. K. Chousalkar, and J. R. Roberts.
2012. Prevalence of antibodies to Mycoplasma
synoviae in laying hens and possible effects on egg
shell quality. Prev. Vet. Med. 106:75–78.
8. Haesendonck, R., M. Verlinden, G. Devos, T.
Michiels, P. Butaye, F. Haesebrouck, F. Pasmans,
and A. Martel. 2014. High sero- prevalence of
respiratory pathogens in hobby poultry. Avian. Dis.
58:623–627.
9. Haghighi-Khoshkhoo, P., G. Akbariazad, M. Roohi,
J. Inanlo, M. Masoumi, and P. Sami-Yousefi. 2011.
Seroprevalence of Mycoplasma gallisepticum and
Mycoplasma synoviae infection in the commercial
layer flocks of the centernorth of Iran. African.
10. J. Microbiol. Res. 5:2834 – 2837. Jeon, E. O., J. N.
Kim, H. R. Lee, B. S. Koo, K. C. Min, M. S. Han, S. B. Lee,
Y. J. Bae, J. S. Mo, S. H. Cho, C. H. Lee, and I. P. Mo. 2014.
Eggshell apex abnormalities associated with Mycoplasma
synoviae infection in layers. J. Vet. Sci. 15:579–582.
11. Jordan, F. T. 1975. Avian mycoplasma and
pathogenicity–A review. Avian Pathol. 4:165–174.
12. Khalifa, K. A., E. Sidahmed Abdelrahim, M.
Badwi, and A. M. Mohamed. 2013. Isolation
and molecular characterization of Mycoplasma
gallisepticum and Mycoplasma synoviae in chickens
in Sudan. J. Vet. Med. 2013:208026.
13. Landman, W. J. 2014. Is Mycoplasma synoviae
outrunning Mycoplasma gallisepticum? A
viewpoint from the Netherlands. Avian. Pathol.
43:2–8.
14. Michiels, T., S. Welby, M. Vanrobaeys, C. Quinet,
L. Rouffaer, L. Lens, A. Martel, and P. Butaye.
2016. Prevalence of Mycoplasma gallisepticum
and Mycoplasma synoviae in commercial poultry,
racing pigeons and wild birds in Belgium. Avian.
Pathol. 45:244– 252.
15. Moreira, F. A., L. Cardoso, and A. C. Coelho. 2015.
Epidemiological survey on Mycoplasma synoviae
infection in Portuguese broiler breeder flocks. Vet.
Ital. 51:93–98.
16. Vardaman, T. H., J. W. Deaton, and F. N. Feece.
1975. Serological responses of broiler-type
chickens, with and without Newcastle disease and
infectious bronchitis vaccine, to experimental infec-
tion with Mycoplasma synoviae by foot pad, air sac
and aerosol. Poult. Sci. 54:737–741.
17. Vardaman, T. H., F. N. Reece, and J. W. Deaton.
1973. Effect of Mycoplasma synoviae on broiler
performance. Poult. Sci. 52:1909– 1912.
18. Zute, I., and A. Valdovska. 2014. Seroprevalence
of Mycoplasma syn- oviae in the commercial
layer flock. Dzivnieki. Veseliba. Partikas higiena.
Konferences. 78–82.
Biên dịch và chỉnh sửa: Nguyễn Xuân
Huyên, Nguyễn Thị Bích Thủy (Viện Thú y)
từ "Serological investigation of Mycoplasma
synoviae infection in China from 2010 to 2017",
Poultry Science 0:1–4.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dieu_tra_huyet_thanh_hoc_nhiem_mycoplasma_synoviae_o_ga_tai.pdf