Kết luận và kiến nghị
4.1 Kết luận
Với mục tiêu phân lập được các dòng vi khuẩn gây viêm
họng cấp và kháo sát mức độ hang kháng sinh của chúng,
kết quả bước đầu đã đáp úng với mục tiêu đề ra. Từ 50 mẫu
bệnh phẩm sau khi nuôi cấy phân lập được 125 dòng vi
khuẩn thuần. Trong số 125 chủng này tiến hành nhuộm
Gram và quan sát hình thái thu được 44/125 chủng có dạng
liên cầu. Trong đó 38/44 chủng là vi khuẩn Gram dương
(+), 6/44 chủng là vi khuẩn Gram âm (-) chứng tỏ 38/44
chủng này có khả năng chính là các chủng Streptococcus.
Từ 38 chủng liên cầu Gram dương, chọn ngẫu nhiên 4
chủng tiến hành tách chiết DNA, chạy PCR và giải trình tự
gen 16S rRNA. Kết quả nhận được tiến hành xây dựng và
phân tích cây phát sinh loài gen 16S rRNA cho thấy các
chủng vi khuẩn nghiên cứu thuộc nhóm vi khuẩn
Streptococcus và chia sẻ mức độ tương đồng gần nhất với
các chủng S. mitis, S. oralis, S. pseudopneumoniae.Kết quả
khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của 4 chủng 155, 157,
158, 159 với 4 loại kháng sinh: Amoxicillin, Azithromycin,
Cephalexin, Clindamycin cho thấy cả bốn chủng đều kháng
với Amoxicillin, Azithromycin, Cephalexin và mức độ
nhạy cảm yếu với Clindamycin
4.2 Kiến nghị
Tiếp tục giải trình tự các chủng liên cầu khuẩn còn lại để
xác định chính xác các chủng Streptococcus.
Tiến hành khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của tất cả
các chủng Streptococcus phân lập được với các loại
kháng sinh thông dụng và ở các mức nồng độ kháng sinh
khác nhau để có thể có cảnh báo chính xác tình trạng
kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Streptococcus
gây viêm họng cấp.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Định danh phân tử và khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của Streptococcus gây viêm họng cấp ở người, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đại học Nguyễn Tất Thành
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 10
80
Định danh phân tử và khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của
Streptococcus gây viêm họng cấp ở người
Giang Cẩm Tú*, Lê Nhật Vinh, Nguyễn Thị Kim Thuy, Thân Văn Thái
Khoa Công nghệ Sinh Học, Đại học Nguyễn Tất Thành
*
gctu@ntt.edu.vn, gcamtu@gmail.com
Tóm tắt
Viêm họng cấp là bệnh nhiễm trùng hô hấp phổ biến, tùy thuộc tác nhân gây bệnh và sức đề
kháng của cơ thể bệnh có thể chuyển biến nặng hơn. Nghiên cứu nhằm phân lập, định danh phân
tử, khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của một số chủng vi khuẩn Streptococcus gây viêm họng
cấp ở người. Từ 50 mẫu bệnh phẩm sau khi nuôi cấy phân lập được 125 chủng vi khuẩn; tiến
hành nhuộm Gram thu được 44/125 chủng có dạng liên cầu. Trong đó, 38/44 chủng là vi khuẩn
Gram dương (+), 6/44 chủng là vi khuẩn Gram âm (-), chứng tỏ 38/44 chủng này có khả năng là
các chủng Streptococcus.Từ 38 chủng liên cầu Gram dương, chọn ngẫu nhiên 4 chủng tiến hành
tách chiết DNA, chạy PCR và giải trình tự gen 16S rRNA. Kết quả cho thấy các chủng vi khuẩn
nghiên cứu thuộc nhóm vi khuẩn Streptococcus và chia sẻ mức độ tương đồng gần nhất với các
chủng S. mitis, S. oralis, S. pseudopneumoniae. Khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của 4 chủng
155, 157, 158, 159 với 4 loại kháng sinh: Amoxicillin, Azithromycin ,Cephalexin, Clindamycin
cho thấy cả bốn chủng đều kháng với Amoxicillin, Azithromycin, Cephalexin và mức độ nhạy
cảm yếu với Clindamycin.
® 2020 Journal of Science and Technology - NTTU
Nhận 05.12.2019
Được duyệt 27.05.2020
Công bố 29.06.2020
Từ khóa
Streptococcus,
viêm họng cấp,
kháng sinh đồ
1 Giới thiệu
Viêm họng cấp là bệnh nhiễm trùng hô hấp phổ biến, tùy
thuộc tác nhân gây bệnh và sức đề kháng của cơ thể bệnh
có thể chuyển biến nặng hơn. Streptococcus là nguyên nhân
gây ra hàng loạt các nhiễm trùng đường hô hấp cấp và có
nguy cơ trở thành bệnh xâm lấn nghiêm trọng: viêm họng,
viêm da mủ, để lại các di chứng tự miễn như sốt thấp
khớp và viêm cầu thận.
Nhiều nghiên cứu về chủng vi khuẩn này và khả năng
kháng thuốc của chúng điển hình như nghiên cứu “Ưu thế
của emm 4 và kháng kháng sinh của S. pyogenes trong viêm
họng cấp tính ở một khu vực phía Nam của Hàn Quốc” của
Seungwook Kim et al. năm 2019. Kết quả cho thấy tổng
cộng có 190 chủng (53,1%) S. pyogenes được phân lập từ
358 trẻ, tỉ lệ kháng kháng sinh đối với Erythromycin,
Clindamycin, Tetracycline và Ofloxacin lần lượt là 3,2%,
2,6%, 1,1% và 2,6%[1]. Baidaa Rasoul Dakhil và cộng sự
năm 2019 đã nghiên cứu “Nhạy cảm với kháng sinh của S.
pyogenes và Staphylococcus aureus phân lập từ bệnh nhân
viêm họng và viêm amiđan ở thành phố Nasiriyah, Iraq”
Kết quả cho thấy trong 276 mẫu bệnh phẩm thu được từ
bệnh nhân có độ tuổi từ 10 đến 70 tuổi ở thành phố
Nasiriyah trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2014 đến
tháng 5 năm 2015 có 34 mẫu S. pyogenes và 62
Staphylococcus aureus. Tất cả S. pyogenes nhạy cảm với
Vancomycin và Ceftrtiaxon; kháng hoàn toàn với Ampicillin
và Amikacin. Staphylococcus aureus phân lập được nhạy
cảm với Clindamycin và Amikacin; kháng với Ampicillin và
Augmentin (Amoxicillin / Clavulanic acid) [2].
Trong nước cũng có một vài nghiên cứu về các chủng
Streptococus và mức độ kháng kháng sinh của chúng trên
các loại kháng sinh khác nhau, như năm 2017, Phạm Khắc
Linh và cộng sự “Nghiên cứu độ nhạy cảm kháng sinh của
các chủng Streptococus nhóm A, C, G phân lập từ nhầy
họng học sinh tiểu học giai đoạn 2012 – 2015”. Kết quả
nghiên cứu từ 67 chủng liên cầu khuẩn trong đó có 40
chủng thuộc nhóm A; 7 chủng thuộc nhóm C và 20 chủng
thuộc nhóm G. Tất cả các chủng liên cầu khuẩn nhóm A, C,
G phân lập trong giai đoạn 2012 - 2015 đều nhạy cảm với
nhóm Cephalosporin và Vancomycin, đồng thời kháng
Amikacin. Tỉ lệ kháng của liên cầu khuẩn nhóm A đối với
Tetracyclin là 70% và Doxycilin là 75%. Mức độ kháng đối
với Erythromycin của liên cầu nhóm A là 52,5%, liên cầu
khuẩn nhóm C và G là 40,74%. Các kháng sinh nhóm
Cephalosporin thế hệ thứ 3,4 và Vancomycin được coi là
Đại học Nguyễn Tất Thành
81 Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 10
những thuốc thiết yếu có thể sử dụng để điều trị các bệnh
do liên cầu khuẩn nhóm A, C và G gây ra. Không phát hiện
thấy mối liên quan giữa sự có mặt của các gen mefA và
ermTR trong cơ chế kháng Erythromycin của các chủng
liên cầu khuẩn. Trong hệ gen của các chủng liên cầu khuẩn
nhóm A có đoạn gen nhảy chứa gen kháng Tetracyclin[3].
Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ kháng kháng sinh cao do sử
dụng khá nhiều loại kháng sinh và hầu hết là không theo
đơn, do vậy, việc nghiên cứu nhận diện và cập nhật thông
tin về các chủng vi khuẩn gây bệnh và mức độ kháng với
một số loại kháng sinh thông dụng trên thị trường để điều
trị hiệu quả, giảm thiểu biến chứng là cấp thiết.
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Vật liệu
Các mẫu bệnh phẩm được thu tại Bệnh viện Thống Nhất,
sau đó sẽ được bảo quản lạnh, vận chuyển về phòng thí
nghiệm, nuôi cấy ngay trong vòng 4 giờ kể từ lúc lấy mẫu.
Tất cả các bệnh nhân đều được đánh giá sơ bộ bằng thang
điểm MacIssax - Centor Strep và sau đó mẫu được thu bằng
cách dùng tăm bông lấy dịch tiết ra từ cổ họng của bệnh
nhân nghi ngờ mắc bệnh viêm họng cấp.
2.2 Hóa chất:
Bộ nhuộm Gram
Môi trường NA
Môi trường BHI
Khoanh giấy kháng sinh Amoxicillin 10µg, Azithromycin
15µg, Cephalexin 30µg, Clindamycin 2µg
2.3 Phương pháp thí nghiệm
2.3.1 Phương pháp nuôi cấy chủng Streptococcus
Các mẫu bệnh phẩm được thu tại Bệnh viện Thống Nhất
sau khi đem về sẽ được nuôi cấy trên môi trường thạch NA
và tăng sinh trong môi trường BHI
2.3.2 Nhuộm Gram và quan sát hình thái
Sau khi nuôi cấy các khuẩn lạc có hình dạng tương tự hình
dạng của Streptococcus trong các nghiên cứu trước đây như
dạng hình tròn, mô, bề mặt nhẵn, có viền rõ ràng, màu trắng
xám[4] sẽ được chọn ra để tiến hành làm thuần, tăng sinh,
nhuộm Gram quan sát hình xem có đúng là liên cầu Gram
dương +.
2.3.3 Giải trình tự vùng gen 16S rRNA.
Kết quả nhuộm Gram cho thấy các chủng liên cầu Gram
dương + ở các mẫu, bước đầu nhận định các chủng này có khả
năng cao chính là Streptococcus. Sau đó tiến hành tách chiết
DNA và chạy PCR với cặp mồi 27F và 1492R[5] của gen 16S
rRNA để đưa đi giải trình tự ở Công ty 1st Base, Malaysia.
2.3.4 Lập cây phát sinh loài
Sau khi có được kết quả giải trình tự, dựa trên các trình tự thu
được, tìm kiếm cơ sở dữ liệu trên ngân hàng gen (Genbank)
bằng phần mềm trực tuyến BLAST tại NCBI. Trình tự gen
được sắp xếp sử dụng chương trình CLUSTAL 2X
alignment. Cây phát sinh loài được xây dựng dựa vào phần
mềm MEGA 6.06 sử dụng công cụ vẽ cây Neighbor joining
tree với Bootstrap re-sampling 1.000 lần.
2.3.5 Kháng sinh đồ bằng khoanh giấy khếch tán
Các chủng Streptococcus xác định được sẽ tiến hành thử
nghiệm kháng sinh đồ với một số loại kháng sinh thông dụng
như Amoxicillin, Azithromycin, Cephalexin, Clindamycin
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Kết quả nuôi cấy Streptococcus
Từ 50 mẫu bệnh phẩm, sau khi tiến hành trải mẫu, quan sát
hình thái khuẩn lạc thu được 125 chủng vi khuẩn với các
đặc điểm: màu vàng, trắng trong hoặc trắng đục, hình dạng
khuẩn lạc đa số là dạng tròn đều, còn lại là dạng không đều;
về dạng bìa và độ nổi thì 100% khuẩn lạc thu được có bìa
nguyên, đa số bề mặt khuẩn lạc trơn và có độ nổi, chỉ một
số ít dạng lài.
Bảng 1 Hình thái và số lượng khuẩn lạc
Đặc diểm hình thái
Số lượng
Màu sắc Hình dạng Dạng bìa Độ nổi
Trắng đục Tròn Nguyên Mô 28
Trắng trong Tròn Nguyên Lài 30
Trắng trong Tròn Nguyên Mô 16
Trắng trong Không đều Nguyên Mô 2
Dạng khác 49
Đại học Nguyễn Tất Thành
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 10
82
3.2 Kết quả nhuộm Gram quan sát hình thái
Hình 1 Hình nhuộm Gram vi khuẩn (quan sát ở vật kính 40)
Các khuẩn lạc có dạng tương tự như của Streptococcus
được tiến hành nhuộm Gram. Từ 125 chủng vi khuẩn phân
lập được có 44/125 chủng có tế bào dạng liên cầu ngắn
hoặc dài, 81 chủng còn lại có hình dạng tế bào khác.Trong
tổng số 44 chủng liên cầu có 38/44 chủng bắt màu tím của
thuốc nhuộm chứng tỏ là vi khuẩn Gram dương, còn lại
6/44 chủng là vi khuẩn Gram âm.
3.3 Kết quả giải trình tự
Chọn ngẫu nhiên 4 chủng liên cầu Gram dương + tiến hành
PCR với cặp mồi 27F và 1492R để khuếch đại gen 16S
rRNA và đưa đi giải trình tự sản phẩm của quá trình PCR
này có kích thước là 1500 bp.
Hình 2 Kết quả điện di sản phẩm PCR với mồi 27 F và 1492 R
Sản phẩm khuếch đại DNA được giải trình tự tự động tại
Công ty 1st Base, Malaysia theo phương pháp giải trình tự
Sanger. Kết quả giải trình tự được phân tích bằng phần
mềm BioEdit
A = Ademine, T = Thyamine, C = Cystein, G = Guanine
Hình 3 Kết quả đọc trình tự gen bằng phần mềm BioEdit
3.4 Kết quả xây dựng cây phát sinh loài
Dựa vào kết quả giải trình tự và BLAST trên cơ sở dữ liệu
NCBI, đã xây dựng được cây phát sinh loài cho gen 16S
rRNA của 04 chủng Streptococcus trong nghiên cứu này.
Cây phát sinh loài được vẽ bằng phần mềm Mega 6.06 theo
phương pháp Neighbor - joining tree với model Maximum
composite likelihood và boostrap 1.000 lần. Các chủng
Streptococcus chia sẻ mức độ tương đồng cao được sử dụng
làm các chủng vi khuẩn tham chiếu và chủng vi khuẩn E.
coli được sử dụng làm outgroup. Kết quả cho thấy chủng vi
khuẩn trong nghiên cứu này thuộc nhóm Streptococcus và
gần gũi với các chủng vi khuẩn S. mitis, S. oralis, và S.
pseudopneumoniae (cả ba đều thuộc nhóm Streptococcus
viridans) (Hình 4).
Đại học Nguyễn Tất Thành
83 Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 10
Hình 4 Cây phát sinh loài gen 16S rRNA của các chủng Streptococcus nghiên cứu với các chủng tham chiếu
3.5 Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ bằng phương pháp
khoanh giấy khuếch tán
Mẫu đối chứng sử dụng trong thử nghiệm kháng sinh đồ
bằng phương pháp khoanh giấy khuếch tán là
Staphylococcus aureus NRRL B 313 với 4 loại kháng sinh
Amoxicillin 10µg, Azithromycin 15µg, Cephalexin 30µg,
Clindamycin 2µg.
Kết quả kháng sinh đồ của bốn mẫu giải trình tự không có
sự hiện diện của vòng kháng khuẩn xung quanh khoanh
giấy kháng sinh Amoxicillin, Azithromycin, Cephalexin.
Từ đó cho thấy khả năng kháng kháng sinh cao của 4 loại vi
khuẩn phân lập đối với 3 loại kháng sinh nêu trên. Nhưng
trong đó cả 4 chủng đều xuất hiện vòng kháng khuẩn mờ
xung quanh khoanh giấy test kháng sinh Clindamycin cho
thấy sự nhạy cảm yếu đối với Clindamycin
1: Azithromycin ,2: Amoxicillin, 3: Cephalexin, 4: Clindamycin
Hình 5 Kháng sinh đồ của các chủng đã được giải trình tự
Đại học Nguyễn Tất Thành
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 10
84
4 Kết luận và kiến nghị
4.1 Kết luận
Với mục tiêu phân lập được các dòng vi khuẩn gây viêm
họng cấp và kháo sát mức độ hang kháng sinh của chúng,
kết quả bước đầu đã đáp úng với mục tiêu đề ra. Từ 50 mẫu
bệnh phẩm sau khi nuôi cấy phân lập được 125 dòng vi
khuẩn thuần. Trong số 125 chủng này tiến hành nhuộm
Gram và quan sát hình thái thu được 44/125 chủng có dạng
liên cầu. Trong đó 38/44 chủng là vi khuẩn Gram dương
(+), 6/44 chủng là vi khuẩn Gram âm (-) chứng tỏ 38/44
chủng này có khả năng chính là các chủng Streptococcus.
Từ 38 chủng liên cầu Gram dương, chọn ngẫu nhiên 4
chủng tiến hành tách chiết DNA, chạy PCR và giải trình tự
gen 16S rRNA. Kết quả nhận được tiến hành xây dựng và
phân tích cây phát sinh loài gen 16S rRNA cho thấy các
chủng vi khuẩn nghiên cứu thuộc nhóm vi khuẩn
Streptococcus và chia sẻ mức độ tương đồng gần nhất với
các chủng S. mitis, S. oralis, S. pseudopneumoniae.Kết quả
khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của 4 chủng 155, 157,
158, 159 với 4 loại kháng sinh: Amoxicillin, Azithromycin,
Cephalexin, Clindamycin cho thấy cả bốn chủng đều kháng
với Amoxicillin, Azithromycin, Cephalexin và mức độ
nhạy cảm yếu với Clindamycin
4.2 Kiến nghị
Tiếp tục giải trình tự các chủng liên cầu khuẩn còn lại để
xác định chính xác các chủng Streptococcus.
Tiến hành khảo sát đặc tính kháng kháng sinh của tất cả
các chủng Streptococcus phân lập được với các loại
kháng sinh thông dụng và ở các mức nồng độ kháng sinh
khác nhau để có thể có cảnh báo chính xác tình trạng
kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Streptococcus
gây viêm họng cấp.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quĩ Phát triển Khoa học và
Công nghệ NTTU, đề tài mã số 2019.01.42
Đại học Nguyễn Tất Thành
85 Tạp chí Khoa học & Công nghệ Số 10
Tài liệu tham khảo
1. Seungwook Kim, Seungjun Lee, Hyunwoong Park và Sunjoo Kim (2019). Predominance of emm 4 and antibiotic resistance
of Streptococcus pyogenes in acute pharyngitis in a southern region of Korea. Journal of medical microbiology, 68.
2. Baidaa Rasoul Dakhil, Salman Saad và Saad Hamim (2019). World Journal of Pharmaceutical Sciences Antibiotic
susceptibility of Streptococcus pyogenes and Staphylococcus aureus isolated from Pharyngitis and Tonsillitis patients in
Nasiriyah City, Iraq. World Journal of Pharmaceutical Sciences, 4: 14-19.
3. Phạm Khắc Linh, V. Dmitriev A., Vũ Hoàng Giang, Vũ Thị Loan, Võ Viết Cường, G. Nosik A. và IU Ilyasov IU.
(2017). Nghiên cứu độ nhạy cảm kháng sinh của các chủng streptococus nhóm A, C, G phân lập từ nhầy họng học sinh tiểu
học giai đoạn 2012 - 2015 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nhiệt đới, (13): 50 -58.
4. Lê Huy Chính (2007). Vi sinh vật Y học. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
5. (2018). Design of Primers for Evaluation of Lactic Acid Bacteria Populations in Complex Biological Samples. Microbiol
9:2045
6. Rasoul Dakhil B, Saad S, Hamim S. (2019).World Journal of Pharmaceutical Sciences Antibiotic susceptibility of
Streptococcus pyogenes and Staphylococcus aureus isolated from Pharyngitis and Tonsillitis patients in Nasiriyah
City, Iraq. World Journal of Pharmaceutical Sciences. 06/15 2019;4:14-19.
7. Khosravi AD, Ebrahimifard N, Shamsizadeh A, Shoja S. (2016). Isolation of Streptococcus pyogenes from children
with pharyngitis and emm type analysis. Journal of the Chinese Medical Association. 2016/05/01/ 2016;79(5):276 -280.
8. Fine AM, Nizet V, Mandl KD. (2012). Large-scale validation of the Centor and McIsaac scores to predict group A
streptococcal pharyngitis. Arch Intern Med. 2012;172(11):847-852.
9. Rathod S, Muzaheed, Pillai H P J. (2016). Epidemiology of Streptococcus pyogenes in Pyogenic Infecti ons in
Gulbarga, India. International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences. 10/15 2016;5:1030 -1038.
Molecular identification and survey of antibiotic resistance properties of streptococcus bacteria
causing acute pharyngitis in humans
Giang Cam Tu
*
, Le Nhat Vinh, Nguyen Thi Kim Thuy, Than Van Thai
Biotechnology, Nguyen Tat Thanh University
*
gctu@ntt.edu.vn, gcamtu@gmail.com
Abstract Topics: "Molecular identification and survey of antibiotic resistance properties of Streptococcus bacteria causing
acute pharyngitis in humans" with the objective of isolating, identifying molecular and investigating antibiotic resistance of
some strains of Streptococcus bacteria causing acute pharyngitis in humans. From 50 samples after culture, 125 bacterial
strains were isolated. Out of 125 strains, Gram stained and observed morphology 44/125 strains of streptococci of which
38/44 strains were Gram (+), 6/44 were Gram (-) proving that 38/44 strains are likely to be Streptococcus strains. From 38
Gram - positive streptococcal strains, randomly selected 4 strains were conducted for DNA extraction, PCR run and gen 16S
rRNA sequencing (04 samples) see the bacterial strains studied in the group Streptococcus and share the closest similarity
with strains of S. mitis, S. oralis, S. pseudopneumoniae. Survey results of antibiotic resistance showed that all 4 strains 155,
157, 158, 159 are resistant to 3 types of antibiotics: Amoxicillin, Azithromycin, Cephalexin and sensitive to Clindamycin.
Keywords Streptococcus, acute pharyngitis, antibiotics
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dinh_danh_phan_tu_va_khao_sat_dac_tinh_khang_khang_sinh_cua.pdf