Tương lai của ngành chế biến phụ phẩm giết mổ
Do các quy định của chính phủ hay áp lực của người tiêu dùng đem lại nên khối lượng các phụ
phẩm động vật không được dùng làm thức ăn chăn nuôi sẽ tăng lên trong tương lai và điều này
rất có thể sẽ làm nẩy sinh nhiều vấn đề do vệ sinh kém, lan truyền dịch bệnh, và hủy hoại môi
trường. Do đó đang dần xuất hiện nhu cầu về một hệ thống chế biến lưỡng cấp nhằm giải quyết
các vấn đề và mối quan ngại này. Theo hệ thống mới này, những rủi ro liên quan đến xác chết và
phụ phẩm động vật có thể sẽ được đánh giá và các nguyên liệu được đưa vào chế biến ở các hệ
thống thiết bị riêng biệt để hoặc sản xuất ra các sản phẩm dùng làm thức ăn chăn nuôi hoặc sản
xuất các sản phẩm được dùng cho các mục đích khác. Nếu không có các hướng sử dụng khả dĩ
nào thì các nguyên liệu không thể dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể buộc phải được tiêu
hủy.
Để việc tiêu hủy phát triển thành một khâu của ngành công nghiệp, thì công nghệ chế biến các
phụ phẩm giết mổ cho mục đích tiêu hủy phải có tính bền vững. Việc thiếu vắng các quy định về
thu gom, chế biến và tiêu hủy xác chết và phụ phẩm động vật nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về an
toàn sinh học, khả năng truy nguyên và bảo vệ môi trường chính là nguyên nhân làm cho ngành
chế biến tiêu hủy phụ phẩm động vật vẫn chưa phát triển vững mạnh để xử lý các loại nguyên
liệu này. Không có những tiêu chuẩn như vậy, Hoa Kỳ sẽ không thể có cơ sở hạ tầng đủ để thực
hiện lệnh cấm sử dụng SRM làm thức ăn chăn nuôi, thậm chí ngay cả khi chỉ một phần SRM bị
cấm như FDA đề xuất. Các vấn đề lên quan đến việc tiêu hủy có thể đe doạ đến sức khỏe của
người và động vật, đe dọa môi trường sống vẫn sẽ tăng lên khi khối lượng xác chết và phụ phẩm
động vật không được dùng làm thức ăn chăn nuôi tăng lên.
22 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đóng góp an toàn sinh học của ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giếp mổ cho sức khỏe con người và vật nuôi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hơn về cách sử dụng protein động vật để sản xuất thức ăn hỗn hợp tốt nhất và qui trình
xây dựng khẩu phần được cải tiến cũng đã làm tăng giá trị dinh dưỡng.
73
Bảng 3. Tỷ lệ tiêu hóa của bột thịt - xương từ năm 1984.
A xít amin 1984a 1989b 1990c 1992d 1995e 2001f
Lysine, % 65 70 78 84 94 92
Threonine, % 62 64 72 83 92 89
Tryptophan, % - 54 65 83 - 86
Methionine, % 82 - 86 85 96 92
Cystine, % - - - 81 77 76
a Jørgensen và cộng sự., 1984 c Batterham và cộng sự., 1990
b Knabe và cộng sự., 1989. d Firman, 1992.
e Parsons và cộng sự., 1997 f Pearl, 2001
Việc sử dụng các chất dinh dưỡng có trong phụ phẩm động vật giúp duy trì bền vững ngành chăn
nuôi Hoa Kỳ nhờ giảm thiểu nhu cầu về đất trồng trọt hoặc các khu vực nhạy cảm về môi trường
và giảm giá thành các nguồn dinh dưỡng cạnh tranh như ngô, đậu tương.
Bột thịt - xương là nguyên liệu thức ăn chăn nuôi mang tính chiến lược đặc biệt vì nó là nguồn
nguyên liệu chứa cả protein và phốt pho tương đối rẻ. Việc đưa bột thịt - xương vào khẩu phần
thức ăn cho gia súc, gia cầm đã làm giảm lượng hợp chất phốt phát tiêu chuẩn thức ăn như
dicalcium phốt phát và phốt phát khử flour được khai thác ở mỏ và chế biến công nghiệp tương
đương 2,6 tỷ pound mỗi năm. Nếu nguồn phốt phát động vật mất đi thì lượng phốt pho khai thác
từ mỏ để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi có thể phải tăng lên gấp đôi. Lượng protein do bột thịt -
xương đóng góp tương đương với 12,2 tỷ pound bột đậu tương có hàm lượng protein 48%. Năm
2002, lượng protein trong bột thịt - xương tương ứng với hơn 11% lượng protein đậu tương sản
xuất tại Hoa Kỳ. Nói cách khác, phải có hơn 8,4 triệu mẫu (1 mẫu = 0,4ha) nữa để trồng đậu
tương thì mới sản xuất đủ lượng protein tương đương với lượng có trong bột thịt - xương.
Số năng lượng trao đổi do mỡ và protein động vật đóng góp hàng năm tương đương với hơn
474.000 xe tải ngô. Năm 2002, để sản xuất lượng ngô này có thể cần phải trồng thêm khoảng 3
triệu mẫu. Như vậy, tổng diện tích phải trồng thêm đậu tương và ngô để cung cấp lượng protein
và năng lượng tương đương với số mà bột thịt - xương và mỡ động vật cung cấp sẽ bằng 33,6%
tổng diện tích đất trang trại của bang Iowa, bang dẫn đầu cả nước về sản xuất đậu tương và ngô.
An toàn sinh học
Ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ Hoa Kỳ nhận ra vai trò của mình trong việc đảm
bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cho người và vật nuôi. Quy trình chế biến công
nghiệp là phương pháp đảm bảo an toàn sinh học hiệu quả bởi các điều kiện chế biến đảm bảo có
thể phá hủy cấu trúc của các virus, vi khuẩn và các vi sinh vật gây bệnh khác. Đây là phương
pháp phù hợp nhất để thu gom và chế biến các phụ phẩm và xác chết động vật bởi ngành có đầy
đủ cơ sở hạ tầng để tái chế hoặc tiêu hủy một cách an toàn và trách nhiệm các phụ phẩm này, cho
phép truy nguyên, và sản xuất các sản phẩm an toàn, đảm bảo an toàn sinh học phù hợp các qui
định của Liên bang và Tiểu bang.
Qui trình chế biến
Phụ phẩm và xác chết động vật chưa qua chế biến chứa một lượng lớn vi sinh vật bao gồm cả
virus và vi khuẩn gây bệnh. Nếu không được chế biến đúng cách và đúng lúc, các nguyên liệu dễ
biến đổi này sẽ là môi trường lý tưởng cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển và đe doạ sức khỏe
vật nuôi, con người và môi trường. Nếu để phân hủy và tích tụ tự do, thì các mô này sẽ trở thành
mối nguy hiểm sinh học lớn, dễ gây bệnh, thu hút các loài gặm nhấm, côn trùng, động vật ăn xác
thối và các vector truyền bệnh khác cùng các loài động vật ăn thịt tới sinh sống ở những vùng
dân cư đông đúc.
74
Nhiệt độ trong khoảng từ 240 đến 2950F (khoảng 115 đến 1460C) được sử dụng trong qui trình
chế biến phụ phẩm giết mổ để sản xuất các sản phẩm protein vô khuẩn và không chứa mối nguy
hiểm sinh học hay mối họa về môi trường. Nhiệt độ này cao hơn mức cần thiết để tiêu diệt virus,
vi khuẩn và các vi sinh vật gây bệnh khác. Trout và cộng sự. (2001) đã tiến hành lấy mẫu từ các
phụ phẩm động vật chưa qua chế biến của 17 nhà máy chế biến khác nhau vào hai mùa. Vi
khuẩn Clostridium perfringens, các giống Listeria và Salmonella được tìm thấy trong hơn 70%
các mẫu kiểm tra ngay trước khi chế biến (Bảng 4). Tất cả các mẫu lấy sau khi xử lí nhiệt đều
biểu hiện âm tính với các chủng vi khuẩn nói trên và các mầm bệnh khác. Số liệu này cho thấy
quy trình chế biến phụ phẩm giết mổ là phương tiện rất hiệu quả trong việc kiểm soát vi khuẩn
gây bệnh.
Bảng 4. Hiệu quả của chế biến phụ phẩm giết mổ Hoa Kỳ trong việc tiêu diệt vi khuẩn gây
bệnh.a
Tác nhân gây bệnh Nguyên liệu thô Sau khi chế biến
Clostridium perfringens 71,4% 0%
Giống Listeria 76,2% 0%
L. monocytogenes 8,3% 0%
Giống Campylobacter 29,8% 0%
C. jejuni 20,0% 0%
Giống Salmonella 84,5% 0%
a Trout và cộng sự., 2001. Mẫu thu thập từ 17 nhà máy khác nhau vào mùa đông và mùa hè.
b Tỷ lệ mẫu dương tính trên tổng số mẫu thu thập.
Giá trị của quy trình chế biến này trong việc kiểm soát rủi ro gây ra bởi các vi sinh vật gây bệnh
cũng như các mối nguy hiểm khác đã được Cục Thú y Anh Quốc khẳng định trong một nghiên
cứu vào năm 2001 (Bảng 5). Xác xuất để con người tiếp xúc với các mối nguy hiểm sinh học
được coi gần như bằng không nếu xác động vật và phụ phẩm động vật được chế biến bằng
phương pháp công nghiệp hoặc hỏa thiêu. Tuy nhiên, quá trình cháy khi hỏa thiêu theo báo cáo
có thể tạo ra các rủi ro hóa học ở mức độ từ trung bình đến cao. Chỉ có các nguyên liệu được chế
biến bằng phương pháp chế biến phụ phẩm giết mổ là không gây ra những rủi ro đáng kể cả về
sinh học lẫn hóa học. Một ngoại lệ duy nhất là tác nhân gây bệnh bò điên nhưng mức rủi ro gây
ra cho con người là không đáng kể nếu các sản phẩm rắn thu được sau quá trình chế biến phụ
phẩm giết mổ được hỏa táng.
Hoạt động chế biến phụ phẩm giết mổ được quản lý
Ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ đã được các cơ quan chức năng Liên bang và
Tiểu bang quản lý chặt chẽ thông qua các đợt giám sát định kỳ các cơ sở chế biến để cho phù
hợp với các quy định tương ứng và các mức an toàn cho phép đối với các sản phẩm cuối cùng.
Các quan chức FDA thanh sát các cơ sở chế biến phụ phẩm giết mổ về mức độ tuân thủ các quy
định liên quan tới bệnh bò điên cũng như về lượng tồn dư các chất hóa học. Dựa trên các giới
hạn cho phép mà nước nhập khẩu đề ra, APHIS sẽ cấp giấy chứng nhận xuất khẩu và thanh sát
các cơ sở chế biến phụ phẩm giết mổ. Các quan chức kiểm soát thức ăn chăn nuôi của Tiểu bang
kiểm tra và xét nghiệm các sản phẩm cuối cùng khi thực thi các chính sách về chất lượng, sự giả
mạo, và an toàn thức ăn chăn nuôi. Các cơ quan chức năng khác của tiểu bang cũng có những qui
định liên quan đến ngành công nghiệp chế biến này thông qua việc cấp phép chất lượng nước và
không khí cũng như việc cấp giấy phép sản xuất thức ăn và chế biến phụ phẩm giết mổ. Hệ thống
thanh sát này cũng giúp đảm bảo gia súc chết và gia súc bệnh không được sử dụng một cách phi
pháp làm thức ăn cho người.
75
Kiểm soát nội bộ được ngành chế biến phụ phẩm giết mổ sử dụng để đảm bảo rằng an toàn sinh
học được duy trì và các sản phẩm chế biến là an toàn và phù hợp với các quy định và giới hạn
cho phép của Liên bang và Tiểu bang. Có hai qui trình kiểm soát thông dụng tại các nhà máy chế
biến phụ phẩm giết mổ là thực hành sản xuất tốt (Good Manufacturing Practices-GMP) và kiểm
soát quy trình kiểu HACCP.
GMP là hoạt động thực hành mang tính phòng ngừa làm giảm thiểu các rủi ro về an toàn sản
phẩm thông qua việc xây dựng những khâu kiểm tra cơ bản hoặc những điều kiện thích hợp cho
việc sản xuất các sản phẩm an toàn. Chương trình GMP ở khâu nguyên liệu thô là một ví dụ và
nó phải đảm bảo nguyên liệu thô không tiếp xúc với những hóa chất hoặc kim loại độc hại trước
khi chúng được chế biến tại các nhà máy chế biến phụ phẩm giết mổ. Chương trình GMP rất cần
thiết cho việc xây dựng Chương trình kiểm soát quy trình.
Các nhà máy chế biến phụ phẩm giết mổ ở Hoa Kỳ đã duy trì việc thực hiện các Chương trình
kiểm soát quy trình tự nguyện, coi đây là một thành phần quan trọng của các Chương trình an
toàn sinh học và an toàn thực phẩm của họ. Chương trình kiểm soát quy trình yêu cầu (1) sự
đánh giá toàn bộ quy trình chế biến phụ phẩm giết mổ; (2) xác định những nguy cơ sinh học, hóa
học, lý học tiềm tàng; (3) xác định các điểm tới hạn trong quy trình nơi các mối nguy hiểm có thể
được kiểm soát (4) xây dựng các phương pháp kiểm soát các quy trình và đảm bảo loại trừ hoặc
giảm thiểu các mối nguy tới mức chấp nhận được.
Nhiệt độ chế biến và kích thước các hạt nguyên liệu là hai ví dụ của các điểm kiểm soát tới hạn
gắn liền với việc tiêu diệt virus và vi khuẩn gây bệnh có mặt trong phụ phẩm động vật chưa qua
chế biến và xác chết động vật. Nói là điểm kiểm soát tới hạn vì sự truyền nhiệt qua nguyên liệu ở
nhiệt độ đủ để triệt tiêu các mối nguy sinh học trong thời gian thoáng qua phụ thuộc hoàn toàn
vào tương tác giữa nhiệt độ chế biến và kích thước nguyên liệu. Do đó, chế độ cài đặt và tình
trạng của các thiết bị nghiền nguyên liệu phải được kiểm tra và ghi chép thường xuyên. Nhiệt độ
chế biến cũng phải được theo dõi và ghi chép. Nếu một trong các chỉ số này vượt ra ngoài dung
sai cho phép, thì nguyên liệu phải được chế biến lại và ghi chép cẩn thận.
Kiểm soát chất lượng bổ sung (QA) cũng có thể được thực hiện ở một số khâu thích hợp trong
qui trình chế biến để bảo đảm chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Chương trình tổng hợp
PC/QA đối với các nhà máy chế biến phụ phẩm giết mổ điển hình được minh họa ở Hình 2.
FDA từng thông báo ý định áp dụng một Hệ thống an toàn thức ăn gia súc vào năm 2007 có kết
hợp cách tiếp cận dựa trên rủi ro để xác định và xây dựng mức giới hạn các tạp chất nguy hiểm
có trong thức ăn, và thiết lập các Chương trình kiểm soát quy trình phù hợp (FDA, 2005). Điều
này cũng phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) kêu gọi thực thi đầy
đủ Qui định về xử lý phụ phẩm giết mổ và xác chết động vật để sự đảm bảo an toàn (FAO, 2002).
Mặc dù mỗi nhà máy chế biến phụ phẩm giết mổ đã tự nguyện áp dụng chương trình giám sát
GMP và PC của riêng mình từ nhiều năm nay nhưng ngành công nghiệp này đã chấp nhận Qui
định của APPI năm 2004 chính thức thiết lập các tiêu chuẩn công nghiệp tối thiểu về an toàn sản
phẩm bao gồm chương trình GMP và PC. Các cơ sở sản xuất sẽ được cấp chứng nhận nếu vượt
qua đợt kiểm tra tiến hành bởi cơ quan kiểm tra độc lập là Viện Chứng nhận Thiết bị.
Bảng 5. Tóm tắt những rủi ro tiềm tàng đối với sức khỏe tạo ra bởi các phương pháp xử lý
phụ phẩm động vật khác nhaua, b
Nguy cơ xảy ra cho người từ phương pháp lựa chọn Tác nhân gây
bệnh/rủi ro Chế biến phụ
phẩm giết mổ
Hỏa táng Chôn lấp Giàn thiêu Chôn sâu
Campylobacter, E,coli, Rất nhỏ Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Cao
76
Listeria, Salmonella,
Bacillus anthracis, C.
Botulinum, Leptospira,
Mycobacterium
tuberculosis var bovis,
Yersinia
Cryptosporium,
Giardia
Rất nhỏ Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Cao
Clostridium tetani Rất nhỏ Rất nhỏ Trung bình Trung bình Cao
Prions bệnh bò điên,
bệnh dạic
Trung bình Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Cao
Mê tan, CO2 Rất nhỏ Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Cao
Các hóa chất trong
nhiên liệu, muối kim
loại
Rất nhỏ Rất nhỏ Rất nhỏ Cao Rất nhỏ
Các hạt, SO2, NO2, các
tiểu phần ni-tơ
Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Cao Rất nhỏ
PAH, dioxins Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Cao Rất nhỏ
Thuốc sát trùng, thuốc
tẩy
Rất nhỏ Rất nhỏ Trung bình Trung bình Cao
H2S Rất nhỏ Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Cao
Phóng xạ Rất nhỏ Trung bình Rất nhỏ Trung bình Trung bình
a Cục Thú y Anh Quốc (2001).
b Ghi chú: Rất nhỏ - ít có nguy cơ ở người.
Trung bình – có nguy cơ trung bình ở người.
Cao – Nguy cơ rủi ro cao ở người.
c Nguy cơ rủi ro ở người do TSE gây ra được coi là không đáng kể nếu các sản phẩm dạng rắn
của các nhà máy chế biến phụ phẩm giết mổ được đốt ngay sau đó.
Công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ đáp ứng các mục tiêu của APHIS
Phòng Dịch vụ Thú y của APHIS đã xây dựng Kế hoạch Chiến lược và Thực thi cho các năm tài
chính 2003-2008. Ba mục tiêu cụ thể đã được xây dựng. Các mục tiêu này được trình bày riêng
trong Bảng 6 cùng với các tác động và lợi ích hiện tại mà ngành công nghiệp này tạo ra. Chế
biến các phụ phẩm và xác chết động vật bởi ngành công nghiệp này phù hợp với các mục tiêu đề
ra.
Hình 2. Biểu đồ sản xuất với các điểm kiểm soát chất lượng then chốt
77
Quy trình chế biến phụ phẩm giết mổ là một phương tiện có thể sử dụng để cắt đứt chu trình
bệnh. Với những mầm bệnh điển hình, việc này có thể thông qua sự tiêu diệt nhanh chóng vi sinh
vật nhờ chế biến ở nhiệt độ cao. Với những mầm bệnh khác, ví dụ như tác nhân gây bệnh bò điên,
thì phụ phẩm động vật bị nhiễm khuẩn, trước tiên, được chế biến làm giảm khả năng gây bệnh,
làm cho nguyên liệu trở nên an toàn hơn khi vận chuyển và tích trữ trước khi tiêu hủy. Cohen và
cộng sự (2001) báo cáo rằng, hệ thống chế biến theo mẻ có thể làm giảm 1000 lần khả năng
truyền nhiễm của tác nhân gây bệnh bò điên, còn hệ thống chế biến liên tục có và không có tái
chế mỡ có thể tương ứng làm giảm khả năng truyền nhiễm 100 và 10 lần.
Nhiều năm trước, chính phủ Hoa Kỳ đã nhận thấy những lợi ích về an toàn sinh học của chế biến
phụ phẩm giết mổ. Kết quả là chế biến phụ phẩm giết mổ đã trở thành một phần quan trọng trong
chương trình loại trừ dịch bệnh gia súc của nước này. Thí dụ mới nhất là chương trình loại trừ
virus giả dại tự nguyện. Virus giả dại không thể tồn tại ở điều kiện khắt khe trong quá trình chế
biến phụ phẩm giết mổ (Pertle, 1997). Vì thế qui định yêu cầu tất cả lợn có dấu hiệu thần kinh từ
đàn nhiễm virus giả dại phải được tiêu hủy thông qua quy trình chế biến phụ phẩm giết mổ. Đây
là chương trình tự nguyện rất thành công nhờ đó bệnh này đã được loại trừ hoàn toàn vào cuối
năm 2004.
Bảng 6. Mục tiêu của APHIS cho giai đoạn 2003-2008
TT Mục tiêu Vai trò của chế biến phụ phẩm giết mổ
1 Bảo vệ sức khỏe vật nuôi, cây
trồng và hệ sinh thái ở Hoa
Kỳ
Chế biến phụ phẩm giết mổ có vai trò phòng ngừa
thông qua việc thâu nạp và tiêu diệt các vi sinh vật
gây bệnh trước khi chúng có thể sinh sôi và lây lan
ra ngoài môi trường.
Nguyên liệu thô
Cắt nhỏ
Xử lý nhiệt
(Thời gian x Nhiệt
Protein Ép
Tách mỡ
Nghiền
Bảo quản/Đưa ra ngoài
Các khâu cần phân tích và kiểm soát rủi ro hay chất lượng
78
Các phụ phẩm động vật chưa qua chế biến tích tụ
lại sẽ gây ra mối đe doạ nguy cấp mới.
2 Tạo điều kiện thuận lợi cho
buôn bán nông sản an toàn
Khả năng tiêu thụ có liên quan tới sự an toàn mà
khách hàng cảm nhận được. Khi dịch bệnh gia súc
xảy ra ở trong nước thì thị trường thế giới sẽ đóng
cửa giống như trường hợp Hoa Kỳ và Canada từng
gặp phải khi phát hiện bệnh bò điên. Các cơ sở chế
biến tham gia cùng APHIS giám sát và loại trừ
dịch bệnh gia súc ở Hoa Kỳ.
3 Đảm bảo sự quản lý hiệu quả
các chương trình để hoàn
thành sứ mệnh của APHIS
Động vật chết và các mô động vật khác được tập
trung tại các cơ sở chế biến phụ phẩm giết mổ, tạo
điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chính phủ lấy
mẫu.
Nguồn: USDA, 2003
Chế biến phụ phẩm cũng đã trở thành một phần quan trọng trong chương trình giám sát của
chính phủ đối với các bệnh mới xuất hiện khác. Các cơ sở chế biến phụ phẩm giết mổ đã cung
cấp cho APHIS gần một nửa trong tổng số mẫu thu gom suốt thời gian thực hiện sáng kiến giám
sát bệnh bò điên từ năm 2004 đến 2006. Nhận ra năng lực duy nhất mà chỉ các cơ sở chế biến
phụ phẩm giết mổ mới có trong việc thu gom phụ phẩm và xác chết động vật, nên mới đây
APHIS đã mở rộng quyền được thu thập các mẫu máu và mô tại các cơ sở chế biến này (Tài liệu
Liên bang: 9 CFR phần 71) nhằm nâng cao hơn nữa năng lực giám sát của mình.
Chế biến đúng lúc, nhiệt độ chế biến, tập trung xác và các mô động vật tại một số nơi nhất định
giúp cho APHIS có phương tiện cần thiết để ngăn ngừa dịch, loại trừ bệnh và giám sát trạng thái
sức khỏe đàn gia súc, gia cầm ở Hoa Kỳ. APHIS sẽ khó thực hiện được mục tiêu của mình nếu
ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ không tận dụng được tiềm năng đầy đủ nhất của
nó.
Khả năng truy nguyên nguồn gốc (traceability)
Ngoài cách hỏa táng (có chi phí cao và không thích hợp đối với môi trường) và phương pháp chế
biến phụ phẩm giết mổ công nghiệp thì các phương pháp tiêu hủy phụ phẩm và xác chết động vật
khác đều chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về an toàn sinh học. Việc xác định nguồn gốc của các
chất thải sinh học này sẽ không thể thực hiện được khi các phương pháp tiêu hủy khác (ngoài
phương pháp chế biến phụ phẩm giết mổ) được sử dụng. Điều này sẽ gây khó khăn khi muốn
ngăn ngừa, kiểm soát hay loại trừ bệnh dịch. Chỉ có các nhà máy chế biến phụ phẩm giết mổ mới
nhận thức được trách nhiệm và đủ điều kiện để tập hợp và lưu giữ những ghi chép phù hợp, cung
cấp cho các cơ quan chính phủ để truy tìm ngược trở lại nguồn gốc các phụ phẩm này và các sản
phẩm được tạo ra từ chúng và truy tìm tiếp đến địa đểm tiêu hủy hoặc sử dụng các sản phẩm này.
Ngay sau khi Hệ thống Bấm số Động vật Quốc gia của USDA hoạt động, thì năng lực của các
nhà chế biến thậm chí sẽ hiệu quả và chính xác hơn.
Khả năng truy nguyên nguồn gốc phụ phẩm động vật được đặt ra khi FDA áp dụng điều khoản
cấm các dạng protein có nguồn gốc từ động vật nhai lại quay lại sử dụng cho bò hoặc loài nhai
lại khác (Tài liệu Liên bang: điều 21 CFR, tiết 589.2000; cái gọi là “Qui định thức ăn của FDA”).
Quy định này yêu cầu các nhà chế biến phụ phẩm giết mổ sản xuất các sản phẩm chứa hoặc có
thể chứa protein xuất xứ từ mô động vật có vú để làm thức ăn chăn nuôi phải có những biện pháp
đảm bảo rằng các nguyên liệu bị cấm không được sử dụng làm thức ăn cho động vật nhai lại.
Một điều khoản ghi rõ “phải lưu trữ các tài liệu cần thiết để theo dõi nguồn gốc các nguyên liệu
từ khi nhập, chế biến và phân phối, và phải sao lưu một bản dành cho thanh tra và việc sao lưu
79
là do FDA thực hiện.” Các nhân viên của FDA hoặc quan chức tiểu bang, căn cứ hợp đồng với
FDA, tiến hành thanh tra định kỳ việc thực hiện các yêu cầu này. Tương tự, Đạo luật chống
khủng bố sinh học năm 2002 có phần “lưu trữ hồ sơ” (Mục III, phần 306) theo đó mở rộng các
yêu cầu để bao gồm cả yêu cầu về nguyên liệu do các nhà chế biến phụ phẩm giết mổ thu nhận
và vận chuyển. Yêu cầu áp dụng đến từng công đoạn trong dây chuyền sản xuất để có thể theo
dõi lộ trình nguyên liệu đến từ đâu và phân phối đi đâu – lộ trình “một bước tiến và một bước
lùi.”
Ngay cả những nguyên liệu do các hãng chế biến mà không thuộc diện điều chỉnh theo Qui định
thức ăn chăn nuôi của FDA, chẳng hạn những nguyên liệu có nguồn gốc từ động vật không nhai
lại, cũng phải có những hồ sơ đủ để có thể truy tìm nguồn gốc. Những hãng này cũng là đối
tượng để các quan chức FDA thanh sát và phải chứng minh được là sản phẩm của họ không chứa
các nguyên liệu có nguồn gốc từ động vật nhai lại.
Cơ sở hạ tầng
Những hãng chế biến phụ phẩm giết mổ tổng hợp đều có đủ năng lực vận chuyển và chế biến
hiệu quả khối lượng lớn (≥1000 pound/ngày) các phụ phẩm và xác chết động vật. Chế biến phụ
phẩm giết mổ, như chúng ta biết, được thiết lập ở Hoa Kỳ cách đây hơn 100 năm. Kể từ đó,
ngành công nghiệp này đã phát triển theo hướng dịch vụ không ngừng tìm tòi các công nghệ mới,
khoa học mới và những quyết định kinh doanh đúng đắn nhằm cải thiện hiệu quả chế biến, an
toàn sản phẩm, chất lượng sản phẩm tạo ra và môi trường. Mặc dù ngành công nghiệp này đã trải
qua nhiều sự hợp nhất trong suốt 30 năm qua nhưng hầu hết các khu vực trên nước Mỹ vẫn còn
một hoặc nhiều cơ sở chế biến phụ phẩm giết mổ hoạt động.
Thiết bị được ngành công nghiệp này sử dụng có tính chuyên dụng cao và thường không thấy có
trong các lĩnh vực khác của sản xuất nông nghiệp. Nhằm bảo vệ nguồn cung cấp thực phẩm ngăn
ngừa sự lan truyền bệnh dịch và hủy hoại môi trường, nhiều tiểu bang đã quy định về thu gom và
vận chuyển xác động vật và các phụ phẩm động vật chưa qua chế biến và yêu cầu các xe tải dùng
chuyên chở các nguyên liệu này phải được trang bị những thùng chứa kín, không rò rỉ. Đây là
những thiết bị công nghiệp chuyên dụng và không có trong xe tải hay những thiết bị nông nghiệp
thông thường khác. Các cơ sở chế biến phụ phẩm cũng phải lắp đặt máy lọc không khí, thiết bị
ôxy hóa nhiệt, thiết bị xử lí nước thải và các thiết bị cần thiết khác đáp ứng các tiêu chuẩn qui
định của Tiểu bang về mức ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi nước thải. Hàng chục triệu đô la đã
được đầu tư cho các trang thiết bị, dụng cụ theo dõi giám sát, và kiểm tra phân tích tại các cơ sở
chế biến phụ phẩm giết mổ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn của Tiểu bang và Liên bang.
Vì ngành chế biến phụ phẩm giết mổ cam kết không ngừng cải thiện tính an toàn trong các sản
phẩm của mình nên đã thành lập các tổ chức hỗ trợ kỹ thuật và giáo dục về đảm bảo chất lượng
và an toàn thức ăn chăn nuôi. Tổ chức các nhà sản xuất protein động vật (APPI) quản lý các
chương trình trong phạm vi của ngành về an toàn sinh học, đào tạo PC, giảm thiểu Salmonella,
giáo dục thường xuyên và chứng nhận do tổ chức độc lập cấp về việc thực hiện các quy định liên
quan đến bệnh bò điên và Qui định của APPI. Quỹ nghiên cứu mỡ và protein (FPRF) thu hút và
tài trợ cho các nghiên cứu ngay trong ngành công nghiệp và tại các trường đại học nhằm giải
quyết các vấn đề liên quan tới an toàn sinh học và giá trị dinh dưỡng cũng như tìm kiếm hướng
sử dụng mới. Để tập trung nghiên cứu về an toàn sinh học và để phát triển các hướng sử dụng
mới cho các sản phẩm chế biến, FPRF đã đạt được thỏa thuận với Trường đại học Clemson thành
lập Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu Phụ phẩm Động vật (Animal Co-product Research and
Education Center - ACREC). Chi tiết thêm về sự phát triển và mục đích của ACREC sẽ được
cung cấp trong các Chương tiếp theo của cuốn sách này.
Giảm thể tích
80
Các phụ phẩm động vật chưa qua chế biến chứa rất nhiều nước (Bảng 7). Hơi nóng sử dụng để
chế biến các nguyên liệu thô chủ yếu là để loại bỏ nước và làm cho quá trình chiết tách mỡ được
dễ dàng. Lấy bớt phần lớn lượng nước sẽ làm giảm hơn 60% tổng thể tích, như vậy từ 54 tỷ
pound nguyên liệu thô sẽ còn khoảng 11,2 tỷ pound protein động vật và 10,9 tỷ pound mỡ. Nếu
bảo quản thích hợp, các sản phẩm tạo ra này sẽ giữ được tính ổn định trong thời gian rất lâu. Bột
protein khô là môi trường bất lợi cho mầm bệnh phát triển bởi vì độ hoạt động của nước thấp hơn
mức cần thiết cho vi khuẩn phát triển.
Bảng 7. Thành phần nước, protein và mỡ trong phụ phẩm động vật.
Protein Mỡ Nước
Máu 10 0 90
Mỡ lọc từ thân thịt 5 55 40
Xương 35 10 55
Nội tạng 15 15 70
Chế biến đúng lúc
Nhờ các trang thiết bị và điều kiện chế biến ở các cơ sở hiện đại, các virus, vi khuẩn bị phá hủy
nhanh chóng và mất khả năng tái sinh và lan truyền. Đây chính là cơ sở cho việc ngăn chặn,
phòng ngừa và loại trừ dịch bệnh. Các phương pháp tiêu hủy khác không thể loại bỏ tận gốc
mầm bệnh. Hỏa thiêu cho phép phá hủy nhanh mầm bệnh. Tuy nhiên, một số phương pháp khác
như chôn hoặc ủ làm phân vi sinh chỉ dựa trên cơ sở của sự phân hủy mô, đòi hỏi nhiều tháng để
hoàn tất quá trình tiêu hủy và hiệu quả thấp hơn so với phương pháp chế biến phụ phẩm công
nghiệp.
Công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ Hoa Kỳ và bệnh bò điên
Ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm đã tham gia tích cực các chương trình nhằm ngăn ngừa
sự lây lan bệnh bò điên ở Hoa Kỳ ngay trước năm 1995 - thời điểm các nhà chế biến phụ phẩm
giết mổ tự giác ngưng chế biến nguyên liệu xuất xứ từ cừu. Điều này được thực hiện nhằm ngăn
chặn nguyên liệu bị nhiễm virus dại thâm nhập chuỗi thực phẩm, đặc biệt là qua thức ăn chăn
nuôi cho động vật nhai lại.
Năm 1996, khi FDA lần đầu tiên xem xét các biện pháp phòng bệnh thì các nhà chế biến phụ
phẩm giết mổ và người chăn nuôi bò đã tự nguyện ngưng sử dụng bột thịt - xương có nguồn gốc
từ gia súc nhai lại làm thức ăn cho bò. Sau đó, việc này trở thành chính thức khi FDA ban hành
Qui định thức ăn chăn nuôi (Hồ sơ Liên bang: điều 21 CFR, mục 589.2000) trong đó cấm sử
dụng các nguyên liệu nói trên làm thức ăn cho bò hoặc các động vật nhai lại khác. Ngành công
nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ đã chủ động tham gia soạn thảo Qui định và hoàn toàn ủng hộ
việc ban hành Qui định vào năm 1997.
Ở Hoa Kỳ chỉ có bột thịt - xương được chế biến từ nguyên liệu lấy từ các cơ sở chỉ giết mổ hoặc
chế biến các gia súc không phải loài nhai lại mới được dùng làm thức ăn cho gia súc nhai lại.
Trường hợp nguyên liệu không đảm bảo 100% là có nguồn gốc từ động vật không nhai lại, thì
các sản phẩm tạo ra vẫn bị cấm sử dụng làm thức ăn cho bò và gia súc nhai lại khác. Trong khi
các chương trình PC nhắm tới các mối nguy hiểm đã biết trước và có thể loại trừ hoặc kiểm soát
được thông qua quy trình chế biến phụ phẩm giết mổ, thì các Chương trình này cũng bao gồm
việc thực hiện ngay trong nhà máy các chính sách áp dụng cho việc chấp nhận hoặc không chấp
nhận nguồn nguyên liệu thô. Điều này sẽ đảm bảo hơn nữa việc các nguyên liệu thu gom từ bò
(như các nguyên liệu được kiểm tra về khả năng mắc bệnh bò điên trong chương trình giám sát
của APHIS), cừu, dê nghi mắc bệnh sẽ không được tiếp nhận và chế biến làm thức ăn chăn nuôi.
81
Pháp lệnh thức ăn của FDA yêu cầu sản phẩm hoàn chỉnh phải có nhãn mác rõ ràng và hóa đơn
mua hàng đối với nguyên liệu thô cũng như hóa đơn bán hàng đối với các sản phẩm hoàn chỉnh
phải được lưu trữ và cung cấp cho FDA kiểm tra khi được yêu cầu. Điều này cho phép FDA xác
minh nguồn gốc nguyên liệu thô và xác minh việc thực hiện Pháp lệnh thức ăn của các nhà sản
xuất, buôn bán, phân phối và sử dụng thức ăn chăn nuôi. Riêng với các nhà máy chế biến protein
phụ phẩm được miễn áp dụng Pháp lệnh thức ăn này, thì cần có những văn bản và biện pháp thực
tế chứng minh khả năng đảm bảo việc ngăn ngừa quá trình nhiễm khuẩn chéo.
Qui định của APPI áp dụng cho các công ty chế biến phụ phẩm giết mổ từ năm 2004 yêu cầu các
trang thiết bị phải phù hợp với Pháp lệnh thức ăn FDA. Kết quả kiểm tra mới đây (năm 2001)
của cơ quan kiểm tra độc lập tại các nhà máy chế biến về đáp ứng yêu cầu của Pháp lệnh thức ăn
FDA cho thấy 100% các công ty được khảo sát chiếm gần như toàn bộ năng lực ngành công
nghiệp này đủ tiêu chuẩn.
Mặc dù có hai trường hợp bệnh bò điên có tính địa phương được ghi nhận tại Hoa Kỳ tính đến
thời điểm này nhưng bệnh này hầu như chắc chắn không xảy ra bởi vì các biện pháp mà các cơ
quan chức năng của Chính phủ Hoa Kỳ áp dụng đã và sẽ có hiệu quả trong việc làm giảm sự lây
lan của bệnh (Cohen và cộng sự., 2001). Do đó khả năng đề kháng chống lại sự lây lan của bệnh
bò điên và những bệnh tương tự khác ở Hoa Kỳ là rất cao. Cohen và cộng sự. (2001) cho rằng
Pháp lệnh thức ăn của FDA là một trong những công cụ bảo vệ quan trọng nhất vì nó sẽ ngăn
ngừa sự lan truyền bệnh. Hueston (2005) cũng cho rằng, mặc dù chỉ cần thức ăn nhiễm một liều
nhỏ cũng đủ để lây nhiễm bệnh bò điên, nhưng sự lây lan đòi hỏi quá trình tái chế đáng kể các
phụ phẩm ngay trong phạm vi đàn bò. Năm 2001, FAO đã phản ứng lại các đánh giá trên thông
qua đề xuất cấm sử dụng bột thịt - xương có nguồn gốc từ gia súc nhai lại cho gia súc nhai lại
trên phạm vi toàn thế giới, coi đây là biện pháp bảo vệ bổ sung nhằm ngăn chặn sự lây lan bệnh
bò điên.
Ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ chương trình phòng chống
bệnh bò điên dựa trên cơ sở khoa học, ủng hộ những cố gắng của FDA và APHIS cũng như của
các cơ quan chức năng Liên bang và Tiểu bang khác. Ngành công nghiệp này cam kết chấp hành
Pháp lệnh thức ăn FDA 100%, coi đây là yếu tố quyết định đến sự thành công của ngành.
Thách thức
Trong 10 năm qua, sự lo ngại bệnh bò điên là vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến việc
sử dụng các sản phẩm của ngành chế biến phụ phẩm giết mổ. Do FDA ban hành Pháp lệnh thức
ăn, việc hạn chế sử dụng (bị cấm sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại) bột thịt - xương làm
giảm giá trị của sản phẩm này mỗi tấn 18,13 đô la so với sản phẩm cùng loại nhưng có nguồn
gốc từ động vật không thuộc loài nhai lại (Sparks, 2001).
Hậu quả của việc mất giá và mất thị trường do người tiêu dùng lo lắng thực hay lo lắng giả tạo
đã tác động nghiêm trọng đến ngành chế biến phụ phẩm giết mổ. Nguyên nhân của tác động này
có thể thấy khi xem xét số lượng sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các quy định này (Bảng 8). Khoảng
75% (tương đương 2,5 triệu tấn) bột thịt - xương sản xuất tại Hoa Kỳ, toàn bộ hay một phần, có
xuất xứ từ gia súc nhai lại và không thể sử dụng làm thức ăn cho bò và động vật nhai lại khác.
Trực tiếp thì điều này ảnh hưởng rất ít đến ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm. Nhưng một
cách gián tiếp, các điều kiện buộc phải tuân thủ đối với những nhà sản xuất cả thức ăn cho gia
súc nhai lại và gia súc khác trong cùng nhà máy, những lo ngại về an toàn thực phẩm, chi phí
truyền thông, các chiến dịch tiếp thị quảng bá sản phẩm thịt từ các gia súc ăn thức ăn “không có
phụ phẩm động vật” đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho ngành công nghiệp này. Kết quả là, các
nhà sản xuất phải đẩy một phần chi phí liên quan đến khâu chế biến phụ phẩm cho các nhà cung
82
cấp phụ phẩm và xác chết động vật. Điều này đã kích thích việc sử dụng các phương pháp khác
(hợp pháp và phi pháp) để tiêu hủy các loại nguyên liệu này.
Bảng 8. Sản lượng hàng năm các phụ phẩm động vật (Sparks, 2001).
Bột protein Triệu pound/năm
Bột thịt - xương
Hạn chế sử dụng (cấm dùng làm thức ăn cho gia súc nhai lại)
100% nguyên liệu từ gia súc nhai lại 2.734,1
Hỗn hợp có chứa nguyên liệu từ gia súc nhai lại 2.263,1
Tổng số bột thịt - xương sử dụng hạn chế 4.997,1
Loại miễm xem xét (có thể sử dụng cho gia súc nhai lại)
Loại miễn xem xét (100% nguyên liệu từ lợn) 1.640,5
Hỗn hợp được miễn xem xét 14,6
Tổng bột thịt - xương miễm xem xét 1.655,1
Sản phẩm máu (tất cả đều được miễn xem xét theo Pháp lệnh
thức ăn)
Có nguồn gốc từ gia súc nhai lại 121,9
Có nguồn gốc từ lợn 54,8
Loại hỗn hợp 49,8
Tổng sản phẩm máu 226,5
Bột gia cầm (được miễn xem xét theo Pháp lệnh thức ăn)
Bột phụ phẩm gia cầm (nguyên chất gia cầm) 3.073,5
Bột lông vũ 1.200,00
Tổng các loại bột từ gia cầm 4.273,5
Những sự kiện mới đây tại Bắc Mỹ và việc các cơ quan chức năng Liên bang đề xuất soạn thảo
luật hai năm vừa qua gợi ý rằng các loại hay chủng loại phụ phẩm động vật dạng thô dùng chế
biến làm thức ăn gia súc rất có thể sẽ còn bị hạn chế hơn nữa. Vào năm 2003, Canada và Hoa Kỳ
mỗi quốc gia đã xác nhận ca nhiễm bò điên đầu tiên của mình. Ngay sau khi xác nhận ca bệnh,
hai nước đã cấm sử dụng các nguyên liệu được xác định là có nguy cơ (Specified Risk Materials
- SRM) làm thực phẩm cho người và sản xuất hóa mỹ phẩm. Canada và Hoa Kỳ xác định những
mô SRM tương tự nhau, gồm đầu, não, hạch thần kinh chạc ba (hạch thần kinh sọ số V), mắt, tủy
sống, hạch gốc thắt lưng ở bò trên 30 tháng tuổi, hồi tràng ngoại biên và hạch amidan ở bò các
lứa tuổi.
Tính đến thời điểm này, Canada đã xác nhận tám trường hợp mắc bệnh bò điên, Hoa Kỳ ba
trường hợp, trong đó hai trường hợp trên bò địa phương, và một (trường hợp đầu tiên) trên bò
nhập từ Canada vào tiểu bang Washington. Tất cả các trường hợp mắc bệnh bò điên ở Hoa Kỳ
đều xẩy ra trước năm 1997 là năm Pháp lệnh thức ăn có hiệu lực. Bốn trường hợp bò điên ở
Canada xẩy ra trước năm 1997 là thời điểm mà Chính phủ Canada áp dụng quy định hạn chế
thức ăn tương tự như Pháp lệnh thức ăn của Hoa Kỳ. Kết quả là, Cơ quan Thanh tra Thực phẩm
Canada tuyên bố quy định cấm tất cả SRM (não, hạch thần kinh chạc ba (hạch thần kinh sọ số V),
mắt, hạch amidan, tủy sống, hạch gốc thắt lưng ở bò trên 30 tháng tuổi và hồi tràng ngoại biên ở
bò các lứa tuổi) không được sử dụng trong thức ăn gia súc hoặc làm phân bón; qui định này sẽ có
hiệu lực vào ngày 12 tháng 7 năm 2007 (CFIA, 2006).
Ngày 6 tháng 10 năm 2005 FDA đề xuất sửa đổi Pháp lệnh thức ăn và cấm sử dụng một số
nguyên liệu có nguồn gốc từ bò trong thức ăn cho tất cả các loại gia súc (Dự thảo sắc lệnh; Hồ sơ
Liên bang, Tập 70, số 193, trang 58570-58601). Các nguyên liệu bị đề xuất cấm gồm (1) Não và
tủy sống bò trên 30 tháng tuổi hoặc hơn đã thông qua kiểm dịch cho phép dùng cho người, (2)
83
não và tủy sống bò tất cả các lứa tuổi không được kiểm dịch và không được dùng cho người (“bò
chết và bò buộc phải giết bỏ”), và (3) xác vật chết hoặc bị giết nếu não và tủy sống không được
loại bỏ. Ngoài ra các loại mỡ động vật chứa hơn 0,15% tạp chất không hòa tan cũng sẽ bị cấm sử
dụng làm thức ăn cho bất cứ loại gia súc nào nếu mỡ đó có nguồn gốc từ các nguyên liệu bị đề
nghị cấm. Đến nay, FDA vẫn đang xem xét những ý kiến đóng góp cho bản dự thảo và vẫn chưa
đưa ra bất cứ hành động tiếp theo nào.
Ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ ước tính trung bình chỉ có khoảng 54% số bò
chết hoặc giết loại thải là được tách bỏ não và tủy sống (Informa economics, 2005). Nhiệt độ môi
trường bên ngoài tăng lên sẽ làm cho xác chết phân hủy nhanh hơn và điều này ảnh hưởng tiêu
cực đến việc lấy các mô mềm này ra khỏi xác chết. Tại những vùng nhiệt độ ban ngày phần lớn
thời gian trong năm vượt quá 800F (khoảng 270C), ví như tại miền Nam và miền Tây Hoa Kỳ,
chỉ khoảng 10% não và tủy sống là được loại bỏ thành công. Theo Sắc lệnh dự thảo này, nếu
không lấy hết não hoặc tủy sống khỏi xác vật chết hoặc giết loại thải thì không thể sử dụng các
xác chết này làm thức ăn gia súc và sẽ gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với vấn đề tiêu hủy.
Hậu quả tiềm tàng không mong muốn khác của Sắc lệnh dự thảo là việc thu gom xác động vật dạ
dầy đơn bị đình trệ, vấn đề phù hợp với các qui định liên quan tới việc tiếp nhận các phụ phẩm từ
các cơ sở không được thanh sát bởi Liên bang và giết mổ bò trên 30 tháng tuổi, và dịch vụ chế
biến phụ phẩm giết mổ sẽ bị giảm sút tại nhiều địa phương. Trong dự thảo, các chỉ tiêu FDA
dùng để xác định mức phù hợp đối với ngành công nghiệp này không được nói rõ. Kết quả là,
các nhà chế biến phụ phẩm giết mổ có thể ngưng chế biến các nguyên liệu bị cấm chứ không
chấp nhận rủi ro để cơ quan chức năng xác định là không phù hợp, và điều này có thể làm tăng
lượng nguyên liệu phải tiêu hủy bằng các biện pháp khác.
Hoa Kỳ không quy định một cách thống nhất đối với việc tiêu hủy xác động vật chết và phụ
phẩm động vật. Bởi vì, những nguyên liệu đó dù ở dạng thô hay dạng chế biến đều sẽ không có
giá trị hoặc nếu có thì rất nhỏ nếu chúng bị cấm sử dụng làm thức ăn cho gia súc, và chắc chắn là
các nhà chế biến phụ phẩm sẽ không thể thu gom và chế biến chúng. Kết quả là các cơ quan
chức năng của chính phủ sẽ mất khả năng kiểm soát công việc thu gom và tiêu hủy SRM hay bất
kỳ loại nguyên liệu hỗn hợp nào. Mất khả năng kiểm soát này là trái ngược với ý định bảo vệ đàn
gia súc khỏi nhiễm bệnh bò điên và có thể góp phần làm lan truyền các bệnh thông thường.
Trong lúc mỡ động vật có thể được sử dụng làm nhiên liệu hoặc ứng dụng công nghiệp, thì
protein động vật hầu hết mới chỉ được sử dụng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và một phần
nhỏ làm phân bón. Nếu không phát triển việc sử dụng với số lượng lớn protein động vật cho các
mục đích khác ngoài thức ăn chăn nuôi thì các nguyên liệu bị cấm chế biến sẽ không có giá trị
kinh tế và các công ty chế biến phụ phẩm giết mổ sẽ không chịu thu gom, vận chuyển, chế biến
và tiêu hủy các nguyên liệu này trừ khi cơ sở cung cấp nguyên liệu chấp nhận chi phí cho việc đó.
Hình 3. Chôn xác hươu không đúng cách trên cánh đồng ngô
84
Chế biến phụ phẩm giết mổ là phương pháp tiêu hủy tối ưu
Thất bại trong việc sử dụng công nghiệp chế biến để tiêu hủy phụ phẩm và xác chết động vật sẽ
làm hao mòn thiết bị được lắp đặt để xử lý một cách thích hợp các nguyên liệu này và tạo ra
những thách thức về vệ sinh và môi trường trong tương lai (FAO, 2002). Những hậu quả này sẽ
khó kiểm soát trong những trường hợp khẩn cấp trên diện rộng, chẳng hạn như các ổ dịch ở nước
ngoài, những đợt nóng kéo dài, lũ lụt v.v... Sparks (2001) cho rằng lệnh cấm sử dụng các protein
động vật làm thức ăn gia súc có thể làm giảm giá bán của bò (giảm 15,49 đô la/con), lợn (3,22 đô
la/con), gà thịt (0,07 đô la/con) và gà tây (0,33 đô la/con). Giá trị này được tính trên tổng thiệt
hại kinh tế về protein động vật (không phải mỡ động vật) với giả thiết là các dịch vụ chế biến
phụ phẩm giết mổ sẽ tiếp tục hoạt động. Đấy là chưa tính đến các chi phí tiềm ẩn liên quan tới sự
giảm phần lớn hoặc mất hoàn toàn các dịch vụ chế biến phụ phẩm giết mổ cho gia súc, gia cầm,
và chế biến thịt.
Hình 4. Xử lí không đúng cách các bao rác chứa xác động vật
85
Nếu không có ngành chế biến phụ phẩm giết mổ thì có thể sẽ phải vất bỏ hay tiêu hủy phụ phẩm
và xác chết động vật ở các bãi rác công cộng, hố phân vi sinh, khu chôn lấp, lò thiêu, hoặc tệ hơn
là những bãi rác thải bất hợp pháp gây nên những mối nguy tiềm ẩn cho sức khỏe cộng đồng.
Mỗi phương pháp nói trên đều có những hạn chế về khả năng tiêu hủy phụ phẩm và xác chết
động vật nhưng không gian bị hạn chế là điều dễ thấy nhất.
Khi các phụ phẩm động vật chưa qua chế biến có nguồn gốc từ gia súc nhai lại được tiêu hủy
bằng phương pháp khác thì việc tiêu hủy không được quản lý và bò cũng như các gia súc nhai lại
khác có nhiều nguy cơ tiếp xúc với các nguyên liệu bị FDA cấm theo Pháp lệnh thức ăn. Gia súc
nhai lại hoang dã hay được nuôi đều có thể trực tiếp tiếp xúc với các nguyên liệu chưa chế biến
được chôn, ủ phân vi sinh sai cách hoặc vứt ở các bãi chôn rác thải. Hậu quả là các giải pháp xử
lý không theo phương pháp chế biến công nghiệp sẽ góp phần phát tán bệnh bò điên ở Hoa Kỳ.
Thí dụ, luật pháp hiện hành vẫn chưa cấm việc bón phân vi sinh làm từ các phụ phẩm động vật
có nguồn gốc từ gia súc nhai lại cho đồng cỏ chăn thả và/hoặc sản xuất cỏ khô.
86
Hình 5. Xác bê chết vứt bỏ không đúng quy định
Hình 6. Gia súc chết bị vứt lên đống phân không đúng cách
Chôn lấp (landfills)
Trong khi chế biến theo phương pháp công nghiệp làm giảm thể tích phụ phẩm động vật thì
phương pháp tiêu hủy trong các hố chôn lấp lại cần phải có chất độn (thí dụ mùn cưa) để hút bớt
lượng nước khá cao trong xác chết hay phụ phẩm động vật (1 phần chất độn, 3 phần phụ phẩm
động vật). Kết quả là tổng thể tích có thể tăng thêm khoảng 25%. Nếu xử lý đúng cách thì thể
tích xác chết và phụ phẩm động vật tạo ra trong một năm có thể chiếm 25% tổng thể tích của tất
cả các hố chôn lấp của Hoa Kỳ với chi phí ước tính khoảng 105 đô la/tấn (Sparks, 2001).
87
Sự phân hủy diễn ra chậm chạp ở nhiệt độ tương đối thấp (130-1500F) trong đất làm hạn chế quá
trình tiêu diệt mầm bệnh. Chôn lấp các phụ phẩm động vật góp phần tạo ra khí mê tan và mùi,
hấp dẫn các vector truyền bệnh (chẳng hạn chuột, thú cảnh, ruồi) và tạo nguy cơ tiếp xúc và/hoặc
hít thở cho người.
Các nghiên cứu trình bày ở Bảng 5 chỉ ra rằng, có nhiều lựa chọn khác ưu việt hơn phương pháp
chôn lấp trong việc hạn chế khả năng tiếp xúc của con người với những rủi ro sinh học và hóa
học bao gồm cả bệnh bò điên. Hơn nữa, chôn lấp có thể làm tăng khả năng mắc bệnh của những
công nhân làm việc tại các hố chôn và sự lan truyền mầm bệnh ra các vùng lân cận nếu chôn lấp
một lượng lớn gia súc cần tiêu hủy (Gerba, 2002). Vì thế, tiêu hủy xác động vật chết bằng cách
chôn lấp đã bị cấm tại California và có thể ở các Tiểu bang khác.
Làm phân vi sinh
Làm phân vi sinh phụ thuộc vào quá trình lên men vi sinh vật có kiểm soát để phân hủy xác chết
và phụ phẩm động vật. Hơn nữa, làm phân vi sinh đã hạn chế việc tiêu hủy với qui mô lớn vì khi
đó sẽ cần một lượng lớn các nguyên liệu giàu carbonhydrate nhằm cân bằng với lượng ni tơ và
lượng nước có trong xác chết hoặc phụ phẩm động vật. Nếu theo hướng dẫn của ngành chăn nuôi
lợn về tiêu hủy làm phân vi sinh (Glanville, 2001) thì sẽ cần phải có thể tích tương đương 1.000
tỷ feet khối (tương đương 800 tỷ bushel) để lên men 54 tỷ pound phụ phẩm động vật tạo ra trong
một năm. Thể tích này tương đương với thể tích cần để dự trữ tất cả lượng ngô sản xuất tại Hoa
Kỳ trong 100 năm qua. Thêm vào đó, việc sử dụng các loại phân vi sinh có chứa xác chết hoặc
phụ phẩm có nguồn gốc từ bò để bón cho đồng cỏ chăn thả hoặc đất sản xuất thức ăn chăn nuôi
là trái với ý tưởng của Pháp lệnh thức ăn FDA cũng như các chương trình Liên bang khác về
phòng ngừa sự lan truyền bệnh bò điên tại Hoa Kỳ. Xử lí bằng phương pháp ủ phân vi sinh trên
địa bàn rộng có thể làm giảm tính thống nhất của Pháp lệnh thức ăn FDA và làm cho các mô
hình đánh giá rủi ro hiện có (Cohen và cộng sự., 2001) mất hiệu lực. Một số Tiểu bang nhận ra
rằng, xác hoặc mô cơ thể bò chết được dùng làm phân vi sinh tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường và đã cấm sử dụng phương pháp này theo luật tiểu bang. California là một trong các tiểu
bang đó.
Việc ủ phân vi sinh hiệu quả là rất khó thực hiện, và tùy thuộc vào hệ thống sử dụng, ủ phân có
thể tạo ra mùi và không tiêu diệt hết các mầm bệnh (Franco, 2002). Nhiệt sinh ra khi ủ phân
(120-1580F) sẽ giết chết phần lớn trứng giun sán và các vi khuẩn sinh dưỡng trong phạm vi hố ủ
cách bề mặt 4 đến 8 inches, nhưng không đủ để loại trừ các vi khuẩn ưa nhiệt và các vi khuẩn
dạng bào tử như Clostridium perfringens. Tuy nhiên, nếu không đảo hố ủ phân đúng cách thì sẽ
không thể đảm bảo là tất cả mầm bệnh đã được tiêu diệt. Các cơ sở chế biến phụ phẩm độc lập
có thể theo dõi các trường hợp khẩn cấp và tiến hành các phương pháp xử lý thay thế nhờ có ưu
thế riêng là ở gần khu vực chăn nuôi gia súc. Ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm giết mổ đã
quan sát và tập hợp được nhiều tài liệu về các thử nghiệm ủ phân vi sinh thất bại hoặc không đạt
yêu cầu.
Chôn sâu
Tại một số tiểu bang, phương pháp này không phải là sự lựa chọn thích hợp vì mật độ dân số cao
và/hoặc việc chôn chất thải động vật có thể gây ô nhiễm môi trường đất và nước. Nếu không
thực hiện đúng cách, phương pháp này cũng có thể gây nên những rủi ro tiềm tàng từ mầm bệnh
giống như phương pháp chôn lấp hoặc ủ phân vi sinh. Như trình bày ở Bảng 5, nguy cơ do vi
sinh vật hoặc do chất hóa học (chẳng hạn H2S) gây ra ở người là khá cao nếu xác chết hoặc phụ
phẩm động vật được chôn (UK Department of Health, 2001). Diện tích đất chôn cũng là yếu tố
hạn chế đáng kể khi phải tiêu hủy một khối lượng lớn xác chết và phụ phẩm động vật.
88
Hỏa thiêu
Phương pháp này có hạn chế lớn về chi phí do phải sử dụng nhiên liệu địa khai để tiêu hủy xác
chết và phụ phẩm động vật. Thiêu hủy nguyên liệu cũng tạo ra một lượng tro đáng kể, gây khó
khăn cho việc tiêu hủy. Hỏa thiêu là phương tiện hiệu quả ngăn chặn tối đa mầm bệnh ở người.
Tuy nhiên, lò hỏa thiêu thường tạo ra những hóa chất độc hại tiềm tàng như dioxin và các hạt bụi
có hại (Bảng 5). Hơn nữa, cũng giống như ở Liên minh châu Âu, năng lực hỏa thiêu của Hoa Kỳ
không đủ để tiêu hủy lượng xác chết và phụ phẩm động vật tạo ra hàng năm (Goldstein và
Madtes, 2001). Mặt khác, cũng có rất nhiều thách thức về quản lý cản trở việc chấp nhận các lò
hỏa thiêu mới.
Vứt rác tự phát
Do chi phí và nguy cơ bị truy tố thấp, vứt xác chết hoặc lén lút chất các chất thải là mô động vật
truyền nhiễm thành đống rác là một lựa chọn hấp dẫn (Hình 3-9). Khả năng tiềm ẩn thu hút các
động vật ăn xác chết, lây nhiễm vi khuẩn cho đất và nguồn nước bề mặt, và phát tán mầm bệnh
tiềm tàng trên người và gia súc làm cho phương pháp tiêu hủy này đặc biệt nguy hại. Các nhà
chế biến phụ phẩm giết mổ độc lập là những người có điều kiện thuận lợi nhất theo dõi và ghi
nhận xu hướng đang tăng lên này. Hằng ngày, những người lao động dọc hành trình trên những
tuyến đường thu lượm của mình vẫn nhìn thấy những nguyên liệu bị bỏ rơi trên đồng hoang hay
chất đống dọc các khe núi hay các nguồn nước. Các cơ quan quản lí chất thải rắn của tiểu bang
không có đủ nhân lực để kiểm soát và thực hiện các lệnh cấm các hành vi vất rác bừa bãi này và
thừa nhận rằng họ chỉ biết về điều đó khi nhận được những lời than phiền.
Tương lai của ngành chế biến phụ phẩm giết mổ
Do các quy định của chính phủ hay áp lực của người tiêu dùng đem lại nên khối lượng các phụ
phẩm động vật không được dùng làm thức ăn chăn nuôi sẽ tăng lên trong tương lai và điều này
rất có thể sẽ làm nẩy sinh nhiều vấn đề do vệ sinh kém, lan truyền dịch bệnh, và hủy hoại môi
trường. Do đó đang dần xuất hiện nhu cầu về một hệ thống chế biến lưỡng cấp nhằm giải quyết
các vấn đề và mối quan ngại này. Theo hệ thống mới này, những rủi ro liên quan đến xác chết và
phụ phẩm động vật có thể sẽ được đánh giá và các nguyên liệu được đưa vào chế biến ở các hệ
thống thiết bị riêng biệt để hoặc sản xuất ra các sản phẩm dùng làm thức ăn chăn nuôi hoặc sản
xuất các sản phẩm được dùng cho các mục đích khác. Nếu không có các hướng sử dụng khả dĩ
nào thì các nguyên liệu không thể dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể buộc phải được tiêu
hủy.
Để việc tiêu hủy phát triển thành một khâu của ngành công nghiệp, thì công nghệ chế biến các
phụ phẩm giết mổ cho mục đích tiêu hủy phải có tính bền vững. Việc thiếu vắng các quy định về
thu gom, chế biến và tiêu hủy xác chết và phụ phẩm động vật nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về an
toàn sinh học, khả năng truy nguyên và bảo vệ môi trường chính là nguyên nhân làm cho ngành
chế biến tiêu hủy phụ phẩm động vật vẫn chưa phát triển vững mạnh để xử lý các loại nguyên
liệu này. Không có những tiêu chuẩn như vậy, Hoa Kỳ sẽ không thể có cơ sở hạ tầng đủ để thực
hiện lệnh cấm sử dụng SRM làm thức ăn chăn nuôi, thậm chí ngay cả khi chỉ một phần SRM bị
cấm như FDA đề xuất. Các vấn đề lên quan đến việc tiêu hủy có thể đe doạ đến sức khỏe của
người và động vật, đe dọa môi trường sống vẫn sẽ tăng lên khi khối lượng xác chết và phụ phẩm
động vật không được dùng làm thức ăn chăn nuôi tăng lên.
89
Hình 7. Vứt xác động vật bất hợp pháp làm ô nhiễm nguồn nước
Hình 8. Vứt xác chết bấp hợp pháp tại các dòng nước
90
Hình 9. Xác lợn đang thối rữa – tiêu hủy sai cách
Tài liệu tham khảo
Batterham, E.S., L.M. Anderson, D.R. Baigent, S.A. Beech, and R. Elliott. 1990. Utilization of
ileal digestible amino acids by pigs. Brit. J. Nutr. 64:679.
CFIA. 2006. Canada’s Enhanced Feed Ban. Canadian Food inspection Agency Fact Sheet.
Cohen, J.T., K. Duggar, G.M. Gray, S. Kreindel, H. Abdelrahman, T. HabteMariam, D. Oryang,
and B. Tameru. 2001. Evaluation of the Potential for Bovine Spongiform Encephalopathy in the
United States. Report from the Harvard Center for Risk Analysis. Harvard University and
Tuskegee University.
ERS. 2001. Economic Research Service, U.S. Department of Agriculture. Livestock, Dairy and
Poultry Situation and Outlook. LDP-M-90. December 27.
FAO. 2002. Executive Summary; Expert Consultation and Workshop on Protein Sources for the
Animal Feed Industry. Food and Agriculture Organization in association with the International
Feed Industry Federation. Bangkok, Thailand, April 29 – May 2.
FDA. 2005. Animal Feed Safety System public meeting. Omaha, Nebraska, April 5-6.
Firman, J.D. 1992. Amino acid digestibilities of soybean meal and meat meal in male and female
turkeys of different ages. J. Appl. Poultry Res. 1:350.
Franco, D.A. 2002. Animal disposal – the environmental, animal disease, and public health
related implications: An assessment of options. National Renderers Association.
Gerba, C.P. 2002. Potential health implications from the disposal of large animals in landfills.
Presentation to the Arizona Department of Agriculture. June 11.
Glanville, T. 2001. Design a swine composter for your operation. In: DisSolving Swine
Mortality Problems. Iowa State University.
Goldstein, N., and C. Madtes. 2001. The state of garbage in America; 13th annual Biocycle
nationwide survey. In: Biocycle. December. pp 42-54.
91
Hueston, W.D. 2005. BSE Prevention in North America: Analysis of the Science and Risk.
American Meat Institute conference, Washington, DC, January 27.
Informa Economics. 2005. Economic impacts of proposed changes to livestock feed regulations.
Prepared for the National Renderers Association.
Jørgensen, H., W.C. Sauer, and P.A. Thacker. 1984. Amino acid availabilities in soybean meal,
sunflower meal, and meat and bone meal fed to growing pigs. J. Anim. Sci. 58:926.
Knabe D.A., D.C. LaRue, E.J. Gregg, G.M. Martinez, and T.D. Tanksley. 1989. Apparent
digestibility of nitrogen and amino acids in protein feedstuffs by growing pigs. J. Anim. Sci.
67:441.
NASS. 2001. National Agricultural Statistics Service, U.S. Department of Agriculture. Meat
Animals Production, Disposition, and Income. Mt An-1-1 (01). April.
Parsons, C.M., F. Castanon, and Y. Han. 1997. Protein and amino acid quality of meat and bone
meal. Poult. Sci. 76:361.
Pearl, G.G. 2001. Animal protein by-product ingredients in sein rations. Proc. Mid-West Swine
Nutrition Conf. Sept. 5. Indianapolis, IN. pp 33-45.
Pirtle, E.C. 1997. Stability of pseudorabies virus (PRV) in meat and bone meal and intermediate
rendering products. FPRF Director’s Digest No. 290.
Sparks Companies Inc. 2001. The Rendering Industry: Economic Impact of Future Feeding
Regulations. National Renderers Association, Alexandria, VA.
Troutt, H.F., D. Schaeffer, I. Kakoma, and G.G. Pearl. 2001. Prevalence of Selected Foodborne
Pathogens in Final Rendered Products. FPRF Directors Digest #312.
U.K. Department of Health. 2001. A rapid qualitative assessment of possible risks to public
health from current foot and mouth disposal options - Main Report. June.
U.S. Department of Agriculture. 2003. APHIS Veterinary Services Strategic and Performance
Plan for the 2003 – 2008 fiscal years.
Thiết bị chế biến mỡ (1967)
Các file đính kèm theo tài liệu này:
dong_gop_an_toan_sinh_hoc_cua_nganh_cong_nghiep_che_bien_phu.pdf