Kết quả trên hình 6 cho thấy lượng protein
tái tổ hợp có kích thước khoảng 52,83 kDa
biểu hiện khá nhiều ở nhiệt độ 37oC, 30oC và
23oC, đó chính là kích thước của rFLS theo
tính toán lý thuyết. Ở nhiệt độ càng cao (30 và
37oC), lượng protein thu được càng lớn và
càng nhiều ở pha tủa. FLS biểu hiện ở nhiệt
độ thấp hơn (23oC), lượng protein đích ở 2
pha là tương đương nhau. Trong một số
trường hợp, cảm ứng kéo dài (qua đêm) ở
nhiệt độ thấp (15–20oC) đã được chứng minh
là nhiệt độ tối ưu thu nhận protein pha tan
(Novagen). Cảm ứng biểu hiện khi giảm nhiệt
độ cũng được chứng minh khi nghiên cứu
biểu hiện gen mô hình GFP (Jiang et al.,
2013; Schein & Noteborn, 1988). Mặt khác,
nghiên cứu của Lin và đtg đã chỉ ra, E. coli
BL21 chứa pET28a(+)_FLS tạo rFLS ở pha
hòa tan nhiều hơn khi cảm ứng IPTG ở nhiệt
độ 20oC so với 30oC (Lin et al., 2007). Do đó,
chúng tôi lựa chọn nhiệt độ 16oC để cảm ứng
biểu hiện và thu rFLS sau 24 và 48 giờ cảm
ứng. Kết quả kiểm tra protein tổng số được
thể hiện ở hình 7.
Kết quả ở hình 7 cho thấy, khi hạ thấp
nhiệt độ và kéo dài thời gian biểu hiện, lượng
protein không bị giảm đi mà lượng protein ở
pha tan còn nhiều hơn pha tủa, đặc biệt khi
biểu hiện ở 48 giờ.
KẾT LUẬN
Gen FLS phân lập từ chè trung Du xanh
được gắn thành công vào vector biểu hiện
pET32a(+) và biến nạp vào vi khuẩn E. coli
chủng Rosetta1 và Rosetta2. Nuôi các chủng
vi khuẩn này ở 37oC và sử dụng IPTG 1mM
cảm ứng biểu hiện, rFLS thu được có kích
thước 52,83 kDa, tồn tại ở cả dạng không tan
và dạng tan. Trong đó, chủng E. coli Rosetta1
pET32a(+)_FLS tạo rFLS biểu hiện ở dạng tan
nhiều hơn chủng E. coli Rosetta2 pET32a(+)-
_
FLS. Tiếp theo, chủng E. coli Rosetta1
pET32a(+)_FLS được tối ưu biểu hiện ở các
nhiệt độ 30oC, 23oC và 16oC (24 và 48 giờ).
Sau cảm ứng 48 giờ và nuôi ở 16oC, chủng E.
coli Rosetta1 pET32a(+)_FLS tạo rFLS lượng
lớn ở pha tan.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Expression of gene encoding flavonol synthase isolating from Trung Du Xanh tea, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 21–29
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.13833
21
EXPRESSION OF GENE ENCODING FLAVONOL SYNTHASE ISOLATING
FROM TRUNG DU XANH TEA (Camellia sinensis var. macrophylla) IN E. coli
Hoang Thi Thu Yen
1,*
, Vu Thi Lan
1
, Huynh Thi Thu Hue
2
1
University of Sciences, Thai Nguyen University, Thai Nguyen, Vietnam
2
Institute of Genome Research, VAST, Vietnam
Received 20 May 2019, accepted 10 January 2020
ABSTRACT
Common flavonols in plants including quercetin, kaempferol and myricetin are synthesized from
dihydroflavonols (dihydroquercetin-DHQ, dihydrokaempferol-DHK and dihydromyricetin-
DHM) by flavonol synthase (FLS). In tea, FLS has been shown to metabolize dihydroquercetin
to quercetin. The FLS gene was cloned and sequenced from the cultivated tea (Camellia
sinensis var. macrophylla) in Thai Nguyen province. In this study, we presented the results of
optimizing and designing an expression vector for recombinant FLS (recombinant FLS-rFLS).
The FLS gene was ligated completely to the pET32a (+) vector, then expressed in E. coli
Rosetta1 and Rosetta2 strain. Using 1mM IPTG to induce the expression of rFLS at 37
o
C, rFLS
was obtained with 52.83 kDa in size and existed predominantly as insoluble form. E. coli
Rosetta1 pET32a (+)_FLS produces rFLS in the soluble fraction than E. coli Rosetta2 pET32a
(+)_FLS. Next, E. coli Rosetta1 pET32a (+)_FLS was optimized for expression at temperatures of
30
o
C, 23
o
C and 16
o
C (24 and 48 hours). After being induced for expression with 1mM IPTG in
48 hours and cultured at 16
o
C, E. coli Rosetta1 strain containing pET32a (+) FLS produced the
largest amount of rFLS in the soluble form.
Keywords: Camelia sinensis, dihydroquercetin metabolism, flavonol synthase, recombinant
FLS.
Citation: Hoang Thi Thu Yen, Vu Thi Lan, Huynh Thi Thu Hue, 2020. Expression of gene encoding flavonol
synthase isolating from trung du xanh tea (Camellia sinensis var. macrophylla) in E. coli. Tap chi Sinh hoc (Journal
of Biology), 42(1): 21–29. https://doi.org/10.15625/0866-7160/v42n1.13833.
*Corresponding author email: yenhtt@tnus.edu.vn
©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 21–29
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.13833
22
BIỂU HIỆN GEN MÃ HÓA FLAVONOL SYNTHASE PHÂN LẬP
TỪ CHÈ TRUNG DU XANH (Camellia sinensis var. macrophylla)
TRONG VI KHUẨN E. coli
Hoàng Thị Thu Yến1,*, Vũ Thị Lan1, Huỳnh Thị Thu Huệ2
1Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, Việt Nam
2Viện Nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày nhận bài 20-5-2019, ngày chấp nhận 10-1-2020
TÓM TẮT
Các flavonol phổ biến ở thực vật bao gồm quercetin, kaempferol và myricetin, được tổng hợp từ
các dihydroflavonols (dihydroquercetin-DHQ, dihydrokaempferol-DHK và dihydromyricetin -
DHM) bởi flavonol synthase (FLS). Ở chè, FLS được chứng minh có hoạt tính chuyển hóa
dihydroquercetin thành quercetin. Gen FLS đã được tạo dòng và xác định trình tự từ giống chè
trung du xanh được trồng ở Thái Nguyên. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày kết quả thiết
kế vector và tối ưu biểu hiện FLS tái tổ hợp (recombinant FLS-rFLS). Vector pET32a(+)_FLS đã
được tạo thành công mang cấu trúc biểu hiện FLS và được biểu hiện trong vi khuẩn E. coli
Rosetta1 và E.coli Rosetta2. Sử dụng IPTG 1mM cảm ứng biểu hiện rFLS ở 37oC, rFLS thu được
có kích thước 52,83 kDa, tồn tại chủ yếu ở dạng không tan. Trong đó, chủng E. coli Rosetta1
pET32a(+)_FLS tạo rFLS biểu hiện ở dạng tan nhiều hơn chủng E. coli Rosetta2 pET32a(+)_FLS.
Tiếp theo, chủng E. coli Rosetta1 pET32a(+)_FLS được tối ưu biểu hiện ở các nhiệt độ 30
o
C,
23
oC và 16oC (24 và 48 giờ). Cảm ứng IPTG (1mM) sau 48 giờ nuôi ở 16oC, chủng E. coli
Rosetta1 chứa pET32a(+)_FLS tạo rFLS lượng lớn ở pha tan.
Từ khóa: Chè, chuyển hóa dihydroquercetin, flavonol synthase, FLS tái tổ hợp.
*Địa chỉ liên hệ email: yenhtt@tnus.edu.vn
MỞ ĐẦU
Chất lượng sản phẩm chè được đánh giá
chủ yếu dựa trên thành phần hóa học có trong
chè. Theo Harbowy (1997), polyphenol là
thành phần hóa học chính trong chất rắn chiết
xuất từ chè, chiếm 30–40%. Hàm lượng
polyphenol quyết định đến màu sắc, độ chát
của nước chè và góp phần tạo hương vị của chè
(Harbowy & Balentine, 1997). Hầu hết các đặc
tính có lợi cho sức khỏe con người đã được
chứng minh là do các hợp chất polyphenol có
trong chè. Các hợp chất polyphenol ở thực vật
nói chung và chè nói riêng được tổng hợp
thông qua con đường phenylpropanoid và
flavonoid (Czemmel et al., 2009; Kim et al.,
2014). Các hợp chất tạo ra từ con đường
flavonoid (Flavonoid) là các chất chuyển hóa
thứ cấp, được tạo ra ở nhiều loại thực vật, có
vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và
sinh lý bình thường của thực vật (Pietta, 2000).
Cho đến nay, khoảng 10.000 flavonoid khác
nhau đã được mô tả, cấu trúc chung của chúng
bao gồm hai vòng thơm sáu carbon (vòng A và
B) và một dị vòng 3 carbon chứa một nguyên
tử oxy (vòng C). Cấu trúc này có thể được thay
đổi bằng cách sắp xếp lại, kiềm hóa, oxy hóa
và glycosyl hóa (Turnbull et al., 2004). Sửa đổi
vòng C tạo nên các nhóm phụ flavonoid khác
nhau: flavones, flavonols, flavan-3-ols
(catechins proanthocyanidins-PAs) và
anthocyanin (Cheng et al., 2014). Đáng chú ý
là thành phần flavonoid giữa các loài thực vật
có thể khác nhau đáng kể, Arabidopsis không
Expression of gene encoding flavonol synthase
23
chứa 5’-hydroxylated flavonoid và PAs như
được mô tả ở các loài thực vật khác (Abrahams
et al., 2002). Các flavonoid được chứng minh
là có nhiều lợi ích cho sức khỏe con người như
chống oxi hóa, kháng viêm, kháng lại tác nhân
gây bệnh và kháng chất gây ung thư (Berger,
2005; Vita, 2005). Con đường sinh tổng hợp
các hợp chất flavonoid được các nhà sinh học
và hóa học quan tâm do tầm quan trọng của
chúng. Do đó, hầu hết các gen mã hóa các
enzyme tham gia con đường phenylpropanoid
và flavonoid đã được phân lập và nghiên cứu
chức năng ở nhiều loài thực vật (Czemmel et
al., 2009; He et al., 2018; Kim et al., 2014;
Tohge et al., 2017; Winkel-Shirley, 2001)
(hình1).
Phenylalanine
Cinnamic acid
4-Coumaric acid
Chalcone
4-Coumaroyl coA
PAL
C4H
4CL
CHS
Naringenin Eriodictytol
5’ hydroxyl
flavanol FLAVONE
Dihydrokaempferol Dihydroquercetin Dihydromyricetin
CHI
F3’H F3’5’H FST
F3H F3H F3H
DFR
LAR
ANS
UFGT
ANTHOCYANIN
ANR
PAs
DFR
LAR
ANS
UFGT
ANTHOCYANIN
ANR
PAs
DFR
LAR
ANS
UFGT
ANTHOCYANIN
ANR
PAs
Kaempferol Quercetin Myricetin
FLS FLS FLS
C
o
n
đ
ư
ờ
n
g
p
h
e
n
y
lp
ro
p
a
n
o
id
F3’H F3’5’H
Con đường flavonoid
FLAVONOlS
Hình 1. Các con đường có thể sinh tổng hợp các hợp chất flavonol ở chè
(Czemmel et al., 2009; Wang et al., 2012)
Ghi chú: ANR (anthocyanidin reductase); ANS (anthocyanin synthase); 4CL (4-coumarate: CoA ligase);
C4H (cinnamate 4-hydroxylase); CHI (chalcone isomerase); CHS (chalcone synthase); DFR
(dihydroflavonol reductase); F3H (flavanone 3β-hydroxylase); F3′H (flavonoid 3′-hydroxylase); F3′5′H
(flavonoid 3′5′-hydroxylase); FLS (flavonol synthase); FST: flavonol 4-sulfotransferase; LAR
(leuacoanthocyanidin reductase); PAL (phenylalanine ammonialyase); proanthocyanidins – PAs; UFGT
(UDP-glucoseflavonoid 3-O-glucosyl transferase).
Ở nhiều loài thực vật, flavonol là thành
phần có nhiều nhất trong các hợp chất
flavonoid và đóng vai trò quan trọng
(Havsteen, 2002). Flanovol quy định màu sắc,
hương vị, chất lượng và dinh dưỡng của lá,
hoa và quả ở thực vật, chúng có khả năng
chống viêm, chống oxy hóa, chống đông máu
và do đó có lợi cho sức khỏe của con người
(Butelli et al., 2008; Havsteen, 2002). Thành
phần flavonol ở các loài thực vật có thể bao
gồm: quercetin, kaempferol và myricetin
(Czemmel et al., 2009; He et al., 2018; Kim et
al., 2014). Bằng phương pháp định lượng
HPLC, He et al. (2018) chỉ ra ở chè có cả 3
Hoang Thi Thu Yen et al.
24
loại flavonol và tồn tại dưới dạng glycosyl hóa
(O-Glycosylated favonols) (He et al., 2018).
Favonol là một trong hai thành phần chủ yếu
của flavonoid ở chè (Harbowy & Balentine,
1997) và được cho là có lợi cho một số bệnh
mãn tính ở người (McKay & Blumberg,
2002). Flavonols được tổng hợp từ các
dihydroflavonol (dihydroquercetin-DHQ,
dihydrokaempferol-DHK và
dihydromyricetin-DHM) bởi enzyme flavonol
synthase (FLS) (Cheng et al., 2014; Czemmel
et al., 2009; Kim et al., 2014). Ngoài ra ở cây
họ cải (Arabidopsis thaliana), FLS có thể
chuyển đổi naringenin thành
dihydrokaempferol. Hoạt tính của FLS được
nghiên cứu lần đầu tiên ở mùi tây, hoạt động
của FLS cần có sự tương tác với 2-
oxoglutarate và Fe (II) (Britsch et al., 1981).
Sau đó, FLS đã được nghiên cứu cấu trúc và
hoạt tính chức năng từ nhiều loại thực vật như
cây dã yên (Petunia hybrida), cây cam nhật
(Citrus unshiu), các cây trong họ cải
(Arabidopsis thaliana; Matthiola incana), hoa
cẩm chướng (Dianthus caryophyllus), nho
(Vitis vinifera), chè (Camellia sinensis), ngô
(Zea mays), bạch quả (Gingko biloba) (Cheng
et al., 2014).
Gen mã hóa cho FLS từ chè trồng ở Hàn
Quốc đã được tạo dòng và nghiên cứu biểu
hiện ở E. coli, FLS tái tổ hợp được chứng
minh có hoạt tính chuyển hóa
dihydroquercetin thành quercetin (Lin et al.,
2007). Chen et al. (2014) cho rằng FLS là một
enzyme đa chức năng (Cheng et al., 2014),
chức năng chuyển hóa các dihydroflavonol
khác (DHQ, DHK) và naringenin của FLS ở
chè chưa được nghiên cứu. Ở Việt Nam, gen
mã hóa FLS từ chè Thái Nguyên, giống Trung
du xanh và Trung du tím đã được tạo dòng và
phân tích trình tự (Hoang Thi Thu Yen và
nnk., 2017). Trong nghiên cứu này, chúng tôi
nghiên cứu biểu hiện gen FLS phân lập từ
giống chè trung du xanh trong vi khuẩn E. coli
Rosetta để góp phần nghiên cứu làm sáng tỏ
chức năng của FLS ở chè.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Vector tạo dòng pJET1.2_FLS mang gen
FLS phân lập từ giống chè trung du xanh và
vector biểu hiện pET32a(+) được lưu giữ tại
Phòng Đa dạng Sinh học hệ gen, Viện nghiên
cứu Hệ gen, Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam.
Tạo cấu trúc biểu hiện gen FLS
Vector pJET1.2_FLS được cắt bằng hai
enzyme giới hạn BamHI và XhoI để thu đoạn
gen FLS có kích thước 993 bp. Đồng thời,
phản ứng cắt bằng BamHI và XhoI cũng được
tiến hành với vector biểu hiện pET32a(+). Sau
đó, phản ứng lai gen FLS vào vector
pET32a(+) sử dụng T4 ligase được tiến hành
ở điều kiện 22oC trong 1 giờ. Sản phẩm sau đó
được biến nạp vào tế bào vi khuẩn E. coli
DH10b bằng phương pháp sốc nhiệt. Khuẩn
lạc được chọn lọc trên môi trường LB có bổ
sung kháng sinh ampicillin (50 µg/ml). Khuẩn
lạc chọn lọc được tiến hành nuôi và tách
plasmid, plasmid được kiển tra bằng cắt
enzyme giới hạn và PCR với cặp mồi đặc hiệu
cho gen FLS (F331: 5'-
GGATCCATGGAGGTAGAGAGAG-3'; F331:
5'-GGAGCTCTTGTGGAATCTTATTG-3'.
Vector biểu hiện gen FLS tạo ra được kí hiệu
là pET32a(+)_FLS. Cấu trúc vector
pET32a(+)_FLS được mô tả như hình 2.
Trx.tagRBS
Histag-Stag-
Thrombin-
Entorokinase
Gen FLS His tag
AUG - 108 aa 54 aa 331 aa 6 aa 5 aa - TAA
BamHI XhoI
stop
Hình 2. Mô hình cấu trúc biểu hiện gen FLS
Ghi chú: RBS: Trình tự nhận biết của ribosome; Trx.tag giúp tăng cường protein tái tổ hợp ở dạng tan
trong nước, Histag, Stag là trình tự giúp phát hiện và tinh chế protein tái tổ hợp, Thrombin và
Enterokinase là trình tự giúp cắt chuỗi amino acid của protein tái tổ hợp.
Expression of gene encoding flavonol synthase
25
Biểu hiện gen FLS
Cấu trúc biểu hiện gen mã hóa FLS
(pET32a(+)_FLS) được biến nạp vào 2 chủng
vi khuẩn là E. coli Rosetta1 và E. coli
Rosetta2 theo phương pháp sốc nhiệt
(Novagen). Dịch nuôi tế bào được cấy trải
trên đĩa LB có bổ sung kháng sinh ampicillin
(50 g/ml), nuôi qua đêm ở điều kiện 37oC.
Các chủng vi khuẩn được xác nhận chứa cấu
trúc biểu hiện bằng PCR khuẩn lạc với cặp
mồi đặc hiệu cho gen FLS (F331: 5'-
GGATCCATGGAGGTAGAGAGAG-3'; F331:
5'-GGAGCTCTTGTGGAATCTTATTG-3').
Tiếp theo, cảm ứng biểu hiện gen FLS trong
các chủng biểu hiện ở nồng độ IPTG 1mM
dưới điều kiện 37oC trong 5 giờ, các tế bào
được thu và xử lý trước khi kiểm tra protein
tổng số trên gel polyacrylamide 14%.
Tối ưu biểu hiện FLS tái tổ hợp
Chủng E. coli Rosetta1 chứa cấu trúc biểu
hiện pET32a(+)_FLS tạo FLS tái tổ hợp
(recombinant FLS - rFLS) được nuôi lắc trong
môi trường LB lỏng có bổ sung kháng sinh
ampicillin (50 g/ml) qua đêm. Tiếp theo,
dịch nuôi được làm mới trong 8ml LBA
(OD600 = 0,1). Sau 2 giờ nuôi lắc ở 37
oC, dịch
khuẩn đạt giá trị từ OD600 = 0,6 sẽ được cảm
ứng biểu hiện với IPTG 1mM và tiếp tục nuôi
ở các điều kiện như sau: 37oC (5 giờ), 30oC (6
giờ), 23oC (8 giờ) và 16oC (24 giờ và 48 giờ)
(Jiang et al., 2013). Thí nghiệm được thực
hiện cùng đối chứng E. coli Rosetta chứa
pET32a(+)_FLS không cảm ứng IPTG.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thiết kế vector biểu hiện mang gen FLS
Vector pJET1.2_FLS được cắt bằng hai
enzyme giới hạn BamHI và XhoI để thu đoạn
gen FLS có kích thước 993 bp. Đồng thời,
phản ứng cắt bằng BamHI và XhoI cũng được
tiến hành với vector pET32a(+). Tiếp theo,
chúng tôi thực hiện phản ứng lai gen FLS vào
vector pET32a(+), biến nạp vào tế bào vi
khuẩn E. coli DH10B và nuôi trên môi trường
LB chọn lọc. Chúng tôi lựa ngẫu nhiên một số
dòng vi khuẩn để phân tích chọn dòng vi
khuẩn mang vector biểu hiện pET32a(+)_FLS
bằng phản ứng cắt bằng enzyme giới hạn và
PCR. Sản phẩm của phản ứng cắt plasmid
bằng BamHI và XhoI được điện di kiểm tra
trên gel agarose 0,8% (hình 3A).
Kb M 1 2 3
1,0
6,0
3,0
5,9 kb
~1,0 kb
3,0
1,0
6,0
Kb M (+) (-) 1 2 3
~ 1,0 kb
A B
Hình 3. Kết quả điện di kiểm trả sản phẩm cắt kiểm tra plasmid pET32a(+)_FLS
bằng enzyme giới hạn và PCR khuếch đại gen
Hình 3A (M: maker 1kb, 1-3: sản phẩm cắt enzyme giới hạn từ 3 dòng plasmid pET32a(+)_FLS); hình
3B (M: maker 1 kb, (+): sản phẩm PCR từ đối chứng dương là plasmid pJET1.2_ FLS, (-): sản phẩm
PCR đối chứng âm là H2O; 1-3: sản phẩm PCR từ plasmid pET32a(+)_FLS.
Trên hình 3A cho thấy, plasmid tách chiết
được cắt kiểm tra bằng enzyme giới hạn
BamHI và XhoI, DNA plasmid bị cắt thành
hai đoạn: một đoạn lớn có kích thước tương
ứng với kích thước vector pET32a(+) (5,9 kb)
và một đoạn nhỏ hơn có kích thước khoảng
1,0 kb tương ứng với đoạn gen FLS. Như vậy,
chúng tôi đã tạo được vector pET32a(+) mang
gen FLS. Đồng thời, phản ứng PCR được thực
hiện với cặp mồi nhân gen FLS ở 3 dòng
Hoang Thi Thu Yen et al.
26
plasmid đã kiểm tra bằng enzyme giới hạn.
Sản phẩm PCR từ 3 dòng plasmid đều lên
băng đậm và rõ nét có kích thước khoảng 1,0
kb tương ứng với kích thước của đoạn gen
FLS (hình 3B). Như vậy, chúng tôi đã tạo
được dòng biến nạp vào E. coli DH10b mang
cấu trúc biểu hiện pET32a(+)_FLS.
Biểu hiện gen FLS trong vi khuẩn E. coli
Hình 4. Kết quả kiểm tra sự có mặt của
plasmid pET32a(+)_FLS trong các
chủng E. coli biểu hiện
M: maker 1 kb, (+): sản phẩm PCR từ đối chứng
dương là plasmid pET32a(+)_ FLS, (-): sản phẩm
PCR đối chứng âm là H2O; 1-2: sản phẩm PCR với
khuôn là khuẩn lạc E. coli Rosetta1 và 2.
FLS là một dioxygenase và thuộc siêu họ
2OG-Fe(II) oxygenase. Enzyme này thực hiện
chức năng chuyển hóa dihydroflavonols tạo
flavonols thông qua domain đặc trưng của
siêu họ 2OG-Fe(II) oxygenase. FLS chỉ có
hoạt tính chức năng đầy đủ khi có mặt của Fe
(II) và 2-oxoglutarate. Enzyme này thực hiện
chức năng chuyển hóa dihydroflavonol tạo
flavonol thông qua domain đặc trưng cho siêu
họ 2OG-Fe(II) oxygenase bao gồm 95 amino
acid (từ vị trí amino acid 199→291) (Britsch
et al., 1981; Lin et al., 2007). Một số nghiên
cứu đã chứng minh có 3 motif quyết định đến
chức năng của FLS (Lukacin & Britsch,
1997). Motif PxxxIRxxx-EQP ở đầu N (từ vị
trí amino acid 18→29) quyết định đến hoạt
tính của FLS, sự thay đổi trình tự nucleotide ở
motif có thể làm mất hoạt tính của FLS. Motif
CPQ/RPxLAL (205→212) là vị trí bám của 2-
oxoglutarate và vị trí amino acid liên kết với
Fe (217H, 219D và 273H). FLS suy diễn của
giống chè trung du xanh có motif
CPQ/RPxLAL và motif PxxxIRxxx-EQP bảo
thủ cao và có duy nhất một vị trí amino acid
thay đổi so với trình tự đã công bố (19V→A)
(Hoang Thi Thu Yen và nnk., 2017). Để tạo
cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ hoạt tính của
FLS ở chè, chúng tôi tiến hành tạo FLS tái tổ
hợp. Sau khi thiết kế thành công, vector tái tổ
hợp pET32a(+)_FLS được biến nạp vào 2
chủng tế bào biểu hiện là E. coli Rosetta1 và
E. coli Rosetta2. Tiếp theo, chúng tôi chọn
ngẫu nhiên một khuẩn lạc từ mỗi đĩa, tiến
hành tách plasmid và kiểm tra sự có mặt của
pET32a(+)_FLS trong các chủng E. coli biểu
hiện. Kết quả kiểm tra PCR gen FLS được thể
hiện ở hình 4.
Kết quả điện di hình 4 cho thấy, sản phẩm
PCR khuếch đại gen FLS từ khuẩn lạc E. coli
Rosetta1 và 2 đều lên băng đậm và rõ nét có
kích thước khoảng 1,0 kb tương ứng với kích
thước của đoạn gen FLS. Từ hai chủng E. coli
Rosetta1 và Rosetta2 mang cấu trúc biểu hiện
pET32a(+)_FLS, chúng tôi sử dụng IPTG để
cảm ứng biểu hiện gen FLS. Kết quả kiểm tra
protein tổng số được thể hiện ở hình 5.
52,83 kb
Hình 5. Kết quả điện di sản phẩm protein FLS
Ghi chú: M: thang protein chuẩn của Fermentas,
(-): đối chứng âm là chủng không được cảm ứng,
ts: protein tổng số, tan: protein thu được ở pha tan,
tủa: protein thu được ở pha tủa.
Theo tính toán lý thuyết, protein tái tổ hợp
thu được có kích thước khoảng 52,83 kDa bao
gồm FLS có kích thước khoảng 36,41 kDa
cùng với đoạn trình tự TrxA mã hoá cho
Expression of gene encoding flavonol synthase
27
protein thioredoxin (11,8 kDa), His-Taq (1,68
kDa), S-Taq (1,7 kDa), thrombin (0,63 kDa)
và enterkinase (0,61 kDa) (pET System
Manual, Novagen). Hình ảnh điện di (hình 5)
cho thấy, protein tổng số của các chủng E.
coli Rosetta1, E. coli Rosetta2 có xuất hiện
một băng protein đậm khác biệt so với đối
chứng. Băng protein này nằm ở khoảng kích
thước tương đương với kích thước trên lý
thuyết của protein tái tổ hợp. Trong đó, băng
protein ở chủng E. coli Rosetta1 to và đậm
hơn so với chủng E. coli Rosetta2 thể hiện
lượng protein nhiều hơn. Đồng thời chúng tôi
cũng đánh giá độ tan của protein tái tổ hợp,
chúng tôi nhận thấy rằng chủng biểu hiện E.
coli Rosetta1, protein FLS biểu hiện ở dạng
tan (pha tan) nhiều hơn ở dạng không tan (pha
tủa – thể vùi) nhưng sự chênh lệch không quá
lớn. Ở chủng biểu hiện E. coli Rosetta2,
protein FLS hầu hết biểu hiện ở dạng không
tan, chỉ một lượng nhỏ ở dạng tan. Sự khác
biệt về sự biểu hiện FLS pha tan và tủa ở 2 hai
chủng E. coli Rosetta1 và Rosetta2 có thể do
sự biểu hiện của gen FLS và yếu tố tạo FLS
pha tủa ở các chủng biểu hiện không giống
nhau. Kết của FLS tái tổ hợp thu được cũng
phù hợp với kết quả nghiên cứu biểu hiện gen
FLS đã công bố (Lin et al., 2007).
Tối ưu điều kiện nhiệt độ và thời gian để
thu rFLS ở pha tan
52,83 kDa
Hình 6. Tối ưu điều kiện nhiệt độ để thu
enzyme tái tổ hợp ở pha tan
Ghi chú: w/o IPTG: Đối chứng không cảm ứng
IPTG, TS: protein tổng số, S: protein pha tan, P:
protein pha tủa, M: thang chuẩn protein.
Theo Schein và đtg (1988) (Schein &
Noteborn, 1988), E. coli sinh trưởng và phát
triển tốt ở 37oC. Tuy nhiên, cảm ứng biểu hiện
ở 37°C, protein ngoại lai được tạo ra thường
tích lũy ở pha tủa. Trong khi cảm ứng ở 23–
30°C, 30–90% protein tái tổ hợp thu được ở
pha tan. Tăng trưởng và cảm ứng ở 25°C hoặc
30°C có thể là tối ưu nếu sử dụng trình tự
peptide tín hiệu của một số vector pET
(Novagen). Chủng E. coli Rosetta1
pET32a(+)_FLS tạo FLS biểu hiện ở dạng tan
nhiều hơn chủng E. coli Rosetta2 pET32a(+)-
FLS. Do đó, chúng tôi tiến hành tối ưu nhiệt
độ biểu hiện rFLS ở chủng E. coli Rosetta1
pET32a(+)_FLS (hình 6).
52,83 kDa
Hình 7. Tối ưu điều kiện thời gian để thu
enzyme tái tổ hợp ở pha tan
Ghi chú: w/o IPTG: Đối chứng không cảm ứng
IPTG, TS: protein tổng số, S: protein pha tan, P:
protein pha tủa, M: thang chuẩn protein.
Kết quả trên hình 6 cho thấy lượng protein
tái tổ hợp có kích thước khoảng 52,83 kDa
biểu hiện khá nhiều ở nhiệt độ 37oC, 30oC và
23
oC, đó chính là kích thước của rFLS theo
tính toán lý thuyết. Ở nhiệt độ càng cao (30 và
37
oC), lượng protein thu được càng lớn và
càng nhiều ở pha tủa. FLS biểu hiện ở nhiệt
độ thấp hơn (23oC), lượng protein đích ở 2
pha là tương đương nhau. Trong một số
trường hợp, cảm ứng kéo dài (qua đêm) ở
nhiệt độ thấp (15–20oC) đã được chứng minh
là nhiệt độ tối ưu thu nhận protein pha tan
(Novagen). Cảm ứng biểu hiện khi giảm nhiệt
độ cũng được chứng minh khi nghiên cứu
biểu hiện gen mô hình GFP (Jiang et al.,
2013; Schein & Noteborn, 1988). Mặt khác,
Hoang Thi Thu Yen et al.
28
nghiên cứu của Lin và đtg đã chỉ ra, E. coli
BL21 chứa pET28a(+)_FLS tạo rFLS ở pha
hòa tan nhiều hơn khi cảm ứng IPTG ở nhiệt
độ 20oC so với 30oC (Lin et al., 2007). Do đó,
chúng tôi lựa chọn nhiệt độ 16oC để cảm ứng
biểu hiện và thu rFLS sau 24 và 48 giờ cảm
ứng. Kết quả kiểm tra protein tổng số được
thể hiện ở hình 7.
Kết quả ở hình 7 cho thấy, khi hạ thấp
nhiệt độ và kéo dài thời gian biểu hiện, lượng
protein không bị giảm đi mà lượng protein ở
pha tan còn nhiều hơn pha tủa, đặc biệt khi
biểu hiện ở 48 giờ.
KẾT LUẬN
Gen FLS phân lập từ chè trung Du xanh
được gắn thành công vào vector biểu hiện
pET32a(+) và biến nạp vào vi khuẩn E. coli
chủng Rosetta1 và Rosetta2. Nuôi các chủng
vi khuẩn này ở 37oC và sử dụng IPTG 1mM
cảm ứng biểu hiện, rFLS thu được có kích
thước 52,83 kDa, tồn tại ở cả dạng không tan
và dạng tan. Trong đó, chủng E. coli Rosetta1
pET32a(+)_FLS tạo rFLS biểu hiện ở dạng tan
nhiều hơn chủng E. coli Rosetta2 pET32a(+)-
_FLS. Tiếp theo, chủng E. coli Rosetta1
pET32a(+)_FLS được tối ưu biểu hiện ở các
nhiệt độ 30oC, 23oC và 16oC (24 và 48 giờ).
Sau cảm ứng 48 giờ và nuôi ở 16oC, chủng E.
coli Rosetta1 pET32a(+)_FLS tạo rFLS lượng
lớn ở pha tan.
TÀI LIỆU THA KHẢO
Abrahams S., Tanner G. J., Larkin P. J. &
Ashton A. R., 2002. Identification and
biochemical characterization of mutants in
the proanthocyanidin pathway in
Arabidopsis. Plant Physiol., 130(2):
561−576.
Berger M. M., 2005. Can oxidative damage be
treated nutritionally? Clinical Nutrition,
24(2): 172−183.
Britsch L., Heller W. & Grisebach H., 1981.
Conversion of Flavanone to Flavone,
Dihydroflavonol and Flavonol with an
Enzyme System from Cell Cultures of
Parsley. Z. Naturforsch, 36(c): 742−750.
Butelli E., Titta L., Giorgio M., Mock H. P.,
Matros A., Peterek S., Schijlen E. G., Hall
R. D., Bovy A. G., Luo J. & Martin C.,
2008. Enrichment of tomato fruit with
health-promoting anthocyanins by
expression of select transcription factors.
Nat. Biotechnol., 26(11): 1301−1308.
Cheng A. X., Han X. J., Wu Y. F. & Lou H.
X., 2014. The function and catalysis of 2-
oxoglutarate-dependent oxygenases
involved in plant flavonoid biosynthesis.
Int J. Mol. Sci., 15(1): 1080−1095.
Czemmel S., Stracke R., Weisshaar B.,
Cordon N., Harris N. N., Walker A. R.,
Robinson S. P. & Bogs J., 2009. The
grapevine R2R3-MYB transcription factor
VvMYBF1 regulates flavonol synthesis in
developing grape berries. Plant Physiol.,
151(3): 1513−1530.
Harbowy M. E. & Balentine D. A., 1997. Tea
chemistry. Critical Reviews ill Plant
Sciences, 16(5): 415−480.
Havsteen B. H., 2002. The biochemistry and
medical significance of the flavonoids.
Pharmacol. Ther., 96(2-3): 67−202.
He X., Zhao X., Gao L., Shi X., Dai X., Liu
Y., Xia T. & Wang Y., 2018. Isolation
and Characterization of Key Genes that
Promote Flavonoid Accumulation in
Purple-leaf Tea (Camellia sinensis L.).
Sci. Rep., 8(1): 130.
Hoang Thi Thu Yen, Mai Thi Huyen Trang,
Pham Thi Hang & Huynh Thi Thu Hue,
2017. Cloning and sequence analysis off
gene encoding flavonol synthase from
trung du teas growing in Thai Nguyen.
Journal of Science VNU, 33(4): 127−136.
Jiang X., Zhang H., Yang J., Liu M., Feng H.,
Liu X., Cao Y., Feng D. & Xian M.,
2013. Induction of gene expression in
bacteria at optimal growth temperatures.
Appl. Microbiol Biotechnol., 97(12):
5423−5431.
Jiang X., Zhang H., Yang J., Liu M., Feng H.,
Liu X., Cao Y., Feng D. & Xian M.,
2013. Induction of gene expression in
bacteria at optimal growth temperatures.
Appl. Microbiol. Biotechnol., 97(12):
5423−5431.
Expression of gene encoding flavonol synthase
29
Kim Y. B., Kim K., Kim Y., Tuan P. A., Kim
H. H., Cho J. W. & Park S. U., 2014.
Cloning and characterization of a flavonol
synthase gene from Scutellaria
baicalensis. Scientific World Journal,
2014: 980740.
Lin G. Z., Lian Y. J., Ryu J. H., Sung M. K.,
Park J. S., Park H. J., Park B. K., Shin J.
S., Lee M. S. & Cheon C. I., 2007.
Expression and purification of His-tagged
flavonol synthase of Camellia sinensis
from Escherichia coli. Protein Expr.
Purif., 55(2): 287−292.
Lukacin R. & Britsch L., 1997. Identification
of strictly conserved histidine and arginine
residues as part of the active site in
Petunia hybrida flavanone 3beta-
hydroxylase. Eur. J. Biochem., 249(3):
748−757.
McKay D. L. & Blumberg J. B., 2002. The
role of tea in human health: an update. J
Am. Coll. Nutr., 21(1): 1−13.
Pietta P. G., 2000. Flavonoids as
Antioxidants. Joural of Natural Products,
63(7): 1035−1042.
Schein C. H. & Noteborn M. H. M., 1988.
Formation of Soluble Recombinant
Proteins in Escherichia Coli is Favored by
Lower Growth Temperature.
Bio/Technology, 6: 291–294.
Tohge T., de Souza L. P. & Fernie A. R.,
2017. Current understanding of the
pathways of flavonoid biosynthesis in
model and crop plants. J. Exp. Bot.,
68(15): 4013−4028.
Turnbull J. J., Nakajima J., Welford R. W.,
Yamazaki M., Saito K. & Schofield C. J.,
2004. Mechanistic studies on three 2-
oxoglutarate-dependent oxygenases of
flavonoid biosynthesis: anthocyanidin
synthase, flavonol synthase, and flavanone
3beta-hydroxylase. J. Biol. Chem., 279(2):
1206−1216.
Vita J. A., 2005. Polyphenols and
cardiovascular disease: effects on
endothelial and platelet function. The
American Journal of Clinical Nutrition,
81(1): 292−297.
Wang Y. S., Gao L. P., Shan Y., Liu Y. J.,
Tian Y. W. & Xia T., 2012. Influence of
shade on flavonoid biosynthesis in tea
(Camellia sinensis (L.) O. Kuntze).
Scientia Horticulturae, 141: 7–16.
Winkel-Shirley B., 2001. Flavonoid
biosynthesis. A colorful model for
genetics, biochemistry, cell biology, and
biotechnology. Plant Physiol., 126(2):
485−493.
.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
expression_of_gene_encoding_flavonol_synthase_isolating_from.pdf