Thực tiễn ở Việt Nam
Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới
dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu nên
việc tìm ra cách để chủ động ứng phó và thích
ứng phù hợp đang ngày càng cấp bách. Báo cáo
của tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (UNDP)
cho thấy, khả năng nước biển dâng sẽ khiến 22 triệu
người Việt Nam mất nhà cửa với thiệt hại lên tới 10%
GDP. Đến cuối thế kỷ này, nhiệt độ trung bình ở Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có thể tăng thêm 1,3-
2,80C, mưa có thể tăng 4-8%, nước biển dâng theo kịch
bản thấp là 66cm, cao là 99cm. Nước biển dâng cao 1m
có thể làm 39% diện tích ở ĐBSCL bị ngập, 35% dân số
bị ảnh hưởng. Theo dự báo, nước mặn sẽ xâm nhập vào
đất liền 40-50km, có độ mặn từ 4‰ trở lên, gây thiệt hại
cho cây lương thực, thực phẩm và nhiều giống cây khác.
ĐBSCL là vùng kinh tế đặc biệt quan trọng. Ở
đây có trên 3,8 triệu ha đất nông nghiệp, có điều
kiện địa lý và xã hội sản xuất nông nghiệp có lợi thế
tốt nhất ở Việt Nam. Mặc dù diện tích canh tác nông
nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 27% của cả nước
nhưng ĐBSCL chiếm tới 45% diện tích lúa, 71%
diện tích nuôi trồng thủy sản, 40% giá trị sản xuất
nông nghiệp, 54% sản lượng thủy sản của cả nước.
Do có lợi thế về quy mô sản xuất và tập quán sản
xuất hàng hóa, kinh doanh thị trường nên ĐBSCL là
vùng xuất khẩu chiếm tới 62% kim ngạch xuất khẩu
lúa gạo và 85% xuất khẩu cá da trơn của cả nước. Ngoài ra, trái cây, sản lượng rau, mía, vịt
của ĐBSCL cũng xếp hạng quan trọng
của cả nước
Đứng trước vấn đề đất bị nhiễm mặn
đang gia tăng diện tích hàng năm, gần đây
các viện, trường đã bắt tay vào nghiên cứu
các loại cây trồng chống chịu được mặn ở
các nồng độ mặn khác nhau. Việc thanh lọc
gốc ghép chịu mặn đối với cây trồng đang
là mối quan tâm của nhiều quốc gia có đất
bị nhiễm mặn. Kết quả điều tra cho thấy, ở
Việt Nam, nhóm cây chịu mặn yếu (từ 1,4-
2‰) như: ca cao, lúa, bắp, đậu, cà chua, ớt,
bầu, bí; nhóm cây chịu mặn trung bình (từ
2-3‰) như: cam, quýt, bưởi, chanh, chuối,
mía; nhóm cây chống chịu được mặn khá (từ
3-4‰): xoài, sapô, dừa Việc sử dụng gốc
ghép cây ăn quả hay “luyện tập” bằng cách
hàng ngày tưới mặn lên các gốc ghép để
thích nghi dần cũng được tiến hành và cho
kết quả khả quan để từ đó tham gia vào cuộc
chiến chống chịu biến đổi khí hậu./.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Gen chịu mặn và nông nghiệp nước muối, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 1/2016 [29]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
1. Gen chịu mặn
Những gen chịu mặn thường có kích thước nhỏ và
không biểu hiện ra nên cũng khó khăn trong việc tìm
kiếm, khai thác. Nhưng khi đã có được những gen đó
thì việc chuyển gen trực tiếp hay gián tiếp cho các cây
trồng khác thì không khó khăn gì. Chẳng hạn bộ gen
của cây Thellungiella parvula (họ cải), giống cây ưa
mặn tuyệt vời và còn có tính kháng cao với nhiệt độ
lạnh, hạn hán, trong đó có gen SALT OVERLY SEN-
SITIVE1 (SOS1) kích thước nhỏ, chỉ khoảng 10 Mb,
có vai trò kháng sự vận chuyển proton Na, một đại diện
thiết yếu trong thành phần của độ mặn. Thước đo định
lượng về khả năng chịu mặn (halotolerance) là tổng
chất rắn hòa tan trong nước tưới một cây có thể chịu
đựng được. Nước biển thường có chứa 40g mỗi lít (g/l)
của các muối hòa tan (chủ yếu là natri clorua). Đậu và
lúa có thể chịu đựng với 1-3g/l và được coi là glyco-
phytes (như hầu hết các loại cây trồng). Lúa mạch
Gen chịu mặn
n Nguyễn Dương Tuệ
Hiện tượng nước biển dâng cao do tác động của biến đổi khí hậu đang làmcho hàng triệu ha đất đai ven biển bị nhiễm mặn, “giết” hết các cây hoamàu, lương thực của con người và gia súc. Vì thế, cây trồng cần được tăng
cường khả năng chịu mặn bằng cách lựa chọn các gen chịu mặn từ các cây cỏ trong
tự nhiên hoang dã để chuyển vào. Đây là những gen được xem là quý và hiếm do các
cây chịu mặn chỉ có 1% của tất cả các loài thực vật[2].
(Hordeum vulgare) có thể chịu đựng được
khoảng 5g/l và có thể được coi là halophytes[3].
Ở một thái cực khác, cây Salicornia bigelovii
(họ rau dền) phát triển tốt ở nồng độ 70g/l của
các chất rắn hòa tan và là một cây chịu mặn
(halophyte) điển hình đầy hứa hẹn bởi đây là
nguồn gen rất quý và cần thiết với các vùng ven
biển, vùng bị nhiễm mặn cho cả thế giới khi cần
gia tăng 70% lượng sản xuất lương thực thực
phẩm để đáp ứng nhu cầu của các nước với ước
tính dân số tăng lên đến 9,1 tỷ người vào năm
2050[6].
Cây thích nghi với môi trường nước mặn có
thể là có khả năng chịu mặn hoặc tránh mặn. Ví
dụ, một loài cây ngắn ngày hoàn thành vòng đời
sinh trưởng của mình trong một thời gian (chẳng
hạn như một mùa mưa) khi đó muối bị pha loãng
và có nồng độ muối thấp, như vậy cây sẽ tránh
Và NôNG NGhiệp Nước MUối
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 1/2016 [30]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Spergularia (họ cẩm chướng-Caryophyllaceae),
Aster tripolium (họ cúc-Asteraceae), Puccinel-
lia (họ hoà thảo-Poaceae), Kosteletzkya vir-
ginica (họ bông-Malvaceae)
Bushnell chỉ ra rằng: có khoảng 10.000 loài
cây ưa mặn, trong đó 250 là cây trồng chủ lực
tiềm năng. Một số halophytes đang được phát
triển như cây Salicornia bigelovii là một giống
cây hàng năm ngập mặn ở bờ biển Ả Rập, Pak-
istan và Ấn Độ trên ven hồ muối Sri Lanka...
Không chỉ thế, hạt giống của nó lại có hàm
lượng dinh dưỡng cao như 30% protein, 35%
dầu để sản xuất dầu ăn. Năng suất của cây này
cũng vượt trội so với đậu tương và hạt có dầu
khác. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu
tại Đại học Amsterdam (Hà Lan) và Đại học
Sussex Brighton (Anh) thì người ta nghĩ rằng
cách tốt nhất phía trước là phải thuần hóa thực
vật hoang dã và lai tạo chúng để tạo ra năng suất
cao hơn.
Nhóm nghiên cứu Rana Munns tại CSIRO
của Úc (Commonwealth Scientific) và Tổ chức
Nghiên cứu công nghiệp tại Canberra đã thành
công trong việc lai tạo giống mới của lúa mì ống
(pasta) lúa mì chịu mặn bằng cách lai tạo với
một giống có lịch sử phát sinh từ thời Ba Tư cổ
đại với giống lúa mì Durum Modern không phải
là giống chịu mặn, nhưng đó là lúa mì có nguồn
gốc từ khắp nơi trên Địa Trung Hải, một khu
vực bị ảnh hưởng rất nhiều muối. Vì vậy, các
nhà nghiên cứu đã cho lai với giống lúa mì
hoang sơ để tạo ra giống chịu mặn, đó là lúa mì
hiện nay. Và khả năng loại trừ natri của nó được
gắn liền với hai gen Nax1 và Nax2[8].
Cây dâm bụt biển Kosteletzkya virginica (họ
dâm bụt), một cây lâu năm, một trong những
cây chịu mặn cao, mọc hoang dã trên vùng đầm
lầy ven biển hoặc hồ nước lợ nội địa, được dùng
như là một nguồn thức ăn trong chăn nuôi và
nhiên liệu[1]. Hàm lượng dầu trong hạt giống
cây này là 18%, tương tự như dầu đậu tương và
thành phần acid béo giống như hạt giống bông.
Nó có lợi thế là một cây lâu năm, tiết kiệm rất
nhiều lao động trong chăm sóc, gieo hạt nên tại
Land Institute, Kansas, ở Mỹ hiện nay phát triển
nó để thay thế các cây hàng năm.
Cây lâu năm khác như cây Distichlis spicata
(họ hòa thảo), là một trong những loại halo-
phyte sử dụng để đáp ứng với vùng đất bị ảnh
hưởng mặn và nó còn là cây phù hợp nhất với
được muối chứ không phải chịu đựng nó. Hoặc một loài
cây trồng có thể duy trì một nồng độ muối bình thường
bằng cách bài tiết muối thừa qua lá (qua hydathode),
hoặc bằng cách tập trung muối trong lá mà sau này chết
và thải ra. Một nỗ lực để cải thiện sản xuất nông nghiệp
ở các vùng mà cây được tiếp xúc với độ mặn là nghiên
cứu tập trung vào việc nâng cao hiểu biết về các cơ chế
khác nhau, giúp thực vật phản ứng với stress mặn, do
đó các cây chịu mặn (halophytes) có thể được phát triển
mạnh mẽ hơn. Phản ứng thích nghi với stress mặn đã
được xác định ở mức phân tử, tế bào, trao đổi chất và
mức độ sinh lý[4]. Một số halophytes đang được nghiên
cứu để sử dụng khai thác nguồn gen như cây Salicornia
bigelovii có thể được trồng trong môi trường khắc
nghiệt và thường không cạnh tranh với cây lương thực,
là nguồn tài nguyên dùng để sản xuất dầu diesel sinh
học hay bioalcohol đầy hứa hẹn[5].
2. Tìm kiếm gen chịu mặn từ cây hoang dã
Hiện nay, người ta đang tập trung vào việc sử dụng
cây chịu mặn như một nguồn gen để cải thiện di truyền
về tính chống chịu stress phi sinh học của cây trồng như
chịu ngập úng, chịu hạn, chịu mặn, chịu sâu bệnh[7].
Tạo cho các cây trồng có khả năng chịu mặn để đối phó
với các vùng ngập mặn, nhiễm mặn do ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu lúc này lại trở nên cấp thiết. Ở thực
vật, chỉ có một thiểu số (~1%) các loài thực vật được
phân loại là halophytes. Halophytes được phân bố rộng
rãi cả về phát sinh loài và địa lý. Tuy nhiên, mặc dù một
số cơ chế sinh lý chung về khả năng chịu mặn được
hiểu (ví dụ sử dụng các chất hòa tan tương thích, điều
chỉnh thẩm thấu, vận chuyển, loại trừ và hấp thụ),
nhưng sự đa dạng của những phản ứng này và các pro-
tein cơ bản vẫn chưa được biết. Một số đánh giá gần
đây về halophytes phát hiện gen thông qua gen thông
lượng cao là một trong những nhu cầu cấp bách nhất
trong lĩnh vực này[2].
Khi nói đến thực vật thường thì người ta chỉ quan
tâm đến những cây dùng được như cây gỗ, lương thực,
thực phẩm, thuốc mà xem thường những cây cỏ
hoang dã nhưng chính những cây này lại có thể cung
cấp cho con người những gen quý giá. Chẳng hạn
những cây hoang dã sau đây lại có gen chịu mặn mà ít
người ngờ tới, như: cây Cochlearea officinalis (họ cải
- Brassicaceae), Plantago maritima (họ mã đề-Plantag-
inaceae), Beta vulgaris ssp, Halimione portulacoides,
Salicornia bigelovii hoặc S.europaea (họ dền-Amaran-
thaceae), Atriplexnum mularia hoặc A. lentiformis (họ
rau muối-Chenopodiaceae), Triglochin maritima (họ
thủy mạch đông-Juncaginaceae), Armeria maritima,
Limonium vulgare (họ đuôi công-Plumbaginaceae),
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 1/2016 [31]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
năng chống chịu mặn, rét và hạn để đối phó với biến
đổi khí hậu trên diện rộng[1].
Người ta cũng đã có những nỗ lực đáng kể để xác
định gen và hệ gen có liên quan đến khả năng chịu
mặn, nhờ đó mà cây trồng có thể được tăng cường khả
năng chịu mặn bằng cách lựa chọn thông thường và
nuôi cấy. Một cách khác được tiến hành là sự chuyển
gen vào cây trồng để tăng cường khả năng chịu mặn,
hoặc biểu hiện ảnh hưởng của gen chịu mặn. Các thí
nghiệm biến đổi gen cũng đã được tiến hành trong
hơn 30 năm để cố gắng làm cho cây trồng quan trọng
như lúa mì thành lúa chịu mặn. Trên cơ sở đọc các
đoạn gen nhân bản (Read contig) để xác định các gen
chịu mặn trong halophytes không những tạo điều kiện
cho sự cải thiện của những loại cây trồng mà còn cung
cấp một ngân hàng gen để cải thiện khả năng chịu
mặn của các cây trồng thông thường.
Khi nghiên cứu về sự giải mã của gen, người ta
cũng đã xác định được những phân tử protein nhỏ là
sản phẩm của gen có chức năng điều chỉnh phản ứng
stress muối trong cây Arabidopsis (họ cải), một cây
hoang dã khá phổ biến. Một bản đồ gen phiên mã
được sử dụng để xác định một tập hợp các gen liên
quan đến khả năng chịu mặn trong cây lúa indica nhạy
nhiệt độ cao và các chế độ bức xạ cao trong
những tháng mùa hè của miền Nam Australia.
Thống kê cho thấy, ở Australia, năm 2000 có
khoảng 5,7 triệu ha đất nhiễm mặn và dự kiến sẽ
có tới 17 triệu ha nhiễm mặn vào năm 2050.
Một cuộc thử nghiệm với cây Nypa Distichlia
(họ hoà thảo) được thực hiện vào năm 2002 xác
nhận rằng, cây phát triển tốt trong nước biển, với
sản lượng lá xanh lên đến 25 tấn/ha dùng cho
chăn nuôi. Các nhà nghiên cứu của Dahai Gao,
Qian Wang, Yuxia Wu, Haiyan Xu, Qiushi Yu,
Jianquan Liu (2007) cũng đã tìm thấy gen chịu
mặn ở cây cải xoong Thellungiella salsuginea (họ
cải-Brassiaceae). Theo họ đây là một điển hình
của cây chịu mặn (halophyte) và nó còn có thể
chịu đựng được cả điều kiện rất lạnh, hạn hán.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy Thellungiella có
một sức đề kháng đặc biệt cao đối với stress lạnh,
hạn hán, và oxy hóa nên nó đã trở thành một mô
hình khá lý tưởng cho nghiên cứu chống chịu
stress phi sinh học. Bộ gen của Thellungiella cũng
đã được giải trình tự, kích thước bộ gen tương đối
nhỏ và đây là nguồn gen quý để có thể chuyển
vào các cây lương thực, thực phẩm nhằm tăng khả
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 1/2016 [32]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Nuôi trồng halophytes sẽ không cạnh tranh
cho đất nên được trồng cây làm thực phẩm. Nó
sẽ cung cấp nhiều thực phẩm, thức ăn chăn nuôi.
Thêm vào đó, halophytes còn có ý nghĩa bảo vệ
xói mòn bờ biển và các khu vực thức ăn cho
chim, cá và động vật. Một số halophytes thậm
chí có thể đòi lại đất cho các thực vật nước ngọt.
Nó có thể bị ngấm muối đất thông qua sự tăng
cường khả năng thấm và ở một mức độ nào đó,
thông qua lưu trữ muối trong lá được thu hoạch,
nhờ đó loại bỏ muối khỏi môi trường đất. Bằng
cách lựa chọn và phát triển halophytes cả vi mô
và vĩ mô, chúng ta có thể nhận được các protein,
dầu, nhiên liệu sinh học để cung cấp cho nhu cầu
lương thực, thực phẩm và nhiên liệu [9].
Ước tính sẽ có tới 10% diện tích bề mặt đất
của trái đất bị nhiễm mặn và nhiều khu vực sản
xuất lương thực có thể chịu bị nhiễm mặn cao
do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Trong khi
đó, dân số lại không ngừng tăng lên nên nguồn
cung cấp lương thực, thực phẩm thế giới đang
trở nên hạn chế. Vì thế các loài thực vật chịu
mặn là nguồn vật liệu di truyền để phát triển cây
trồng ưa mặn. Bằng cách tận dụng sự biến đổi
somaclonal xảy ra trong quá trình nuôi cấy mô,
các nhà nghiên cứu đã có thể lựa chọn cây có
đặc tính mong muốn cho nông nghiệp, đồng thời
cũng đã nghiên cứu các cơ chế chịu mặn để đạt
được một sự hiểu biết chính xác làm thế nào các
cây trồng đối phó được với stress muối. Ví dụ,
người ta đã nghiên cứu thành phần màng tế bào
của cỏ cây ưa mặn ở ba cấp độ của tổ chức (tế
bào, bắn và toàn bộ cây) để đáp ứng với nồng
độ muối khác nhau và thấy rằng sterol và phos-
pholipid giảm khi tăng độ mặn trong khi glycol-
ipids tăng và giảm tính lưu động trong màng
plasma có thể làm giảm tính thấm NaCl. Hay tại
Thái Lan, cây Sporobolus virginicus chịu mặn
cao sống ở vùng cát ven biển được Somsri
Arunin và Arunee Yuvaniyama và Cục Phát triển
Đất đai, Bangkok đem thực nghiệm tại Phòng
thí nghiệm HBC và trồng tại Đông Bắc nước này
từ đó được lựa chọn trồng tại các địa điểm khác
để sử dụng cho thức ăn gia súc và cỏ khô[9].
4. Thực tiễn ở Việt Nam
Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới
dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu nên
việc tìm ra cách để chủ động ứng phó và thích
ứng phù hợp đang ngày càng cấp bách. Báo cáo
của tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (UNDP)
cảm. Hơn một ngàn gen chịu mặn đã được xác định
trên bản đồ gen và các thành viên được lựa chọn của
các gen được coi là ứng cử viên cho gen cải biến cây
trồng [8], [9]. Đã có một số nỗ lực để tạo ra cây chịu
mặn với sự hiện diện và biểu hiện của một số gen lớn
liên quan đến khả năng chịu mặn bằng công nghệ
chuyển gen và nuôi cấy mô tế bào. Chẳng hạn với cây
cà chua chuyển gen chịu mặn được tạo ra bởi sự thể
hiện một gen lấy từ cây Arabidopsis, mã hóa protein
Na+ / H+ antiporter ở các không bào, nhờ đó cà chua
biến đổi gen tích lũy muối trong lá nhưng không có
trong quả nhờ các protein này ở cây chuyển gen vận
chuyển ion natri từ tế bào chất vào không bào và bị
ràng buộc lại trong tế bào thực vật, do đó cách ly
chúng khỏi tế bào chất của tế bào[8].
3. Gen chịu mặn và “nông nghiệp nước muối”
Để đối phó với tình trạng thiếu nước ngọt và xâm
nhập mặn ngày càng tăng của đất nông nghiệp do tác
động của biến đổi khí hậu, người ta quan tâm đến
“nông nghiệp nước muối” - trồng loại cây trồng có
khả năng chịu mặn, và chúng có thể phát triển trong
nước nhiễm mặn, nước lợ, đặc biệt khi mà nước ngọt
khan hiếm và xâm nhập mặn diễn ra trên diện rộng.
Ước tính hiện nay chỉ có khoảng 1% lượng nước trên
trái đất là nước ngọt trong khi 1% là nước lợ và 98%
là nước biển. Với nguồn tài nguyên nước ngọt hạn
chế, nông nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với nhà
công nghiệp sử dụng nước ngọt mà còn đang bị đe
dọa bởi sự lây lan của hiện tượng nhiễm mặn đất[9].
Không thể tưới cây lương thực và cây thức ăn chăn
nuôi bằng nước mặn. Nhưng có một thực tế là, sự bốc
hơi và thoát hơi nước dẫn đến sự tích tụ muối trong
vùng rễ. Sự nóng lên toàn cầu cũng tăng tốc xâm nhập
mặn như nước biển dâng và lũ lụt vùng ven biển. Đất
mặn là không thể đảo ngược trong vùng khô hạn vì
không có nước để đưa muối tích tụ ra khỏi đất. Khi
tăng độ mặn, năng suất cây trồng giảm, bởi vì hầu hết
các loại cây trồng hiện có không chịu được mặn, nên
phải quan tâm tới gen chịu mặn và “nông nghiệp nước
muối”[9], [8]. Những người tích cực ủng hộ ngành
nông nghiệp nước muối là các nhà khoa học NASA:
Robert Hendricks (Trung tâm nghiên cứu Glenn,
Cleveland, Ohio) và Dennis Bushnell (Trung tâm
nghiên cứu Langley, Hampton, Virginia). Họ mong
muốn halophytes (cây chịu mặn) cần phải được sử
dụng cho thực phẩm, thức ăn và nhiên liệu[3]. Họ cho
rằng, halophytes có thể được trồng ở những vùng ven
biển, đầm lầy, ao hồ nội địa, vùng sa mạc với các tầng
chứa nước lợ ngầm và trực tiếp trong các đại dương
hoặc biển.
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 1/2016 [33]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Ngoài ra, trái cây, sản lượng rau, mía, vịt
của ĐBSCL cũng xếp hạng quan trọng
của cả nước
Đứng trước vấn đề đất bị nhiễm mặn
đang gia tăng diện tích hàng năm, gần đây
các viện, trường đã bắt tay vào nghiên cứu
các loại cây trồng chống chịu được mặn ở
các nồng độ mặn khác nhau. Việc thanh lọc
gốc ghép chịu mặn đối với cây trồng đang
là mối quan tâm của nhiều quốc gia có đất
bị nhiễm mặn. Kết quả điều tra cho thấy, ở
Việt Nam, nhóm cây chịu mặn yếu (từ 1,4-
2‰) như: ca cao, lúa, bắp, đậu, cà chua, ớt,
bầu, bí; nhóm cây chịu mặn trung bình (từ
2-3‰) như: cam, quýt, bưởi, chanh, chuối,
mía; nhóm cây chống chịu được mặn khá (từ
3-4‰): xoài, sapô, dừa Việc sử dụng gốc
ghép cây ăn quả hay “luyện tập” bằng cách
hàng ngày tưới mặn lên các gốc ghép để
thích nghi dần cũng được tiến hành và cho
kết quả khả quan để từ đó tham gia vào cuộc
chiến chống chịu biến đổi khí hậu./.
cho thấy, khả năng nước biển dâng sẽ khiến 22 triệu
người Việt Nam mất nhà cửa với thiệt hại lên tới 10%
GDP. Đến cuối thế kỷ này, nhiệt độ trung bình ở Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có thể tăng thêm 1,3-
2,80C, mưa có thể tăng 4-8%, nước biển dâng theo kịch
bản thấp là 66cm, cao là 99cm. Nước biển dâng cao 1m
có thể làm 39% diện tích ở ĐBSCL bị ngập, 35% dân số
bị ảnh hưởng. Theo dự báo, nước mặn sẽ xâm nhập vào
đất liền 40-50km, có độ mặn từ 4‰ trở lên, gây thiệt hại
cho cây lương thực, thực phẩm và nhiều giống cây khác.
ĐBSCL là vùng kinh tế đặc biệt quan trọng. Ở
đây có trên 3,8 triệu ha đất nông nghiệp, có điều
kiện địa lý và xã hội sản xuất nông nghiệp có lợi thế
tốt nhất ở Việt Nam. Mặc dù diện tích canh tác nông
nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 27% của cả nước
nhưng ĐBSCL chiếm tới 45% diện tích lúa, 71%
diện tích nuôi trồng thủy sản, 40% giá trị sản xuất
nông nghiệp, 54% sản lượng thủy sản của cả nước.
Do có lợi thế về quy mô sản xuất và tập quán sản
xuất hàng hóa, kinh doanh thị trường nên ĐBSCL là
vùng xuất khẩu chiếm tới 62% kim ngạch xuất khẩu
lúa gạo và 85% xuất khẩu cá da trơn của cả nước.
Tài liệu tham khảo
1. Dahai Gao, Qian Wang, Yuxia Wu, Haiyan Xu, Qiushi Yu, Jianquan Liu (2007), Microsatellite DNA loci from the
typical halophyte Thellungiella salsuginea.
2. Flowers và Colmer, New Phytologist, 2008.
3. Glenn, EP; et al. (1999), Salt tolerant and potential halophytes ultivated crops.
4. Gupta, Bhaskar; Huang, Bingru (2014), Mechanism of salinity tolerance in plants: physiological, biochemical, and
molecular characterization.
5. Glenn, Edward P .; Brown, J. Jed; O'Leary, James W. (1998), Crop irrigatin with sea water (PDF).American Scientific.
6. John Challen (20 January 2015), New Abu Dhabi facility to test producing food and biofuel sustainably.
7. S. Rajalakshmi, Ajay Parida (2007), Halophytes as a source abiotic stress resistance genes.
8. Dr. Mae-Wan Ho and Prof. Joe Cummins (2009), Saline Agriculture to Feed and Fuel the World the typical halophyte
Thellungiella salsuginea.
9. Mark Anderson (2014), We are running out of land for traditional agriculture. Time to figure out what saltwater
plants can do for us.
Sản xuất lúa ở Đồng bằng
sông Cửu Long
Các file đính kèm theo tài liệu này:
gen_chiu_man_va_nong_nghiep_nuoc_muoi.pdf