Genetic characteristics in four farmed tilapia (Oreochromis niloticus) populations evaluated by microsatellite markers
• Quan hệ di truyền và hệ số sai khác di truyền (Fsr) Sự khác biệt về di truyền các quần thể thường dược đánh giá dựa trên khoảng cách di truyền giữa chúng (Nei, 1987; Laval & Claude, 2002) và hệ số sai khác di truyền FST của Wright (19G9). Theo Nei (1972) nếu giá trị Fs'r < 0,05 dược cho là sai khác di truyền nhỏ; 0,05 < FS'J- < 0,15 dược cho là sai khác di truyền trung bình và FST > 0,15 dược cho là sai khác di truyền rõ rệt. Bảng 3 cho thấy giá trị FST dao dộng từ 0,012 dến 0,025; không có sự sai khác di truyền lớn giữa các quần đàn nghiên cứu. Quần đàn Hung Quốc và Philippin có quan hệ di truyền gần gũi hơn so với các quần đàn còn lại. Kết quả báo cáo của Bui & ctv. (2011) sử dụng 6 microsatel¬lite (OM02; OM05; UNH216; UNH231; ƯNH159; ƯNH172) cũng cho thấy giá trị Fí?r không có sự khác biệt di truyền có ý nghĩa giữa bốn dòng cá rô phi trong nghiên cứu. Theo Freitas & Galetti (2005) và Refstie & Gjedrem (2005) nhân giống dựa vào kiểu hình và giao phối cận huyết dã góp phần thúc dẩy đáng kể tạo nên sự tương đồng di truyền giữa các quần thể. AMOVA là một phương pháp dể phát hiện mức độ khác biệt di truyền giữa các quần thể khác nhau sử dụng các chỉ thị phân tử (Excoffier & ctv., 1992). Kết quả phân tích AMOVA (Bảng 4) cho thấy, da dạng di truyền mức độ phân tử cao giữa các cá thể trong cùng một quàn đàn (36,69%) và giữa các cá thể với nhau (61,00%). Mức độ da dạng giữa 4 quần thể cá rô phi vằn tương dối thấp (2,31%). Diều này cho thấy không có cấu trúc quàn thể rỏ ràng ở4 quần đàn nghiên cứu và hầu như không có sự biến dổi di truyền trên các locus dược khảo sát. Kết quả cùa nghiên cứu này tương đồng với kết quả của Eguia & ctv. (2001) và Boris & ctv. (2011) trên quần thể cá rô phi vằn và cá rô phi đỏ chọn giống có khác biệt di truyền thấp.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
genetic_characteristics_in_four_farmed_tilapia_oreochromis_n.pdf


