Kết quả phân tích chỉ số Fis của hai quần
thể sâm Ngọc Linh ở Quảng Nam và Kon
Tum ở nghiên cứu này đều cho giá trị hệ số
thụ phấn cận noãn (Fis) nhỏ hơn 0 (cụ thể, giá
trị Fis của 2 quần thể Quảng Nam và Kon
Tum tương ứng -0,12 và -0,09). Kết quả này
phản ánh hệ số gen đồng hợp tử ở các quần
thể này đều thấp hơn so với tỷ lệ alen dị hợp
tử quan sát được, nghĩa là chưa xuất hiện hiện
tượng thoái hóa di truyền hay nói cách khác
chưa xảy ra sự thụ phấn cận noãn trong quần
thể hay nói cách khác việc thụ phấn cận noãn
giữa một số cá thể trong quần thể chưa làm
ảnh hưởng đến tần số alen dị hợp tử tổng số
của quần thể. Quần thể sâm Ngọc Linh ở
Quảng Nam có hệ số cận noãn (Fis) nhỏ hơn
hệ số cận noãn (Fis) ở quần thể sâm Ngọc
Linh ở Kon Tum (-0,12 < -0,09), điều đó cho
thấy tỷ lệ thụ phấn cận noãn ở các cá thể trong
quần thể Quảng Nam thấp hơn so với Kon
Tum, kết quả phân tích alen dị hợp và tần số
đa dạng alen ở quần thể Quảng Nam cũng cao
hơn so với quần thể Kon Tum.
Nhìn chung, các kết quả thu được trong
nghiên cứu này đều cho thấy các giá trị Ho,
He của hai quần thể sâm Ngọc Linh ở Quảng
Nam và Kon Tum đều cao hơn so với các kết
quả nghiên cứu về đa dạng di truyền quần thể
của loài Panax quinquefollius và Panax
ginseng [Kim, 2007, Galina, 2010, Elena
2018]. Điều đó chứng tỏ loài sâm Ngọc Linh
của Việt Nam đang có được một nguồn gen
phong phú với tỷ lệ locus đa hình cao.
Kết quả bước đầu này cho thấy, tỷ lệ dị
hợp trong 2 quần thể sâm ở Quảng Nam và
Kon Tum đủ đảm bảo cho quần thể sâm Ngọc
Linh phát triển. Tuy nhiên trong nghiên cứu
này, hai quần thể sâm mà chúng tôi thực hiện
thu mẫu là hai quần thể sâm thuộc sự quản lý
của chính quyền xã Trà Linh, huyện Nam Trà
My và công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh tại xã
Măng ri, huyện Tu Mơ Rông, ở đây hầu hết
đều là những cây được di thực từ tự nhiên,
tập trung trồng trong trạm nên hầu như vẫn
giữ được tính đa dạng cao. Trên thực tế, sau
thời gian dài trồng tập trung mà không bổ
sung được cây mới (nguồn gen mới), khả
năng mất đi tính đa dạng của quần thể này là
chắc chắn xảy ra.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Genetic characteristics of panax Vietnamensis ha & grushv populations based on SSR, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 11–19
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.13906
11
GENETIC CHARACTERISTICS OF Panax vietnamensis Ha & Grushv.
POPULATIONS BASED ON SSR
Nguyen Thi Hong Mai
1
, Le Thanh Son
2
, Nguyen Thi Phuong Trang
1,*
1
Institute of Ecology and Biological Resources, VAST, Vietnam
2
National Institute of Medicinal Materials
Received 29 June 2019, accepted 10 February 2020
ABSTRACT
The results of genetic analysis of two Panax vietnamensis populations, collected in Tac-ngo
ginseng garden, Tra Linh commune, Quang Nam Province and Mang ri ginseng garden, Kon
Tum Province, showed that the population of ngoc linh ginseng in Quang Nam has higher alen
frequency compared to the Ngoc Linh ginseng population in Kon Tum (AR = 2.27 > AR = 2.05).
The population of ngoc linh ginseng in Quang Nam has the expected heterozygous frequency
(He) higher than the expected heterozygous frequency of the ginseng population in Kon Tum
(0.42 > 0.4). The observed heterozygous frequency (Ho) of the ngoc linh population in Quang
Nam was also higher than the observed heterozygous frequency compared to the ngoc linh
ginseng population in Kon Tum (0.49 > 0.43). These results demonstrated that both populations
of ngoc linh ginseng in Quang Nam and Kon Tum are maintaining high heterozygous
frequencies; self-pollination has not affected to the genetic structure of these both populations
yet. However, the population of ngoc linh ginseng in Quang Nam showed a higher level of
diversity and heterozygous frequency than the ngoc linh ginseng population in Kon Tum.
Keywords: Panax vietnamensis, conservation, ginseng, microsatellite.
Citation: Nguyen Thi Hong Mai, Le Thanh Son, Nguyen Thi Phuong Trang, 2020. Genetic characteristics of Panax
vietnamensis Ha & Grushv. populations based on SSR. Tap chi Sinh hoc (Journal of Biology), 42(1): 11–19.
https://doi.org/10.15625/0866-7160/v42n1.13906.
*Corresponding author email: nptrang@gmail.com
©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 11–19
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.13906
12
ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN QUẦN THỂ SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha
& Grushv.) BẰNG PHƯƠNG PHÁP SSR
Nguyễn Thị Hồng Mai1, Lê Thanh Sơn2, Nguyễn Thị Phương Trang1,*
1
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2
Viện Dược liệu Trung ương
Ngày nhận bài 29-6-2019, ngày chấp nhận 10-2-2020
TÓM TẮT
Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha & Grushv.) là loài đặc hữu của miền trung Việt Nam, đã
được xác định là một trong bốn cây sâm quý nhất trên thế giới. Do khai thác quá mức và mất nơi
sống, loài này đang bị đe dọa. Để làm cơ sở khoa học trong bảo tồn và phát triển loài sâm quý
hiếm này của Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành phân tích di truyền từ 60 mẫu của hai quần thể
sâm Ngọc Linh tại vườn sâm Tăc-ngo, xã Trà Linh, tỉnh Quảng Nam và vườn sâm Măng ri, tỉnh
Kon Tum bằng phương pháp SSR. Kết quả thu được cho thấy quần thể sâm ở Quảng Nam có tần
số alen cao hơn so với quần thể sâm ở Kon Tum (A = 2,27 > A= 2,05). Quần thể sâm ở Quảng
Nam có tần số dị hợp tử mong đợi (He) cao hơn tần số dị hợp tử mong đợi của quần thể sâm ở
Kon Tum (0,42 > 0,4). Tần số alen di hợp tử quan sát được (Ho) của quần thể Quảng Nam cũng
cao hơn tần số dị hợp tử quan sát so với quần thể Kon Tum (0,49 > 0,43). Kết quả cho thấy cả 2
quần thể sâm ở Quảng Nam và Kon Tum đều đang duy trì được tần số dị hợp tử tương đối cao,
hiện tượng thụ phấn cận noãn chưa ảnh hưởng đến cấu trúc di truyền quần thể của cả 2 quần thể
này, tuy nhiên quần thể Quảng Nam thể hiện mức độ đa dạng và tần số dị hợp tử cao hơn so với
quần thể Kon Tum.
Từ khóa: Đặc điểm di truyền, bảo tồn loài, sâm Ngọc Linh.
*Địa chỉ liên hệ email: nptrang@gmail.com
MỞ ĐẦU
Chi sâm, Panax là một chi nhỏ thuộc họ
Ngũ gia bì Araliaceae. Trên thế giới, chi
Panax có 16−18 loài, phân bố từ bắc bán câù
kéo dài từ vùng rừng núi giáp bờ biển phía
Đông của Bắc Mỹ, trung tâm phân bố của
Panax có thể từ vùng Tây Nam của Trung
Quốc đến phía Bắc của Việt Nam. Giới hạn
cuối cùng (14°15’ vĩ độ Bắc) về phía Nam của
chi Panax là loài Panax vietnamensis ở miền
Trung của Việt Nam. Chính vì vậy, sâm Ngọc
Linh được coi là loài đặc hữu hẹp của miền
Trung Việt Nam (Ha, 1985; Le Thanh Son,
2006). Sâm Ngọc Linh cũng đã được xác định
có giá trị nguồn gen, là một cây thuốc quý về
giá trị sử dụng do có chứa nhiều thành phần
saponin, hàm lượng acid amin, các chất
khoáng vi lượng hơn hẳn những loài sâm khác
(Nguyễn Tiến Bân, 2003). Việc khai thác quá
mức đã dẫn đến không hoặc rất hiếm gặp loài
ngoài tự nhiên Hiện nay, loài này chỉ còn tồn
tại ở một số vườn trồng tại các khu bảo tồn
của tỉnh Quảng Nam và Kon Tum. Sâm Ngọc
Linh được xếp vào nhóm nguy cấp (EN) trong
sách đỏ việt nam (2007) và nhóm IIa của nghị
định 32-CP. Ngành Y tế đã chọn sâm Ngọc
Linh làm cây thuốc xây dựng sản phẩm quốc
gia về dược liệu.
Ở Việt Nam, cho đến nay, có khá nhiều
công trình khoa học nghiên cứu về sâm Ngọc
Linh. Các nghiên cúu cơ bản tập trung vào
điều tra, phân loại, xác định vùng phân bố,
Genetic characteristics of Panax vietnamensis
13
nghiên cứu về thành phần hoá học, thử
nghiệm hoạt tính bảo vệ gan, giải mã hệ gen
lục lạp, hầu như rất ít các công trình nghiên
cứu về di truyền quần thể sâm Ngọc Linh.
Việc đánh giá ảnh hưởng của sự phân cắt nơi
sống, điều tra tính đa dạng di truyền và sinh
thái ở cả hai mức độ quần thể và loài trong tự
nhiên có vai trò quan trọng góp phần đưa ra
chiến lược và các giải pháp bảo tồn loài một
cách hữu hiệu. Nhiều nghiên cứu đã đề cập
đến mức độ suy giảm tính đa dạng di truyền
trong và giữa các quần thể thực vật liên quan
đến nơi sống bị chia cắt (Keller, 2002; Kim,
2007; Lahaye, 2008) Các tác giả này đã chỉ
ra rằng suy giảm tính đa dạng di truyền xảy
ra liên quan đến số lượng cá thể thấp trong
quần thể tại thời gian nơi sống bị chia cắt.
Hệ số thụ phấn cao giữa các cá thể có quan
hệ cận noãn cũng là yếu tố làm suy giảm tính
đa dạng di truyền.
Trần Văn Tiến, Lê Ngọc Triệu và nnk.
(2016) đã nghiên cứu về di truyền quần thể
loài tam thất hoang (Panax stipuleanatus
Tsai) và sâm lai châu (Panax vietnamensis
var. fuscidiscus) bằng chỉ thị ISSR (Le Ngoc
Trieu, 2016a, b).
Nhóm nghiên cứu của viện thổ nhưỡng
Viễn Đông (Nga) kết hợp với các cán bộ
phòng Hệ thống học phân tử & Di truyền bảo
tồn, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật đã
có nghiên cứu về đa dạng di truyền quần thể
loài sâm Nga (Panax ginseng) và sâm Việt
Nam (Panax vietnamensis) bằng chỉ ISSR và
AFLP. Có thể nói đây là công trình nghiên
cứu đầu tiên về di truyền quần thể loài sâm
Việt Nam (Galina, 2010; Elena, 2018).
Kỹ thuật SSR (microsatellite) được đánh
giá là kỹ thuật hữu hiệu nhất trong việc nghiên
cứu đa dạng di truyền ở cấp độ loài và quần thể
do các chỉ thị SSR có tính đa hình cao và đặc
hiệu cho từng loài nghiên cứu. SSR là những
trình tự nucleotide đặc biệt lặp lại nhiều lần từ
một phân đoạn oligonucleotide ngắn, đơn
giản. Ưu điểm của SSR là chỉ thị đồng trội,
có tính đặc hiệu và khả năng phát hiện đa hình
rất cao, giúp tránh được các nhầm lẫn trong
phân tích genome. SSR thường được dùng
trong các nghiên cứu về đa dạng di truyền ở
cấp độ loài và quần thể, các nghiên cứu về trao
đổi di truyền, cấu trúc di truyền và mối quan hệ
sinh sản trong các quần thể (Kim, 2007).
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng
kỹ thuật SSR để nghiên cứu đặc điểm di
truyền của 2 quần thể loài sâm Ngọc Linh thu
ở Quảng Nam và Kon Tum.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Tổng số 60 mẫu lá sâm Ngọc Linh thu
ngẫu nhiên từ 25 cây sâm tại vườn sâm gốc
Tăc-ngo, xã Trà Linh, huyện Nam Trà My,
tỉnh Quảng Nam, toạ độ 15o 00’607’’
N108
o01’660’’ E, độ cao 1567m và 35 mẫu
sâm thu tại xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông,
tỉnh Kon Tum, toạ độ 14o
59’11.12’’N107o57’10.87’’E, độ cao 1880m
(hình 1).
Tách chiết DNA tổng số
Các mẫu lá sâm Ngọc Linh từ hai quần thể
Quảng Nam và Kon Tum được bảo quản trong
silicagel cho đến khi thực hiện các nghiên cứu
phân tử.
Mẫu lá sau đó được nghiền trong nitrogen
lỏng (-)196°C thành dạng bột mịn, lấy 100mg
bột để tách DNA, sử dụng kit tách Dneasy
plant mini kit (Qiagen, Đức).
Lựa chọn mồi SSR
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử
dụng 11 cặp mồi SSR được thiết kế đặc hiệu
cho loài sâm Hàn Quốc (bảng 1).
Kim et al. (2007) đã thực hiện nghiên cứu
và phát hiện được 642 vùng lặp microsatellite
trên toàn bộ vùng gen lục lạp của loài nhân sâm
Hàn Quốc (Panax ginseng), đã chọn được 251
SSR vùng khác nhau và đã thiết kế được 90 cặp
mồi SSR để nhân những vùng microsatellite
này. Kết quả khảo sát sau đó đã chọn ra 11 cặp
mồi SSR cho kết quả đa hình và đặc hiệu với
loài nhân sâm Hàn Quốc (bảng 2).
Phản ứng nhân dòng các đoạn
microsatellite có kích thước trong khoảng 100
–300 bp được thực hiện với cặp mồi đánh dấu
huỳnh quang (Fluorescence chemicals) một
chiều xuôi. Chu trình phản ứng được thực
hiện ở 95oC trong 30’’, dải nhiệt độ từ
54
oC−59oC trong 30’’, 72oC trong 40’’; 72oC
Nguyen Thi Hong Mai et al.
14
trong 10’ với tổng số 35 chu trình. Điện di sản
phẩm PCR trên máy điện di mao quản
Qiaexcel, đọc kết quả bằng phần mềm Gene
Marker.
A. Hình ảnh cây sâm Ngọc Linh tại vườn sâm
Tắc-ngo, Quảng Nam
B. Hình ảnh cây sâm ngọc linh tại vườn sâm Măng Ri,
Kon Tum
Hình 1. Hình ảnh cây sâm Ngọc Linh tại vườn sâm Tăc-ngo (A) và vườn sâm Măng ri (B)
Bảng 1. Trình tự 11 cặp mồi SSR được kiểm tra để phân tích đa dạng di truyền
(các mồi bôi đậm phù hợp, dùng cho phân tích)
STT Mồi Trình tự mồi (5’– 3’) Nhiệt độ bắt cặp mồi
1 PG-22
F: CTGTCTATGCAAGTTGCGGCTG
58
R: ATCAAGTTGGAAATCAGGTGGG
2 PG-29
F: AATCAGAAACAAAGAAAGCTAAAAC
R: CTCTCTCATCTCTCTCTCTTCC
60
3 PG-281
F: GTAGTAGTAGTAAAACTTTGCTAACG
60
R: ATTTACAACTCTCTTCTTCCTCTAC
4 PG-287
F: GTGGGACTGGTATACAATAAGA
60
R: GTGTTCTTAGTTGCCCATTTG
5 PG-668
F: CTGGCATCGAAGTTTCTCCATTC
60
R: TGCATAGCACAGAGAGGAGG
6 PG-770
F: CCTCTTTGGGGCAGGGATATTTG
60
R: CCAGCAAACCCAAACCCTCCTC
7 PG-946
F: GAATCGAAGTGTTAAGTTGAT
R: CTTAAATCGATGATAACACC
56
8 PG-1319
F: GCATGAACGGATACACCTTGAGG
58
R: GGTATGCACCAGAAACGGACTGG
9 PG-1419
F: ACTCAAAATTCTACAGCTTCCTC
R: GATACCCCAGGCAGTCTGATGAC
56
10 PG-1481
F: GGAGGTGATTGATGTAGTGGAATCC
58
R: GGCTCTCCTATACTCACTATTTCCC
11 PG-1663
F: CTACACGCTTTTTCATAGCTTACA
60
R: TGTCTGCATAAAAGAGTTCGAGGC
Genetic characteristics of Panax vietnamensis
15
Phân tích số liệu SSR
Dẫn liệu di truyền được ghi nhận trên cơ
sở sự có mặt hoặc vắng mặt của các đỉnh
(peak) DNA thu được hoặc băng vạch DNA
trên bản điện di. Các thông số xác định đa
dạng di truyền trong quần thể bao gồm tần số
alen cho một lô cút (A), số alen có ý nghĩa
(ne), hệ số gen dị hợp tử quan sát (Ho), hệ số
gen dị hợp tử mong đợi (He), tỉ lệ phần trăm lô
cút đa hình, tần số gen dị hợp tử quan sát và lý
thuyết dưới điều kiện cân bằng Hardy-
Weinberg và hệ số Fixation index (Fis – hệ số
thụ phấn cận noãn) được tính toán bằng phần
mềm GenAlex (Rox, 2012). Sự sai khác di
truyền giữa các quần thể được đánh giá theo tần
số alen sử dụng chỉ số khoảng cách di truyền và
hệ số tương đồng di truyền của Nei’s (1972).
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả lựa chọn mồi SSR
Kết quả thử nghiệm 11 mồi SSR thiết
kế đặc hiệu cho sâm Hàn Quốc trên mẫu
sâm Ngọc Linh của Việt Nam cho thấy,
trong số 11 mồi thử nghiệm, chỉ có 4 mồi
gồm PG-29, PG-668, PG-1419 và PG-1481
cho kết quả đa hình (hình 2), các mồi còn
lại hoặc không xuất hiện băng vạch, hoặc
xuất hiện băng nhiễu, không đặc hiệu. Từ
kết quả này, chúng tôi lựa chọn 4 cặp mồi
PG-29, PG-668, PG-1419 và PG-1481 để
phân tích tính đa hình di truyền cho 60 mẫu
sâm thu được từ 2 quần thể sâm Ngọc Linh
của Việt Nam tại Quảng Nam và Kon Tum.
Hình 2. Một số hình ảnh alen ghi nhận khi phân tích SSR của 4 mồi PG-29,
PG-668, PG -1419 và PG-1481
Nguyen Thi Hong Mai et al.
16
Kết quả phân tích SSR - đặc điểm di truyền
quần thể sâm Ngọc Linh
Kết quả phân tích 60 mẫu sâm Ngọc Linh
thu từ 2 quần thể sâm tại Quảng Nam và Kon
Tum cho thấy 25 mẫu sâm từ quần thể Quảng
Nam phân tích trên 4 cặp mồi SSR đã thu
được tổng số 525 vạch (peaks) chia đều cho 9
alen gồm alen 89, 91, 95, 97, 101, 103, 105,
111 và 119. Cụ thể, mồi PG-29 cho 8 alen với
kích thước lần lượt là 91, 97, 101, 103, 105,
111, 115 và 119 bp., trong đó alen 119 xuất
hiện ở 17/25 mẫu của quần thể Quảng Nam
nhưng chỉ xuất hiện ở 5/35 mẫu thuộc quần
thể Kontum. Mồi PG-668 cho tổng số 5 alen
với kích thước các băng lần lượt là 89, 95,
105, 107 và 111 bp, trong đó alen 89 xuất hiện
ở 12 mẫu thuộc quần thể Quảng Nam nhưng
chỉ tìm thấy ở 3 mẫu thuộc quần thể Kon
Tum. Các alen còn lại chia tương đối đều cho
cả 2 quần thể.
Mồi PG-1419 cho tổng số 6 alen với
các kích thước là 95, 97, 103, 105, 107 và
111 bp. Mồi PG-1481 cho 2 alen với kích
thước là 101 bp và 105 bp, tuy nhiên alen
101 bp xuất hiện với tần suất áp đảo
(85%) trong khi alen 105 bp chỉ xuất hiện
ở 9 mẫu trên tổng số 25 mẫu của quần thể
sâm tại Quảng Nam.
Như vậy, tần số phân bố của các alen thu
được ở 4 locus (PG-29; PG-688; PG-1419;
PG-1481) là không đồng đều. Trong đó locus
PG-29 có tính đa hình cao nhất và locus PG-
1481 có tính đa hình thấp nhất thể hiện ở 2
vạch (101 bp và 105 bp) (bảng 2). Tuy nhiên
kết quả cho thấy cả 4 locus SSR sử dụng
đều là đa hình với quần thể sâm ở Quảng
Nam. Như vậy, bước đầu có thể kết luận
quần thể sâm ở Quảng Nam đang duy trì
mức độ đa dạng di truyền khá tốt, có giá
trị bảo tồn cao.
Đối với quần thể Kon Tum, 35 mẫu sâm
thu được đã cho tổng số 665 băng (peaks).
Trong 4 mồi là PG-29; PG-688; PG-1419;
PG-1481, số alen (A) nhận được lần lượt là 8
alen; 5 alen; 6 alen và 1 alen. Mồi PG-29 cho
nhiều alen nhất (8 alen), tuy nhiên alen 119
chỉ xuất hiện ở 3/35 mẫu nghiên cứu. Mồi PG-
1481 cho kết quả đơn hình với một vạch duy
nhất là alen 101, không tìm thấy alen 105 ở
các mẫu của quần thể này. Tần số alen (Allele
frequency) xuất hiện ở nhiều nhất là ở locus
PG-29 là 0,0119; 0,0357; 0,6786; 0,0476;
0,0357; 0,1190; 0,0238; 0,0476 và thấp nhất ở
locus PG-1481 là 1,000. Mồi PG-668 và PG-
1419 có kích thước băng dao động trong
khoảng 89 bp đến 111 bp, tần số alen dao
động từ 0,0114 tới 0,6705. Ở locus PG-668,
quan sát được mức độ đồng hợp tử khá cao
nhưng chưa hoàn toàn lấn át các tổ hợp gen dị
hợp tử. Số lượng alen quan sát được ở locus
PG-668 cũng thấp hơn so với 3 locus PG-29;
PG-1419 và PG-1481. Điều này có thể sự
cách ly và phiêu bạt di truyền phần nào đã làm
giảm tỉ lệ các tổ hợp gen dị hợp. Các kết quả
thu được cho thấy: 3/4 locus nghiên cứu cho
kết quả đa hình với 35 mẫu của quần thể Kon
Tum, tuy nhiên tần số phân bố của các alen
không đồng đều, số lượng alen có tần số xuất
hiện có ý nghĩa chỉ ở mức trung bình thấp.
Đặc biệt, chỉ tìm thấy alen 105 ở 9/25 mẫu
thuộc quần thể Quảng Nam mà không thấy
xuất hiện ở các mẫu của quần thể Kon Tum.
Đây có thể là kết quả của quá trình cách ly và
chọn lọc không đều đã làm giảm tần số xuất
hiện của một số alen hiếm hay không có ưu
thể trong tiến hóa.
Chỉ số số alen có ý nghĩa (ne) của bốn
locus PG-29; PG-688; PG-1419; PG-1481
lần lượt là 2,073; 1,944; 2,821; 1.000, như
vậy số alen có ý nghĩa (ne) dao động từ 1,0
đến 2,821 (trung bình là 1,2,27 ở quần thể
Quảng Nam và 2,05 ở quần thể Kon Tum),
trong đó một nửa là các alen hiếm với tỷ lệ
thấp. Tiếp theo là tần số di hợp tử quan sát
(Ho) trung bình mỗi locus là 0,466 (trong đó
ở quần thể Quảng Nam là 0,49 và ở quần thể
Kon Tum là 0,43) (dao động từ 0 đến 0,884
tuỳ theo từng locus) cao nhất là cao nhất ở
locus PG-1419 là 0,645. Ở 4 locus PG-29;
PG-688; PG-1419; PG-1481 tần số dị hợp tử
quan sát (Ho) có trùng bình mỗi locus đa
hình là 0,621. Tần số dị hợp tử mong đợi
(He) của bốn locus PG-29; PG-688; PG-
1419; PG-1481 cao nhất ở locus PG-1419 là
0,645 và thấp nhất ở locus PG-1481 là
0,000, tần số dị hợp trung bình của mỗi
locus là 0,412. Như vậy trung bình tần số dị
Genetic characteristics of Panax vietnamensis
17
hợp tử mong đợi (He) mỗi locus thấp hơn
tần số dị hợp tử quan sát (Ho) mỗi locus (He
= 0,412 < Ho = 0,466). Điều đó chứng tỏ
hai quần thể sâm ở Quảng Nam và Kon Tum
đều đang duy trì được tần số dị hợp tử tương
đối khả quan.
Bảng 2. Đặc điểm di truyền loài sâm Ngọc Linh dựa trên phân tích 4 chỉ thị SSR
Locus A ne Alleles (bp) Allele frequency Ho He Fis
PG - 29 8 2,073 91 0,0119 0,548 0,518
97 0,0357
101 0,6786
103 0,0476
105 0,0357
111 0,1190
115 0,0238
119 0,0476
PG - 668 5 1,944 89 0,0341 0,432 0,485
95 0,6705
103 0,2500
107 0,0114
111 0,0341
PG - 1419 6 2,821 95 0,2442 0,884 0,645
97 0,0116
103 0,5233
105 0,1279
107 0,0349
111 0,0581
PG - 1481 2 1,00 101 0,85 0,000 0,000
105 0,15
Tổng số 21 0,621
QT Quảng Nam 21 2,27 0,49 0,42 -0,12
QT Kon Tum 20 2,05 0,43 0,40 -0,09
Trung bình 2,16 0,46 0,41 -0,105
Ghi chú: A: Số alen; ne: Số alen hiệu quả; Ho : hệ số dị hợp tử; He: Hệ số dị hợp tử mong đợi; Fis là giá
trị thụ phấn cận noãn.
Ở mức độ quần thể, quần thể Quảng Nam
cho thấy tần số alen cao hơn so với quần thể
Kon Tum (A = 2,27 > A = 2,05). Tần số alen di
hợp tử quan sát được (Ho) của quần thể sâm ở
Quảng Nam là 0,49 và ở Kon Tum là 0,43. Tần
số dị hợp tử mong đợi (He) ở hai quần thể này
lần lượt là 0,42 và 0,4. Như vậy quần thể sâm
Ngọc Linh ở Quảng Nam có tần số dị hợp tử
mong đợi (He) cao hơn tần số dị hợp tử mong
đợi của quần thể sâm ở Kon Tum (0,42 > 0,4).
Tần số alen di hợp tử quan sát được (Ho) của
quần thể Quảng Nam cũng cao hơn tần số dị
hợp tử mong đợi so với quần thể Kon Tum
(0,49 > 0,43). Như vây, có thể kết luận cả hai
quần thể Quảng Nam và Kon Tum đều đang
duy trì được tần số dị hợp tử tương đối cao,
hiện tượng tự thụ phấn chưa ảnh hưởng đến
cấu trúc di truyền quần thể của cả hai quần thể
này, tuy nhiên quần thể sâm tại Quảng Nam thể
hiện mức độ đa dạng và tần số dị hợp tử cao
hơn so với quần thể sâm tại Kon Tum.
Tuy vậy, các kết quả phân tích thu được
cũng cho thấy, mặc dù có sự đa hình khá lớn ở
bốn locus nghiên cứu nhưng tần số phân bố
của các alen không đồng đều, số lượng alen có
tần số xuất hiện có ý nghĩa chỉ ở mức trung
bình thấp. Đây có thể là kết quả của quá trình
cách ly và chọn lọc không đều đã làm giảm
tần số xuất hiện của một số alen hiếm hay
không có ưu thể trong tiến hóa, điều này cho
Nguyen Thi Hong Mai et al.
18
thấy rất có thể quần thể Quảng Nam và Kon
Tum thực chất ban đầu có nguồn gốc từ một
quần thể chung, sau đó bị phân ly tạo thành
hai quần thể riêng biệt nên vẫn tồn tại một số
alen hiếm nhưng với tần số rất nhỏ.
Kết quả phân tích chỉ số Fis của hai quần
thể sâm Ngọc Linh ở Quảng Nam và Kon
Tum ở nghiên cứu này đều cho giá trị hệ số
thụ phấn cận noãn (Fis) nhỏ hơn 0 (cụ thể, giá
trị Fis của 2 quần thể Quảng Nam và Kon
Tum tương ứng -0,12 và -0,09). Kết quả này
phản ánh hệ số gen đồng hợp tử ở các quần
thể này đều thấp hơn so với tỷ lệ alen dị hợp
tử quan sát được, nghĩa là chưa xuất hiện hiện
tượng thoái hóa di truyền hay nói cách khác
chưa xảy ra sự thụ phấn cận noãn trong quần
thể hay nói cách khác việc thụ phấn cận noãn
giữa một số cá thể trong quần thể chưa làm
ảnh hưởng đến tần số alen dị hợp tử tổng số
của quần thể. Quần thể sâm Ngọc Linh ở
Quảng Nam có hệ số cận noãn (Fis) nhỏ hơn
hệ số cận noãn (Fis) ở quần thể sâm Ngọc
Linh ở Kon Tum (-0,12 < -0,09), điều đó cho
thấy tỷ lệ thụ phấn cận noãn ở các cá thể trong
quần thể Quảng Nam thấp hơn so với Kon
Tum, kết quả phân tích alen dị hợp và tần số
đa dạng alen ở quần thể Quảng Nam cũng cao
hơn so với quần thể Kon Tum.
Nhìn chung, các kết quả thu được trong
nghiên cứu này đều cho thấy các giá trị Ho,
He của hai quần thể sâm Ngọc Linh ở Quảng
Nam và Kon Tum đều cao hơn so với các kết
quả nghiên cứu về đa dạng di truyền quần thể
của loài Panax quinquefollius và Panax
ginseng [Kim, 2007, Galina, 2010, Elena
2018]. Điều đó chứng tỏ loài sâm Ngọc Linh
của Việt Nam đang có được một nguồn gen
phong phú với tỷ lệ locus đa hình cao.
Kết quả bước đầu này cho thấy, tỷ lệ dị
hợp trong 2 quần thể sâm ở Quảng Nam và
Kon Tum đủ đảm bảo cho quần thể sâm Ngọc
Linh phát triển. Tuy nhiên trong nghiên cứu
này, hai quần thể sâm mà chúng tôi thực hiện
thu mẫu là hai quần thể sâm thuộc sự quản lý
của chính quyền xã Trà Linh, huyện Nam Trà
My và công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh tại xã
Măng ri, huyện Tu Mơ Rông, ở đây hầu hết
đều là những cây được di thực từ tự nhiên,
tập trung trồng trong trạm nên hầu như vẫn
giữ được tính đa dạng cao. Trên thực tế, sau
thời gian dài trồng tập trung mà không bổ
sung được cây mới (nguồn gen mới), khả
năng mất đi tính đa dạng của quần thể này là
chắc chắn xảy ra.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi
nguồn kinh phí của Viện Hàn lâm KHCNVN
cho đề tài thuộc Hướng Đa dạng sinh học và
các chất có hoạt tính sinh học mã số
VAST04.07/19-20.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Choi I. J., Kim H., Kim N. H., Choi B. S.,
Ahn I. O., Lee J. S., and Yang T. K.,
2011. Development of reproducible EST-
derived SSR markers and assessment of
genetic diversity in Panax ginseng
cultivars and related species. Journal of
Ginseng reseach, 35: 399−412.
Do Tat Loi, 2004, Vietnamese medicinal plants
and herbs. Medicine Publishing House, pp.
808−810. (In Vietnamese)
Doyle J. J., Doyle J. L., 1990. Isolation of
plant DNA from fresh tissue. Focus, 12:
13−15.
Elena A. V., Iury Yu. A., Reunova G. D., T.
P. T. Nguyen, Yuri N. Z., 2018. A
comparative Analysis of genetic
Variability and differentiation in Panax
vietnamensis Ha et Grushv. and P.
gienseng C.A. Meyer using ISSR markers.
Russian journal of genetics, 54(2):
262−265.
Galina D. Reunova, Irina L. Kats, Tamara I.
Muzarok, Trang N. T. P, The Dang Tat,
Yuri N. Zhuravlev, 2010. Genetic
diversity of Panax ginseng C. A. Meyer,
inferred from amplified fragment length
polymorphism markers”.
Ha T. D. and Grushvitzky I. V., 1985. New
species in Panax (Araliaceae) in Viet
Nam. J. Botany, 70: 518–522.
Keller L. F. and Waller D. M., 2002.
Inbreeding effects in wild
populations. Trends in ecology &
evolution, 17(5), 230–241.
Genetic characteristics of Panax vietnamensis
19
Kim J., Jo B. H., Lee K. L., Yoon E. S., Ryu
G. H., Chung K. W., 2007. Identification
of new microsatellite markers in Panax
ginseng. Molecules and Cell, 24: 60−68.
Lahaye R., van der Bank M., Bogarin D.,
Warner J., Pupulin F., Gigot G., Maurin
O., Dathoit S., Barraclough T. G.,
Savolainen V., 2008. DNA barcoding the
floras of biodiversity hotspots. PNAS,
105(8): 2923−2928.
Le Ngoc Trieu, Nong Van Duy, Vu Tien
Chinh, Tran van Tien, 2016a. Genetic
diversity of Panax vietnamensis var.
fucidicus K. Komatsu, S. Zhu & s.Q.cai
population in western north of Vietnam
detected by Inter simple sequence repeat
markers. Vietnam Journal of
Biotechnology, 14(4): 619−627 (In
Vietnamese with English summary).
Le Ngoc Trieu, Nguyen Tuong Mien, Tran
Van Tien, Nguyen Van Ket, Nong Van
Duy 2016b. Genetic diversity of Panax
stipuleanatus Tsai in North Vietnam
detected by inter simple sequence repeat
(ISSR) markers. Biodiversity and
Ecosystems, pp. 506−511.
Le Thanh Son and Nguyen Tap, 2006.
Ecological characteristics of Panax
vietnamensis Ha et Grushv. Journal of
Medicinal Materials, 14(4): 145−147 (In
Vietnamese with English summary).
MOST (Ministry of Science and Technology)
and VAST (Vietnam Academy of Science
and Technology), 2007. Vietnam red data
book, part II. Plants (In Vietnamese)
Nguyen Tien Ban, 2003. List of Vietnamese
Plant species, Agriculture Publishing
House, Ha Noi. Part 2, p. 1078−1079. (In
Vietnamese).
Rox Peakall, Peter E. Smouse, 2012. GenAlex
6.5: Genetic analysis in Excel Population
genetic software for teaching and
research-an update. Bioinformatics,
28(19): 2537−2539.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
genetic_characteristics_of_panax_vietnamensis_ha_grushv_popu.pdf