Các mẫu mọt đục thân cây Sưa có nhiều đặc
điểm tương đồng với loài E. fornicatus gây hại
cây Keo ở Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b),
gây hại cây Chè ở Ấn Độ (Kumar et al., 2011)
nhưng kích thước của chúng lớn hơn đáng kể so
với mọt E. fornicatus đã được mô tả. Kích thước
của mọt trưởng thành tương đồng với loài E.
timidus (Hulcr and Cognato, 2013).
Từ kết quả mô tả đặc điểm hình thái nêu trên,
đối chiếu với khóa phân loại và đặc điểm của
giống Euwallacea, kết hợp việc so sánh với khóa
phân loại của Eichhoff (1868) và đối chiếu mẫu
của bộ môn côn trùng, loài mọt hại cây Sưa
được giám định là một loài thuộc giống
Euwallacea, thuộc tộc Xyleborini, phân họ
Scolytinae, họ Curculionidae, bộ Coleoptera.
Chúng có nhiều đặc điểm tương đồng với loài
E. fornicatus gây hại cây Keo ở Việt Nam nhưng
chưa xác định được đến loài.
Trong nghiên cứu này, đã ghi nhận loài mọt
đục thân Euwallacea sp., một sinh vật gây hại
mới đối với cây Sưa. Loài mọt này có nhiều đặc
điểm tương đồng với loài E. fornicatus gây hại
cây Keo ở Việt Nam đã được Phạm Quang Thu
(2016b) mô tả và cũng có nhiều đặc điểm hình
thái và kích thước tương đồng với loài E. timidus
(Hulcr and Cognato, 2013). Các nghiên cứu trên
thế giới cho thấy các loài mọt thuộc giống
Euwallacea gây hại trên nhiều loài cây trồng khác
nhau như Phong bạc, Thầu dầu, Chè, các loài
Dẻ, các loài Cây có múi, Cao su, Xoài, Tếch, Ca
cao. (Kumar et al., 2011; Parthiban and
Muranleedharan, 2012). Trong đó, mọt E.
fornicatus là loài gây hại nghiêm trọng đối với cây
Bơ ở Mỹ (Kasson, 2013; Coleman et al., 2019),
chúng đã được ghi nhận là sinh vật gây hại chính
đối với rừng trồng các loài Keo trên diện rộng ở
Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b; Coleman et
al., 2019).
Mọt Euwallacea spp. là các loài mọt đục thân
cây sống, chúng lây nhiễm nấm Fusarium
euwallacea vào hang đục để làm thức ăn
(Parthiban and Muraleedharan, 1996). Ngoài ra,
mọt E. fornicatus cũng đã được xác định có
mang theo bào tử nấm gây bệnh chết héo trong
rừng trồng Keo với 70% mẫu mọt có mang nấm
C. manginecans trên tổng số 50 mẫu mọt thu từ
rừng trồng Keo tai tượng đang bị bệnh chết héo
(Trần Thị Thanh Tâm, 2018). Đối với cây Sưa,
bệnh chết héo đã xuất hiện và gây hại tại một số
địa phương (Chi et al., 2019), việc đồng thời xuất
hiện thêm mọt đục thân có thể sẽ làm tăng nguy
cơ lây lan bệnh hại. Do đó, rất cần tiếp tục
nghiên cứu xác định đến loài, nghiên cứu đặc
điểm sinh học, sinh thái, xác định thành phần các
loài nấm gây bệnh do mọt mang theo và các biện
pháp phòng trừ để có giải pháp quản lý hiệu quả.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ghi nhận ban đầu về mọt đục thân gây hại cây Sưa ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 4/2019
15
GHI NHẬN BAN ĐẦU VỀ MỌT ĐỤC THÂN GÂY HẠI CÂY SƢA Ở VIỆT NAM
First Report of Stem Borer Beetle Associated with Dalbergia tonkinensis
in Viet Nam
Nguyễn Minh Chí
1
, Nông Phƣơng Nhung
2
, Trần Xuân Hƣng
1
,
Đào Ngọc Quang
1
,
Trần Xuân Hinh
1
,
Nguyễn Văn Nam
1
, Phạm Thị Thu Thủy
1
và Phạm Quang Thu
1
Ngày nhận bài: 26.7.2019 Ngày chấp nhận: 08.8.2019
Abstract
Dalbergia tonkinensis is a rare and highly valuable rosewood and planted quite popularly in Viet Nam in the
past few years, but the D. tonkinensis trees were infected by a number of pathogens such as root rot disease, and
leaf spot disease, canker disease and wilt disease. This is the first report of stem borer beetle - Euwallacea sp.
which associated with D. tonkinensis in Vietnam. The adult is very dark-brown to black, their body size is 2.35 -
2.61 mm in length and 0.98 - 1.05 mm in width with club antennae. They often attack the diseased or weak trees,
mainly on the 5 - 10 year-old trees, and greatly affect the tree growth and wood quality. This species is a new
record for Vietnamese fauna and a potential insect pest for D. tonkinensis. In order to manage effectively of this
species, further research is needed to determine the exact species name, their biology, ecology and control
measures.
Keywords: ambrosia beetle, Dalbergia tonkinensis, Euwallacea sp.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) là
một trong những loài cây gỗ quý, hiếm, có giá
trị kinh tế cao ở Việt Nam và đã được xếp vào
nhóm IA, nhóm thực vật rừng nghiêm cấm khai
thác, sử dụng vì mục đích thương mại (Chính
phủ, 2006). Tuy nhiên, do giá trị kinh tế rất cao,
có thể tới 18 tỷ đồng/m
3
(Vĩnh Phúc, 2013),
cây Sưa đã được trồng khá phổ biến ở nhiều
nơi trên cả nước, tập trung nhiều nhất ở tỉnh
Vĩnh Phúc và đang hình thành thị trường các
sản phẩm giá trị cao từ cây Sưa (Nông
Phương Nhung et al., 2019).
Đến nay, đã ghi nhận một số bệnh hại cây
Sưa ở giai đoạn vườn ươm như bệnh thối cổ rễ
do hai loài nấm Fusarium solani, Pythium vexans
và bệnh đốm lá do nấm Colletotrichum sp.; bệnh
loét thân, cành do nấm Fusarium lateritium và F.
decemcellulare gây hại cây Sưa cả ở giai đoạn
vườn ươm và rừng trồng (Nhung et al., 2018);
bệnh chết héo do nấm Ceratocystis manginecans
(Chi et al., 2019) và mới đây đã ghi nhận mọt đục
thân gây hại cây Sưa ở Việt Nam.
Các loài mọt thuộc giống Euwallacea đục thân
cây sống có tên tiếng Anh là ambrosia beetle và
còn được gọi là mọt nuôi nấm, mọt ăn nấm, mọt
1. Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng, Viện Khoa học
Lâm nghiệp Việt Nam
2. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
hại gỗ gián tiếp hay mọt ăn nấm và là vector
truyền nấm gây bệnh cho cây chủ (Parthiban and
Muraleedharan, 1996). Mọt Euwallacea
fornicatus đã được ghi nhận là loài mọt đục thân
cây sống, gây hại rừng trồng Keo trên diện rộng
ở Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b). Các
nghiên cứu trên thế giới cho thấy các loài mọt
thuộc giống Euwallacea gây hại trên nhiều loài
cây trồng khác nhau như Phong bạc, Thầu dầu,
Chè, các loài Dẻ, các loài Cây có múi, Cao su,
Xoài, Tếch, Ca cao... (Parthiban and
Muranleedharan, 2012), gây hại cây Chè ở Ấn
Độ (Kumar et al., 2011) và gây hại nghiêm trọng
đối với cây Bơ ở Mỹ (Kasson, 2013).
Các loài mọt thuộc giống Euwallacea được
xác định có mang và nuôi nấm Fusarium
euwallacea làm thức ăn, trưởng thành cái mang
theo bào tử nấm ở gốc râu đầu và miệng
(Parthiban and Muraleedharan, 1996; Phạm
Quang Thu, 2016b). Trong quá trình mọt trưởng
thành cái đào hang trong thân cây, nấm được
nhiễm vào đường hang, từ đó nấm phát tán ra
xung quanh và làm nguồn thức ăn cho sâu non
và trưởng thành sau khi vũ hóa (Parthiban and
Muraleedharan, 1996).
Năm 2018 - 2019 đã ghi nhận mọt đục thân
trên cây Sưa ở các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc,
Hà Nội, Hòa Bình và Nghệ An. Đây là sinh vật
gây hại mới và tiềm ẩn những mối nguy hại đối
với cây Sưa ở Việt Nam. Bài báo này trình bày
kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, giám định
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 4/2019
16
loài và đặc điểm gây hại của loài mọt đục thân
cây Sưa ở Việt Nam.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Các mẫu cây Sưa bị mọt đục thân thu thập
tại các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa
Bình và Nghệ An.
- Các mẫu mọt đục thân gây hại cây Sưa.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây
hại của mọt
Theo dõi, quan sát đặc điểm gây hại của mọt
trên cây Sưa và trên các mẫu thân cây bị mọt
đục thân. Các chỉ tiêu quan sát gồm vị trí gây hại,
hang đục của mọt, màu sắc và phân bố mọt trên
thân cây.
Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình
thái của mọt
Thu các mẫu thân cây Sưa bị hại, chẻ nhỏ để
thu mẫu mọt trưởng thành, trứng, sâu non,
nhộng trong các mẫu cây bị mọt đục thân.
Mẫu mọt trưởng thành, trứng, sâu non và
nhộng được quan sát trên kính soi nổi Leica
M165C để chụp ảnh, đo kích thước và mô tả chi
tiết các bộ phận của cơ thể mọt.
Phương pháp giám định tên khoa học
Đặc điểm hình thái của các mẫu mọt được đối
chiếu với khóa phân loại và đặc điểm của giống
Euwallacea đã được mô tả bởi Eichhoff (1868).
Kết hợp với việc so sánh và đối chiếu mẫu mọt
của trường Đại học Florida do Tiến sỹ Johnson
Andrew thực hiện tháng 6 năm 2019.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm gây hại của mọt đục thân
cây Sƣa
Cây Sưa ở giai đoạn 5 - 10 tuổi thường bị mọt
đục thân gây hại, thân cây bị mọt đục có lỗ nhỏ
có đường kính từ 1,1 - 1,3 mm. Khi thân cây mới
bị mọt đục thân, mọt đùn mùn gỗ ra có màu
trắng, mùn gỗ chuyển dần sang màu thâm đen
theo thời gian, sau đó để lại các lỗ nhỏ trên thân
(hình 1a), cây bị mọt hại có đường hang chạy
thẳng vào trong thân, sau đó rẽ nhiều nhánh ở
phần gỗ giác (hình 1b,c).
Chúng thường tấn công các cây bị bệnh hoặc
cây sinh trưởng kém, có sức sống yếu, tập trung
gây hại cây Sưa ở giai đoạn trên 5 năm tuổi, đặc
biệt là 5 - 10 năm tuổi. Đặc điểm gây hại này
tương đồng với nghiên cứu của Phạm Quang
Thu (2016a,b) đã ghi nhận mọt E. fornicatus tập
trung gây hại rừng trồng các loài Keo ở giai đoạn
trên cây 3 năm tuổi.
Hình 1. Cây Sƣa bị mọt đục thân: a. thân cây bị mọt; b. mặt cắt dọc thân cây bị mọt
Hiện nay, đã ghi nhận mọt đục thân cây Sưa
trên một số rừng trồng và một số vườn hộ với tỷ
lệ cây bị hại khoảng 10 - 12%, tập trung ở những
cây Sưa bị bệnh. Đồng thời, chúng đang có xu
hướng phát tán rộng và gây hại ngày càng nặng
hơn. Cây Sưa là một loài cây gỗ bản địa có giá trị
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 4/2019
17
kinh tế rất cao, giá gỗ có thể tới 18 tỷ đồng/m
3
(Vĩnh Phúc, 2013). Cây Sưa đã và đang được
trồng khá phổ biến ở nhiều vùng trên cả nước,
tập trung nhiều ở các tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ
(Nông Phương Nhung et al., 2019). Gỗ Sưa rất
được ưa chuộng để sản xuất đồ mỹ nghệ và đồ
mộc cao cấp. Tuy nhiên, khi cây bị mọt đục thân
đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng gỗ với các
lỗ mọt và đường hang, làm mất tính thẩm mỹ và
giá trị của sản phẩm sau này.
3.2 Đặc điểm hình thái của mọt đục thân
cây Sƣa
Trưởng thành: Cơ thể mới vũ hóa có màu
vàng, sau đó chuyển màu vàng đậm, nâu sẫm
đến đen. Chiều dài cơ thể từ 2,35 đến 2,61 mm,
rộng từ 0,98 đến 1,05 mm. Râu đầu có dạng hình
chuỳ với đốt thứ tư phình to, đốt chân râu đầu
nằm ở giữa phần mắt kép với phần hàm dưới
của miệng (hình 2a).
Trứng: Hình oval, dài từ 0,31 đến 0,42 mm
(hình 2b), màu trắng kem hoặc vàng, trứng
nằm ở cuối đường hang trong thân cây bị
chúng gây hại, số trứng trong mỗi ổ dao động
từ 12 đến 15 quả.
Sâu non: Có 3 tuổi :
Tuổi 1: Màu trắng sữa, chiều dài cơ thể 0,92 -
1,11 mm, rộng 0,38 - 0,50 mm.
Tuổi 2: Màu vàng nhạt, chiều dài cơ thể 1,41 -
1,60 mm, rộng 0,45 - 0,61 mm.
Tuổi 3: Màu vàng, chiều dài cơ thể 1,79 - 2,22
mm, rộng 0,61 - 0,75 mm, phần đầu bắt đầu xuất
hiện nhiều tấm chắn bảo vệ (hình 2c).
Nhộng: Kích thước dài 2,15 - 2,65 mm, rộng 0,98
- 1,32 mm, mới hoá nhộng có màu trắng sữa sau
chuyển màu vàng hoặc vàng nâu (hình 2d).
Hình 2. Mọt đục thân Sƣa:
a. trưởng thành; b. trứng; c. sâu non; d. nhộng. Thước: a, c, d = 1 mm; b = 0,5 mm
3.3 Giám định tên khoa học
Các kết quả mô tả đặc điểm hình thái cho loài
mọt đục thân cây Sưa trong nghiên cứu này
được so sánh với đặc điểm hình thái của 2 loài
mọt Euwallacea fornicatus và E. timidus thuộc
giống Euwallacea (bảng 1).
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 4/2019
18
Bảng 1. Đặc điểm hình thái của mọt đục thân cây Sƣa, mọt E. fornicatus và E. timidus
Đặc điểm Mọt đục thân cây Sưa
E. fornicatus
*
E. timidus
**
Trưởng thành
Màu sắc Nâu sẫm hoặc đen Nâu hoặc đen Vàng hoặc nâu
Kích thước Dài: 2,35 - 2,61 mm
Rộng: 0,98 - 1,05 mm
Dài: 1,83 - 1,90 mm
Rộng: 0,96 - 1,02 mm
Dài: 2,10 - 2,60 mm
Rộng: 0,94 - 1,06 mm
Râu đầu Dạng hình chuỳ với đốt
thứ tư phình to
Dạng hình chuỳ với đốt
thứ tư phình to
Dạng hình chuỳ với đốt
thứ tư phình to
Trứng
Hình dạng Hình oval Hình oval Hình oval
Màu sắc Màu trắng kem hoặc
vàng
Màu trắng kem Màu trắng kem hoặc
vàng
Kích thước Dài 0,31 - 0,42 mm Dài 0,23 - 0,40 mm Dài 0,29 - 0,37 mm
Sâu non
Tuổi 1 Dài: 0,92 - 1,11 mm
Rộng: 0,38 - 0,50 mm
Dài: 0,90 - 0,97 mm
Rộng: 0,37 - 0,42 mm
Dài: 0,88 - 0,99 mm
Rộng: 0,33 - 0,47 mm
Tuổi 2 Dài: 1,41 - 1,60 mm
Rộng: 0,45 - 0,61 mm
Dài: 1,30 - 1,36 mm
Rộng: 0,44 - 0,50 mm
Dài: 1,34 - 1,56 mm
Rộng: 0,48 - 0,60 mm
Tuổi 3 Dài: 1,79 - 2,22 mm
Rộng: 0,61 - 0,75 mm
Dài: 1,80 - 1,85 mm
Rộng: 0,60 - 0,67 mm
Dài: 1,85 - 2,05 mm
Rộng: 0,55 - 0,69 mm
Nhộng
Màu sắc Màu vàng hoặc vàng
nâu
Màu vàng nhạt Màu vàng đậm hoặc
nâu
Kích thước Dài: 2,15 - 2,65 mm
Rộng: 0,98 - 1,32 mm
Dài: 1,97 - 2,07 mm
Rộng: 0,97 - 1,07 mm
-
* Nguồn: (Phạm Quang Thu, 2016b); ** Nguồn: (Hulcr and Cognato, 2013).
Các mẫu mọt đục thân cây Sưa có nhiều đặc
điểm tương đồng với loài E. fornicatus gây hại
cây Keo ở Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b),
gây hại cây Chè ở Ấn Độ (Kumar et al., 2011)
nhưng kích thước của chúng lớn hơn đáng kể so
với mọt E. fornicatus đã được mô tả. Kích thước
của mọt trưởng thành tương đồng với loài E.
timidus (Hulcr and Cognato, 2013).
Từ kết quả mô tả đặc điểm hình thái nêu trên,
đối chiếu với khóa phân loại và đặc điểm của
giống Euwallacea, kết hợp việc so sánh với khóa
phân loại của Eichhoff (1868) và đối chiếu mẫu
của bộ môn côn trùng, loài mọt hại cây Sưa
được giám định là một loài thuộc giống
Euwallacea, thuộc tộc Xyleborini, phân họ
Scolytinae, họ Curculionidae, bộ Coleoptera.
Chúng có nhiều đặc điểm tương đồng với loài
E. fornicatus gây hại cây Keo ở Việt Nam nhưng
chưa xác định được đến loài.
Trong nghiên cứu này, đã ghi nhận loài mọt
đục thân Euwallacea sp., một sinh vật gây hại
mới đối với cây Sưa. Loài mọt này có nhiều đặc
điểm tương đồng với loài E. fornicatus gây hại
cây Keo ở Việt Nam đã được Phạm Quang Thu
(2016b) mô tả và cũng có nhiều đặc điểm hình
thái và kích thước tương đồng với loài E. timidus
(Hulcr and Cognato, 2013). Các nghiên cứu trên
thế giới cho thấy các loài mọt thuộc giống
Euwallacea gây hại trên nhiều loài cây trồng khác
nhau như Phong bạc, Thầu dầu, Chè, các loài
Dẻ, các loài Cây có múi, Cao su, Xoài, Tếch, Ca
cao... (Kumar et al., 2011; Parthiban and
Muranleedharan, 2012). Trong đó, mọt E.
fornicatus là loài gây hại nghiêm trọng đối với cây
Bơ ở Mỹ (Kasson, 2013; Coleman et al., 2019),
chúng đã được ghi nhận là sinh vật gây hại chính
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 4/2019
19
đối với rừng trồng các loài Keo trên diện rộng ở
Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b; Coleman et
al., 2019).
Mọt Euwallacea spp. là các loài mọt đục thân
cây sống, chúng lây nhiễm nấm Fusarium
euwallacea vào hang đục để làm thức ăn
(Parthiban and Muraleedharan, 1996). Ngoài ra,
mọt E. fornicatus cũng đã được xác định có
mang theo bào tử nấm gây bệnh chết héo trong
rừng trồng Keo với 70% mẫu mọt có mang nấm
C. manginecans trên tổng số 50 mẫu mọt thu từ
rừng trồng Keo tai tượng đang bị bệnh chết héo
(Trần Thị Thanh Tâm, 2018). Đối với cây Sưa,
bệnh chết héo đã xuất hiện và gây hại tại một số
địa phương (Chi et al., 2019), việc đồng thời xuất
hiện thêm mọt đục thân có thể sẽ làm tăng nguy
cơ lây lan bệnh hại. Do đó, rất cần tiếp tục
nghiên cứu xác định đến loài, nghiên cứu đặc
điểm sinh học, sinh thái, xác định thành phần các
loài nấm gây bệnh do mọt mang theo và các biện
pháp phòng trừ để có giải pháp quản lý hiệu quả.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận: Loài mọt đục thân cây Sưa được
xác định là Euwallacea sp. thuộc phân họ
Scolytinae, họ Curculionidae, bộ Coleoptera.
Chúng gây hại chủ yếu trên rừng trồng ở giai
đoạn 5 - 10 tuổi và có xu hướng lan rộng.
Kiến nghị: Cần tiếp tục nghiên cứu xác định
đến loài, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái,
xác định thành phần các loài nấm gây bệnh do
mọt mang theo và các biện pháp phòng trừ để có
giải pháp quản lý hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. N. M. Chi, N. P. Nhung, T. T. Trang, P. Q. Thu,
T. X. Hinh, N. V. Nam, D. N. Quang, B. Dell, 2019.
“First report of wilt disease in Dalbergia tonkinensis
caused by Ceratocystis manginecans”. Australasian
Plant Pathology, 48(5).
2. Chính phủ, 2006. Nghị định số 32/2006/NĐ-CP
ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.
3. Coleman, T. W., Poloni, A. L., Chen, Y., Thu, P.
Q., Li, Q., Sun, J., ... & Seybold, S. J. (2019).
Hardwood injury and mortality associated with two shot
hole borers, Euwallacea spp., in the invaded region of
southern California, USA, and the native region of
Southeast Asia. Annals of Forest Science, 76(3), 61.
4. Eichhoff, W. J., 1878. Neue oder noch
unbeschriebene Tomicinen. Entomologische Zeitung,
Stettin, 39(7-9), 383-392.
5. Hulcr, J., & Cognato, A. I., 2013. Xyleborini of
New Guinea, a taxonomic monograph (coleoptera:
curculionidae: scolytinae). Entomological Society of
America.
6. Kasson, M. T., O’Donnell, K., Rooney, A. P.,
Sink, S., Ploetz, R. C., Ploetz, J. N., ... & Smith, J. A.,
2013. An inordinate fondness for Fusarium:
phylogenetic diversity of fusaria cultivated by
ambrosia beetles in the genus Euwallacea on
avocado and other plant hosts. Fungal Genetics and
Biology, (56), 147-157.
7. Kumar, R., Rajkhowa, G., Sankar, M., Rajan,
R.K., 2011. A new host plant for the shoot-hole borer,
Euwallacea fornicatus (Eichoff) (Coleoptera:
Scolytidae) from India. Acta Entomol. Sinicia, (54),
734-738.
8. Nhung, N.P., Thu, P.Q., Dell, B. and Chi, N.M.,
2018. “First report of canker disease in Dalbergia
tonkinensis caused by Fusarium lateritium and
Fusarium decemcellulare”. Australasian Plant
Pathology, 47(3): 317-323.
9. Nông Phương Nhung, Phạm Quang Thu,
Bernard Dell, Nguyễn Minh Chí, 2019. Nghiên cứu
hiện trạng gây trồng cây Sưa tại phía Bắc Việt Nam.
Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, 2.
10. Parthiban, M. and Muranleedharan, N., 1996.
Biology of the shot hole borer Euwallacea fornicatus
(Eich.) of tea. J. Plantn.Crops, (24), 319-329.
11. Trần Thị Thanh Tâm, 2019. “Nghiên cứu đặc
điểm sinh học, sinh thái học và biện pháp phòng
chống bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây
hại Keo tai tượng tại tỉnh Thái Nguyên”, Luận án tiến
sỹ Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,
131 trang.
12. Phạm Quang Thu, 2016a. Kết quả nghiên cứu
thành phần sâu, bệnh hại một số loài cây trồng rừng
chính tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (1),
4257-4264.
13. Phạm Quang Thu, 2016b. Mọt Euwallacea
fornicatus đục thân keo ở Việt Nam. Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, (7), 110-113.
14. Vĩnh Phúc, 2013. Thông báo của tỉnh Vĩnh
Phúc số 132/TB-TTDVBĐGTS ngày 17/6/2013 về việc
bán đấu giá tài sản nhà nước.
Phản biện: TS. NCVCC. Nguyễn Văn Liêm
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ghi_nhan_ban_dau_ve_mot_duc_than_gay_hai_cay_sua_o_viet_nam.pdf