KẾT LUẬN
Các nguồn lực tự nhiên, con người, xã hội,
tài chính và vật chất trong cộng đồng cư dân
vùng đệm VQG Bù Gia Mập đều tồn tại rất
nhiều hạn chế. Đặc biệt, hầu hết các nông hộ
phụ thuộc vào nguồn lực tự nhiên bao gồm đất
sản xuất nông nghiệp và các LSNG từ rừng tự
nhiên. Đồng bào S’tiêng và M’nông phụ thuộc
vào LSNG hơn đồng bào Kinh. Nếu sử dụng
nguồn lực này không bền vững sẽ tác động
xấu đến môi trường và tài nguyên ĐDSH.
Nguồn lực con người dồi dào nhưng không có
tay nghề, chỉ là lao động thời vụ giản đơn. Có
sự phân cực giàu nghèo rất lớn trong cộng
đồng, giữa đồng bào Kinh và đồng bào thiểu
số bản địa.
Một số giải pháp nhằm tạo chiến lược sinh
kế bền vững, góp phần bảo tồn bền vững tài
nguyên ĐDSH cho VQG Bù Gia Mập đã được
đề xuất. Các giải pháp cần được thực hiện
đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội; sử
dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên và nguồn lực
tài chính. Chú trọng công tác chuyển đổi sinh
kế cho các hộ đồng bào thiểu số S’tiêng và
M’nông, hộ nghèo, hộ không có đất hay bị
giảm diện tích đất sản xuất. Quy hoạch diện
tích trồng LSNG đáp ứng nhu cầu cho đồng
bào bản địa. Đặc biệt, các xã cần nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực địa phương bao gồm
trình độ học vấn, kỹ thuật sản xuất nông
nghiệp và kiến thức thị trường cho cư dân. Các
giải pháp cần được áp dụng cụ thể trên mỗi
nhóm hộ với những điều kiện kinh tế khác
nhau, đảm bảo hài hòa giữa các yếu tố tự nhiên
và xã hội, lồng ghép công tác bảo tồn vào kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng xã
vùng đệm.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp sinh kế bền vững gắn với bảo tồn đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Bù Gia Mập, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lâm học
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 53
GIẢI PHÁP SINH KẾ BỀN VỮNG GẮN VỚI BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC Ở VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP
Đinh Thanh Sang1, Phạm Thị Vân2
1Trường Đại học Thủ Dầu Một
2Trường Trung cấp Nông Lâm nghiệp Bình Dương
TÓM TẮT
Bằng việc sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phỏng vấn nông hộ, nghiên cứu
đã đánh giá thực trạng sinh kế của cư dân vùng đệm Vườn quốc gia (VQG) Bù Gia Mập gắn với công tác quản
lý và bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của cư dân rất thấp,
khoảng 86,7% số nông hộ có thu nhập chủ yếu dựa vào nguồn lực tự nhiên bao gồm đất sản xuất nông nghiệp
và các lâm sản ngoài gỗ (LSNG) như củi, rau rừng, măng, hạt ươi, nấm, lan, mật ong, động vật rừng. Đồng bào
dân tộc bản địa S’tiêng và M’nông phụ thuộc vào LSNG hơn đồng bào Kinh (Pearson Chi-Square, p = 0,000).
Các LSNG khai thác được chủ yếu cho gia đình sử dụng. Ngược lại, diện tích đất trung bình mỗi nông hộ của
dân tộc Kinh cao gần gấp hai lần của đồng bào bản địa. Vì vậy, nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp nhằm tạo
sinh kế bền vững, góp phần bảo tồn bền vững tài nguyên đa dạng sinh học ở VQG Bù Gia Mập. Trong đó, cần
đẩy mạnh đầu tư nguồn lực vật chất, nâng cao nguồn lực xã hội và chất lượng nguồn nhân lực, sử dụng hiệu
quả nguồn lực tài chính và bền vững tài nguyên thiên nhiên. Đặc biệt, cần quy hoạch diện tích trồng những
LSNG mang tính truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng cho đồng bào bản địa.
Từ khóa: Đa dạng sinh học, người dân địa phương, sinh kế bền vững, vùng đệm, Vườn quốc gia Bù Gia Mập.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuật ngữ “Sinh kế bền vững” bắt đầu được
quan tâm đến trong những năm đầu thập niên
80 của thế kỷ trước bởi Chambers (Chambers,
1983). Từ đó, thuật ngữ này được nhiều học
giả nghiên cứu và liên tục phát triển cho tới
ngày nay (Chambers & Conway, 1992; Dinh
Thanh Sang, 2006; Dinh Thanh Sang et al.
2010 & 2012; Nguyễn Danh & Nguyễn Văn
Vũ, 2012; Rahman, 2014; Phạm Thị Vân,
2019). Sinh kế bền vững bao gồm con người,
năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực,
thu nhập và tài sản của họ (Chambers &
Conway, 1992). Theo Bộ phát triển Quốc tế
Anh [DFID] (1999), khung sinh kế bền vững
của người dân được chia làm 5 nguồn lực
chính, đó là: nguồn lực con người, nguồn lực
tự nhiên, nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
chất và nguồn lực xã hội. Cư dân vùng đệm là
một trong những bên liên quan quan trọng có
lợi ích hay chịu ảnh hưởng từ các chính sách
liên quan đến nhiều loại tài nguyên tự nhiên
trong rừng đặc dụng. Theo đó, sinh kế cư dân
vùng đệm có vai trò rất quan trọng trong quản
lý, bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH)
trong vùng lõi của vườn quốc gia. Sinh kế bền
vững góp phần giảm thiểu tác động xấu lên tài
nguyên rừng tự nhiên, đáp ứng được yêu cầu
bảo tồn ĐDSH, sử dụng bền vững lâm sản và
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Vùng đệm có diện tích 18.038 ha, nằm trên
địa bàn hành chính 2 xã của huyện Bù Gia
Mập, tỉnh Bình Phước và xã Quảng Trực của
huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Có 17 dân tộc
với những nét văn hóa khác nhau cùng sinh
sống ở vùng đệm, trong đó chủ yếu là đồng
bào S’tiêng, M’nông và Kinh. Cuộc sống của
người dân vùng đệm vẫn còn lệ thuộc nhiều
vào khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên trong
vùng lõi của VQG. Tuy vậy, sinh kế của người
dân trong vùng đệm VQG Bù Gia Mập vẫn
chưa được nghiên cứu và hiểu biết đầy đủ.
Đánh giá thực trạng sinh kế của cư dân vùng
đệm, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển sinh
kế bền vững gắn với công tác bảo tồn bền vững
tài nguyên ĐDSH tại VQG Bù Gia Mập là thực
sự cần thiết và là mục tiêu của nghiên cứu này.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu đặt ra, bộ công cụ
đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) là
phương pháp tiếp cận nghiên cứu chính. Có
180 hộ dân của 9 thôn ở các xã vùng đệm Bù
Gia Mập và Đắk Ơ thuộc tỉnh Bình Phước, xã
Quảng Trực thuộc tỉnh Đắk Nông đã được
Lâm học
54 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
khảo sát. Các hoạt động sinh kế của cư dân địa
phương của những xã này gắn liền với tài
nguyên ĐDSH của VQG Bù Gia Mập. Tiêu
chí quan trọng chọn thôn nghiên cứu là phải ở
trong xã thuộc vùng đệm của VQG, có khả
năng tiếp cận, địa hình thuận lợi và kinh tế các
hộ gia đình trong thôn phụ thuôc vào rừng
nhiều nhất.
Tiêu chí phân chia nhóm hộ gồm: Hộ nghèo
ở khu vực nghiên cứu là những gia đình có
diện tích đất nông nghiệp dưới 1,7 ha, nhiều
hộ không có đất sản xuất, nhiều lao động phải
làm thuê; thường thiếu đói từ 1 đến 4 tháng
trong năm. Hộ khá có diện tích đất bình quân
khoảng 1,7 đến 4,5 ha, có nhiều vật nuôi và
không phải chịu cảnh thiếu đói. Hộ gia đình
giàu chuyên canh các loại cây mang lại lợi
nhuận cao như cao su, cà phê và điều; năng
suất canh tác cao; diện tích đất trên 4,5 ha.
Những thông tin chính được thu thập bao
gồm: thông tin cơ bản và các nguồn sinh kế
chủ yếu của các hộ được phỏng vấn như nhân
lực, vật lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực tự
nhiên và nguồn lực xã hội.
Phương pháp thống kê mô tả trong Excel
được sử dụng để tổng hợp, tính toán các số
liệu về nông hộ. Pearson's chi-square test
(SPSS) được sử dụng cho việc xử lý và phân
tích số liệu.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khái quát về cư dân vùng đệm
Tổng dân số vùng đệm VQG Bù Gia Mập
hiện có 8.860 hộ với 35.520 người. Ba nhóm
dân tộc chủ yếu là S’tiêng chiếm 27,3%,
M’Nông chiếm 15,9% và 44% là dân tộc Kinh.
Người dân các xã vùng đệm đang trong quá
trình chuyển đổi từ các hệ thống sản xuất tự
cung tự cấp theo truyền thống sang sản xuất
hàng hóa. Biểu hiện cơ bản của sự chuyển đổi
này là sự xuất hiện của các sản phẩm như điều,
tiêu và cà phê, đóng góp chủ yếu trong tổng
thu nhập của mỗi nông hộ. Các loại hoa màu
ngắn ngày khác chỉ có ý nghĩa đối với an ninh
lương thực tại địa phương.
Hình 1. Biểu đồ thu nhập trung bình của các nhóm dân tộc chính vùng đệm
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nguồn thu
nhập trung bình của cư dân vùng đệm từ canh
tác nông nghiệp (chiếm 65,8%), khai thác tài
nguyên rừng (26,1%), nhận giao khoán rừng
(5,7%), làm thuê (2,4%). Đồng bào Kinh có
thu nhập từ nông nghiệp chiếm tỉ lệ rất cao
(84,7%), đồng bào S’tiêng và M’nông chỉ
chiếm hơn một nữa tổng thu nhập (55,7% và
56,9%) (Hình 1). Ngược lại, hai nhóm đồng
bào bản địa lại có thu nhập từ rừng chiếm tỉ lệ
khá cao: S’tiêng 33,9% và M’nông 32,2%. Họ
tham gia nhận giao khoán bảo vệ rừng cao hơn
nhiều so với người Kinh: S’tiêng 7,6% và
M’nông 7,2% và Kinh 2,2%. Nhìn chung, các
Lâm học
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 55
hoạt động tham gia quản lý và bảo vệ rừng đóng
góp một phần rất nhỏ trong tổng thu nhập của
các nông hộ. Vì vậy, hoạt động tham gia quản
lý và bảo vệ rừng chưa thật sự là một lựa chọn
mang tính thuyết phục với cư dân vùng đệm.
3.2. Nguồn nhân lực
Kết quả nghiên cứu cho thấy dân số vùng
đệm VQG Bù Gia Mập là dân số trẻ, có lực
lượng lao động khá dồi dào. Trong đó, độ tuổi
lao động chính là từ 19 đến 55 tuổi. Độ tuổi
được cho là lao động phụ từ 16 đến 18 tuổi
nhưng trong thực tế đây cũng là nguồn lao động
chính trong mỗi gia đình vì họ tham gia vào các
hoạt động sản xuất nông nghiệp. Thu nhập từ
lao động làm thuê chiếm trung bình 2,4% trong
tổng thu nhập. Tất cả lao động làm thuê ở đây
đều phục vụ trong sản xuất nông nghiệp.
Chất lượng nguồn nhân lực vùng đệm VQG
Bù Gia Mập thấp. Phần lớn cư dân được học
bậc tiểu học (46,1%), cấp trung học cơ sở là
30,7%. Số lượng người học ở bậc trung học
phổ thông rất ít (6,0%) vì nhiều nguyên nhân
khác nhau như nghèo, trường học xa nhà,
không có nhu cầu đi học vì không thấy cần
thiết. Trong đó, có tới 17,2% số người được
phỏng vấn không biết chữ. Đồng bào S’tiêng
có tỷ lệ mù chữ cao nhất (45,2% trong tổng số
người được phỏng vấn không biết chữ), kế đến
là đồng bào M’nông (38,7%) và đồng bào
Kinh (16,1%). Người dân không muốn đi xa
nhà để học nghề và ít người muốn học các
ngành nghề truyền thống như đan lát, dệt thổ
cẩm, đan gùi. Do đó, khả năng thu nhập từ phi
nông nghiệp là rất khó khăn. Đây là những
thách thức cho việc chuyển đổi sinh kế cũng
như công tác tuyên truyền bảo tồn tài nguyên
ĐDSH của VQG.
Hầu hết các hộ S’tiêng và M’nông đều có
khả năng nói tiếng quốc ngữ. Người dân lớn
tuổi có khả năng giao tiếp bằng tiếng quốc ngữ
kém nên cũng làm hạn chế khả năng tiếp cận
các kiến thức về khoa học kỹ thuật và cập nhật
các thông tin về kinh tế, văn hóa, xã hội. Mặt
khác, học sinh ở đây độ tuổi đi học cũng là độ
tuổi giúp gia đình tăng gia sản xuất nên thường
đi học không đều, hay bỏ học giữa chừng, rất
khó cho việc phổ cập giáo dục. Vì thế, vấn đề
nhận thức về bảo tồn tài nguyên ĐDSH của
người dân địa phương còn rất thấp.
Số lượng người được đào tạo nghề thông
qua trường lớp như trung cấp nghề hay các
trường cao đẳng, đại học trong xã rất hiếm.
Điều này cũng lý giải tại sao người dân ở ba xã
vùng đệm Đăk Ơ, Bù Gia Mập, Quảng Trực
không phát triển được dịch vụ, năng suất lao
động thấp. Bên cạnh đó, số lượng người quan
tâm đến các ngành nghề truyền thống như đan
lát, dệt thổ cẩm, làm rượu cần cũng ngày càng
mai một do giới trẻ đều không muốn tham gia
các hoạt động này cùng với nguồn nguyên liệu
ngày càng khó khai thác. Đối với các hộ theo
đạo Tin Lành không cho phép người dân làm
rượu cần và uống rượu cần nên nghề làm rượu
cần không còn tồn tại, nếu còn cũng chỉ phục
vụ cho gia đình uống trong các dịp lễ.
3.3. Nguồn vật lực
Trong nghiên cứu này, nguồn vật lực được
chia làm hai loại: Tài sản của cộng đồng và tài
sản của hộ gia đình. Tài sản của cộng đồng là cơ
sở hạ tầng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
Tài sản của hộ bao gồm tài sản phục vụ sản xuất
và tài sản phục sinh hoạt trong gia đình.
Trước đây khi chưa có con đường ĐT 741 ở
vùng biên giới, đời sống người dân sống dựa
vào rừng là chủ yếu, kinh tế hộ gia đình khó
khăn và gặp nhiều dịch bệnh. Sau khi có các
chương trình lớn của Nhà nước, người dân đã
xóa bỏ nhà tạm, đời sống khá lên vì có điều
kiện tiếp cận với kỹ thuật canh tác và tiếp cận
thị trường dễ hơn. Về lâu dài, các chương trình
phát triển cơ sở hạ tầng hay phát triển kinh tế
xã hội vùng đệm cần tính đến cả việc bảo tồn
văn hóa thì chương trình mới bền vững và bảo
tồn sẽ song hành với phát triển.
Các chương trình làm nhà và xây dựng hạ
tầng nông thôn đã làm thay đổi cuộc sống của
cộng đồng cư dân vùng đệm. Đời sống người
dân từng bước được cải thiện vì tiếp cận dễ
dàng với kỹ thuật, thị trường, các thông tin
thông qua đài phát thanh, truyền hình. Mặt trái
của vấn đề là văn hóa truyền thống của đồng
bào bản địa đang dần bị phai nhạt, nhiều gia
Lâm học
56 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
đình không còn ở nhà sàn và giới trẻ không
còn giữ được nét truyền thống của cộng đồng.
100% các hộ được phỏng vấn sử dụng công cụ
lao động thô sơ, chưa áp dụng cơ giới hóa vào
sản xuất. Nhìn chung, cơ sở hạ tầng vẫn còn
lạc hậu; hệ thống giao thông độc đạo và chất
lượng thấp. Không có các cơ sở chế biến sau
thu hoạch cho các sản phẩm cây trồng trong
vùng. Các giống cây trồng tại địa phương có
năng suất thấp.
3.4. Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính hay vốn tài chính của
cư dân vùng đệm VQG Bù Gia Mập là nguồn
vốn tự có, vay ngân hàng hay vay của người
thân, bạn bè. Những hộ nghèo và hộ tham gia
khoán bảo vệ rừng được vay vốn từ ngân hàng
hay quỹ tín dụng với chính sách ưu đãi để đầu
tư cho sản xuất nông lâm nghiệp, có tới 62%
số hộ vay vốn sản xuất nhưng không có hiệu
quả. Nhiều hộ đồng bào dân tộc bản địa vay
xong không đầu tư sản xuất mà sử dụng cho
mục đích tiêu dùng. Hậu quả là phải bán dần
đất sản xuất để trả nợ. Hơn nữa, 100% hộ được
vay cho rằng nguồn vốn được vay là rất thấp so
với nhu cầu thực tế. Mặt khác, giá tiêu thụ sản
phẩm không ổn định, tư thương ép giá do đây
là vùng xa, quãng đường vận chuyển dài.
Chính quyền địa phương cũng chưa tìm ra
được giải pháp thích hợp để người dân sử dụng
vốn vay hiệu quả và tìm thị trường ổn định cho
nông sản địa phương.
3.5. Nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên của cư dân vùng đệm
VQG Bù Gia Mập chủ yếu từ đất sản xuất
nông nghiệp và tài nguyên ĐDSH từ rừng tự
nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy 86,7% số
nông hộ có thu nhập chủ yếu dựa vào nguồn
lực tự nhiên. Nguồn thu từ hoạt động trồng trọt
chủ yếu là thu nhập từ trồng điều, tiêu, cà phê
và chăn nuôi là cao nhất - chiếm 65,8%. Kế
đến là thu nhập từ các lâm sản từ rừng tự
nhiên, bao gồm củi, rau rừng, nấm, măng, mật
ong, cây cảnh, động vật rừng - chiếm 26,1%
(Hình 1). Điều đó chứng tỏ tiềm năng và vai
trò khó thay thế của nông, lâm nghiệp trong
đời sống của người dân vùng đệm.
Trước đây, phá rừng để mở đất nương, rẫy
là một trong các nguyên nhân chính làm diện
tích rừng trong vùng bị suy giảm. Công tác
phân định ranh giới đất giữa nông nghiệp và
lâm nghiệp trên địa bàn cũng chưa hoàn thiện
nên gây không ít khó khăn cho đơn vị chủ rừng
trong công tác quản lý bảo vệ rừng. VQG Bù
Gia Mập kiên quyết giải tỏa đất lấn chiếm vào
rừng bên phía vườn, người dân bị giải tỏa
không còn tái phạm. Có 23,9% số hộ bị giảm
diện tích đất sản xuất nông nghiệp và 13,3%
không có loại đất này. Tất cả các hộ này đều là
đồng bào dân tộc S’tiêng và M’nông. Nguyên
nhân chủ yếu là do đất lâm nghiệp lấn chiếm bị
thu hồi hoặc người dân bán dần. Đây là những
nguyên nhân gây phân hóa giàu, nghèo và làm
thay đổi sinh kế, một số hộ từ người sản xuất
nông nghiệp trở thành người làm thuê sau khi
phải bán đất. Diện tích đất trung bình một hộ
đồng bào Kinh 3,7 ha, trong khi đó đồng bào
dân tộc S’tiêng và M’nông là 2,1 ha.
Khai thác LSNG mang lại nguồn thu nhập
đáng kể cho các hộ nghèo. Mặt khác, các loài
LSNG được sử dụng làm thực phẩm như lá
nhíp, đọt mây, măng, nấm để phục vụ cho
bữa ăn hàng ngày, có vai trò rất quan trọng đối
với cuộc sống của các hộ đồng bào dân tộc thiểu
số. Đồng bào dân tộc bản địa S’tiêng và
M’nông phụ thuộc vào LSNG hơn đồng bào
Kinh (Pearson Chi-Square, p = 0,000) (Bảng 1).
Bảng 1. Mối liên hệ giữa thành phần dân tộc với mức độ thu hái LSNG
Kiểm định Chi bình phương
Giá trị df Asymp. Sig. (2-sided)
Chi bình phương Pearson 42.572a 4 .000
Tỷ số khả dĩ 50.406 4 .000
Liên hệ tuyến tính giữa 2 biến 32.577 1 .000
Tổng số mẫu (giá trị) hợp lệ 180
a. Không có ô nào có giá trị mong đợi dưới 5. Giá trị mong đợi tối thiểu là 6.18
Lâm học
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 57
3.6. Nguồn lực xã hội
Từ khi thành lập VQG Bù Gia Mập năm
2002, 100% các hộ tham gia khoán bảo vệ
rừng có sự hợp tác về trao đổi thông tin bảo
tồn, được học hỏi các tiến bộ kỹ thuật thông
qua các lớp tập huấn hoặc các cuộc họp. Có
41% số hộ tiếp cận được các thông tin về kỹ
thuật, chính sách và các văn bản qui định của
Nhà nước trong quản lý bảo vệ rừng. Tuy
nhiên, các nông hộ vẫn chưa áp dụng sản xuất
theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP,
nông nghiệp hữu cơ do chưa được địa phương
tập huấn hay học hỏi từ nguồn khác. Các hộ
trong mẫu nghiên cứu vẫn chưa được tham gia
vào hoạt động du lịch sinh thái của VQG Bù
Gia Mập.
Tất cả 100% số hộ tự tích lũy dần thông tin,
kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp hay
thu hái các loại lâm sản. Đặc biệt, đồng bào
S’tiêng và M’nông vẫn lưu giữ được nét văn
hóa truyền thống, mỗi làng có một già làng, là
người uy tín để quyết định các vấn đề quan
trọng của làng. Đây là thế mạnh cần được phát
huy trong công tác tạo sinh kế bền vững, du
lịch sinh thái và bảo tồn ĐDSH. Tuy nhiên,
văn hóa truyền thống bị xói mòn cũng làm mất
dần các tri thức địa phương và khả năng của
người dân trong việc phát triển các hoạt động
dịch vụ du lịch sinh thái. Thông qua nguồn lực
xã hội, người dân vùng đệm có nhiều hình thức
hợp tác như làm rẫy vần công (làm giúp công
lao động qua lại), góp vốn sản xuất, trao đổi
thông tin và kinh nghiệm sản xuất, giúp tiêu
thụ nông sản. Ngoài ra, cư dân vùng đệm còn
có các mối quan hệ hợp tác khác như người họ
hàng (86,1%), người hàng xóm (56,1%), bạn
bè (33,9%). Có 18,9% lấy các thông tin từ
truyền thông. Tuy nhiên, tập quán canh tác vẫn
còn lạc hậu là rào cản cho việc cải thiện thu
nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư
dân vùng đệm. Ngoài ra, hệ thống sản xuất
nông nghiệp ở địa phương này vẫn mang tính
nhỏ lẻ, manh mún, chưa xây dựng được mô
hình hợp tác xã cho các nông hộ.
3.7. Đánh giá chung về hiệu quả sinh kế
Thu nhập bình quân của cư dân vùng đệm là
2.400.000 đồng/người/năm. Tập quán canh tác
của cư dân với phương thức sản xuất độc canh,
lạc hậu, sản phẩm thô, bấp bênh về giá cả,
công cụ lao động thô sơ, vốn đầu tư hạn chế.
Hộ nghèo chiếm 60,6%, trong đó hộ nghèo là
đồng bào thiểu số bản địa chiếm 56,1%, hộ
đồng bào Kinh chiếm chỉ 16,1%. Các hộ gia
đình nghèo chủ yếu là làm thuê hoặc sản xuất
nông nghiệp, nhiều hộ không có đất sản xuất
(13,3% và đều là đồng bào thiểu số bản địa
S’tiêng và M’nông). Người S’tiêng và M’nông
thuộc nhóm dân tộc nghèo nhất trong tổng số
các nhóm dân tộc vùng đệm. Có rất ít hộ có
hoạt động chăn nuôi, có xu hướng gặp phải
tình trạng thiếu đói từ tháng 12 tới tháng 3 năm
sau. Trong thời gian này họ vào rừng để kiếm
các LSNG bổ sung cho những thiếu hụt đó.
Hộ gia đình khá chiếm 37,2%, chủ yếu là
làm nông nghiệp. Loài cây được trồng là khoai
mì, cao su, cà phê và điều. Có nhiều vật nuôi
và không phải chịu cảnh thiếu đói. Bên cạnh
việc làm nông nghiệp họ còn tham gia đánh bắt
thủy sản và thu hái LSNG khác.
Hộ gia đình giàu chiếm 2,2%, trong đó Kinh
1,1%, M’nông 1,1%. Tập trung canh tác các
loại cây mang lại lợi nhuận cao: Cao su, Cà
phê và Điều. Năng suất canh tác của các hộ gia
đình này cao hơn một cách đáng kể so với hộ
gia đình nghèo và hộ khá, diện tích đất bình
quân của mỗi hộ giàu khoảng 8,3 ha.
Nói chung, các nguồn lực tự nhiên, con
người, xã hội, tài chính, và vật chất trong cộng
đồng cư dân vùng đệm VQG Bù Gia Mập đều
tồn tại rất nhiều hạn chế (Bảng 2). Sinh kế của
nhiều hộ dân không ổn định và kém bền vững.
Đặc biệt, hầu hết cư dân chủ yếu phụ thuộc vào
nguồn lực tự nhiên bao gồm đất sản xuất nông
nghiệp và các LSNG. Hơn nữa, đồng bào bản
địa không thể thiếu nguồn LSNG cho gia đình
sử dụng hàng ngày.
Lâm học
58 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
Bảng 2. Nguyên nhân và hậu quả của hiện trạng sinh kế không bền vững
TT Nguyên nhân Hậu quả cấp 1 Hậu quả cấp 2
1 Tập quán canh tác lạc lậu
Khó chuyển đổi cây trồng, vật nuôi Thu nhập thấp
Thoái hoá đất Năng suất canh tác thấp
2 Thiếu đất sản xuất
Phá rừng
Mất đa dạng sinh học
Phát sinh tệ nạn xã hội
Thiếu việc làm
Di cư
3 Thiếu phương tiện sản xuất
Trễ thời vụ
Phụ thuộc tài nguyên rừng
nhiều hơn
Hiệu quả thấp
4 Thiếu vốn sản xuất
Bán đất
Năng suất thu hoạch thấp
5 Nhận thức hạn chế
Khó áp dụng khoa học kỹ thuật Thu nhập thấp
Khó áp dụng các chính sách Dễ bị tác động tiêu cực
6 Mất thu nhập từ rừng
Thay đổi nghề nghiệp Khó phát triển du lịch
sinh thái Làm thuê
7 Lịch sử, văn hóa khác nhau Dễ mâu thuẫn Khó áp dụng các chính sách
Hình 2. Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý và sử dụng lâm sản ở
VQG Bù Gia Mập - Sơ đồ Venn
Hình 2 cho thấy ảnh hưởng và tầm quan
trọng của các bên là khác nhau nhưng đều có
mối liên hệ với nhau để cùng thực hiện chức
năng quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên
rừng. Tương tự trường hợp ở VQG Kon Ka
Kinh (Nguyễn Danh & Nguyễn Văn Vũ,
2012), cộng đồng cư dân vùng đệm và ban
quản lý VQG Bù Gia Mập là hai thành phần có
ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất đến tài
nguyên rừng. Các hộ gia đình vùng đệm phụ
Lâm học
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 59
thuộc lớn vào tài nguyên rừng. Là nguyên nhân
chính tạo ra sự xung đột giữa cư dân với nhiều
bên liên quan như ban quan lý VQG, kiểm lâm,
tổ quản lý và bảo vệ rừng.
3.8. Đề xuất giải pháp sinh kế bền vững
Các xã vùng đệm cần đẩy mạnh đầu tư
nguồn lực vật chất, gấp rút quy hoạch vùng chế
biến sau thu hoạch cho các nông sản như điều,
tiêu, cà phê được cư dân vùng đệm sản xuất.
Đảm bảo ổn định giá nông sản và tạo chuỗi giá
trị gia tăng cho các sản phẩm địa phương.
Nâng cấp chất lượng các công trình giao thông
và mở thêm các tuyến giao thương giữa vùng
đệm VQG Bù Gia Mập với trung tâm của
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Cần nâng cao nguồn lực xã hội thông qua
việc thúc đẩy việc xây dựng các mô hình hợp
tác xã cho các nông hộ. Tìm cơ hội kết nối với
các doanh nghiệp phân phối. Điều này tránh bị
tư thương ép giá, có cơ hội xây dựng nên
thương hiệu cho các sản phẩm đặc trưng cho
vủng. Định hướng sản xuất an toàn và địa
phương tạo điều kiện cấp giấy chứng nhận sản
xuất nông sản an toàn. Kêu gọi, ưu đãi hợp tác
đầu tư vào nông nghiệp nhằm tạo chuỗi giá trị
gia tăng cho địa phương. Các xã vùng đệm cần
thành lập các tổ cung ứng lao động, làm đầu
mối tìm việc làm cho các hộ không có hoặc
thiếu đất sản xuất, dư thừa lao động, ưu tiên hộ
nghèo và đồng bào S’tiêng và M’nông.
Cần tiến hành sớm việc tập huấn cho người
dân vùng đệm sản xuất theo các tiêu chuẩn
VietGAP, GlobalGAP, nông nghiệp hữu cơ.
Từ đó, tăng năng suất, tạo nên các sản phẩm
chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu xuất
khẩu. Các xã vùng đệm cần vận dụng linh hoạt
việc tích tụ ruộng đất, xây dựng các “cánh
đồng mẫu lớn”, tạo vùng chuyên canh cây
trồng. Giải pháp này không những tạo ra chuỗi
giá trị gia tăng mà còn góp phần giải quyết
việc làm cho các hộ không có đất sản xuất, hộ
nghèo và dư thừa lao động.
Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn
khuyến nông, khuyến lâm nhằm nâng cao kỹ
thuật canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp,
chuyển giao công nghệ, thâm canh tăng năng
suất, cập nhật nhu cầu và các thông tin thị
trường cho cư dân vùng đệm VQG Bù Gia
Mập. Đặc biệt, hướng dẫn cho các nông hộ
cách bảo quản, sơ chế nông sản nhằm đáp ứng
được chất lượng sản phẩm. Cần phổ cập giáo
dục tiểu học, tiến tới xóa mù chữ cho cư dân
địa phương.
Địa phương cần nghiên cứu các quy định
ràng buộc các hộ vay sử dụng đúng mục đích
các khoản vay ưu đãi phát triển kinh tế. Cần
nâng mức cho vay vốn đối với các nông hộ.
VQG Bù Gia Mập cần ưu tiên sử dụng
nguồn lao động từ các hộ nghèo đổng bào
S’tiêng và M’nông vùng đệm tham gia vào
hoạt động du lịch sinh thái.
VQG Bù Gia Mập và các xã cần quy hoạch
các thiết lập các diện tích rừng phục hồi sau
nương rẫy để trồng những loài LSNG bản địa
mang đậm nét giá trị văn hóa đồng bào S’tiêng
và M’nông và có giá trị kinh tế cao, phát huy
thế mạnh địa phương và tham gia vào chuỗi
giá trị hàng hóa cho Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam. Đồng thời gắn với cơ chế ưu tiên sự
tham gia và chia sẻ lợi ích hợp lý cho đồng bào
dân tộc bản địa. Ưu tiên những hộ gia đình
đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ không
có đất hay bị giảm diện tích đất sản xuất tham
gia khoán bảo vệ rừng, tổ khai thác LSNG và
tham gia hợp phần sinh kế bền vững.
Quy hoạch sử dụng các loại đất phải gắn với
mục tiêu sinh kế bền vững cho cư dân vùng
đệm - đặc biệt chú ý đến đồng bào S’tiêng và
M’nông, đồng thời bảo tồn ĐDSH và phát triển
bền vững nguồn lực tự nhiên, đặc biệt là vùng
lõi VQG Bù Gia Mập.
4. KẾT LUẬN
Các nguồn lực tự nhiên, con người, xã hội,
tài chính và vật chất trong cộng đồng cư dân
Lâm học
60 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
vùng đệm VQG Bù Gia Mập đều tồn tại rất
nhiều hạn chế. Đặc biệt, hầu hết các nông hộ
phụ thuộc vào nguồn lực tự nhiên bao gồm đất
sản xuất nông nghiệp và các LSNG từ rừng tự
nhiên. Đồng bào S’tiêng và M’nông phụ thuộc
vào LSNG hơn đồng bào Kinh. Nếu sử dụng
nguồn lực này không bền vững sẽ tác động
xấu đến môi trường và tài nguyên ĐDSH.
Nguồn lực con người dồi dào nhưng không có
tay nghề, chỉ là lao động thời vụ giản đơn. Có
sự phân cực giàu nghèo rất lớn trong cộng
đồng, giữa đồng bào Kinh và đồng bào thiểu
số bản địa.
Một số giải pháp nhằm tạo chiến lược sinh
kế bền vững, góp phần bảo tồn bền vững tài
nguyên ĐDSH cho VQG Bù Gia Mập đã được
đề xuất. Các giải pháp cần được thực hiện
đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội; sử
dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên và nguồn lực
tài chính. Chú trọng công tác chuyển đổi sinh
kế cho các hộ đồng bào thiểu số S’tiêng và
M’nông, hộ nghèo, hộ không có đất hay bị
giảm diện tích đất sản xuất. Quy hoạch diện
tích trồng LSNG đáp ứng nhu cầu cho đồng
bào bản địa. Đặc biệt, các xã cần nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực địa phương bao gồm
trình độ học vấn, kỹ thuật sản xuất nông
nghiệp và kiến thức thị trường cho cư dân. Các
giải pháp cần được áp dụng cụ thể trên mỗi
nhóm hộ với những điều kiện kinh tế khác
nhau, đảm bảo hài hòa giữa các yếu tố tự nhiên
và xã hội, lồng ghép công tác bảo tồn vào kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng xã
vùng đệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chambers R. (1983). Rural development: Putting
the last first. Longman Scientific &Technical, the United
States of America with John Wiley & Sons, Inc., New
York. 235.
2. Chambers R. & Conway G.R. (1992). Sustainable
rural livelihoods: practical concepts for the 21st century.
IDS. 296.
3. Chính phủ nước CHXNCN Việt Nam (2012).
“Quyết định Về việc chuyển khu bảo tồn thiên nhiên Bù
Gia Mập thành Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình
Phước.”, số 170/2002/QĐ-TTg ngày 27/11/2002. Hà
Nội, Việt Nam.
4. Chính phủ nước CHXNCN Việt Nam (2015).
Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 9/9/2015 về cơ chế,
chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách
giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc
thiểu số giai đoạn 2015-2020.
5. Dinh Thanh Sang (2006). Interactions between
local people and protected areas: a case study of Cat
Tien Biosphere Reserve, Vietnam. Master thesis,
Dresden University of Technology, Germany.
6. Dinh Thanh Sang, Ogata K., Yabe M. (2010).
Contribution of forest resources to local people’s
income: a case study in Cat Tien Biosphere Reserve,
Vietnam. Journal of the Faculty of Agriculture, Kyushu
University. 55 (2): 397-402.
7. Dinh Thanh Sang, Hyakumura K. & Ogata K.
(2012). Livelihoods and local ecological knowledge in
Cat Tien Biosphere Reserve, Vietnam: Opportunities
and challenges for biodiversity conservation. In: The
Biosphere, Natarajan, I. [Ed.], InTech, Croatia. Chapter
13, 261-284.
8. Department for International Development - DFID
(1999). Sustainable livelihoods guidance sheets.
London, UK.
9. Đinh Thanh Sang (2019a). Tri thức bản địa về sử
dụng thực vật rừng ăn được của đồng bào S’tiêng ở
Vườn quốc gia Cát Tiên. Tạp chí Khoa học Trường Đại
học Cần Thơ. 55 (3B): 8-15.
10. Đinh Thanh Sang (2019b). Tiềm năng và hướng
phát triển bền vững du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia
Bù Gia Mập. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, ISSN 1859-4581. 23/2019.
11. Nguyễn Danh, Nguyễn Văn Vũ (2012). Nghiên
cứu tác động của các hoạt động sinh kế của cộng đồng
dân cư vùng đệm đến tài nguyên rừng Vườn quốc gia
Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai. Tạp chí Khoa học Lâm
nghiệp. 2/2012: 2263-2272.
12. Phạm Thị Vân (2019). Đánh giá vai trò của cộng
đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo tồn
đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập. Luận
văn Thạc sĩ, Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
13. Rahman M.M. (2014). Engaging the extreme
poor people with private sector for livelihood resilience.
American Journal of Rural Development. 2(4):59-67.
Lâm học
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 61
SOLUTIONS TO ENSURE SUSTAINABLE LIVELIHOODS FOR
BIODIVERSITY CONSERVATION IN BU GIA MAP NATIONAL PARK
Dinh Thanh Sang1, Pham Thi Van2
1Thu Dau Mot University
2Binh Duong Unior College of Agriculture and Forestry
SUMMARY
Based on the surveys combining household interviews with Participatory Rural Appraisal (PRA), this paper is
to analyse and assess the local livelihoods for biodiversity conservation in the buffer zone of Bu Gia Map
National Park. The results confirm that the local education levels the study areas were low. About 86.7% of the
surveyed households mainly depended on the natural capital including agricultural land and non timber forest
products such as fire wood, wild edible vegetables, seed of Scaphium macropodum (Miq.) Beumee ex K.
Heyne, mushroom, orchid, wild honey, and wild animals. The indigenous ethnic minorities including S’tieng
and M’nong were far more likely to rely on non timber forest products than Kinh people (Pearson Chi-Square,
p = 0.000). Also, they harvested non timber forest products mainly for self-consumption. Conversely, the
average agricultural land size per Kinh household in the surveyed areas was nearly twice as large as that of
each indigenous ethnic family. Thus, sollutions are proposed for sustainable local livelihoods and biodiversity
conservation in Bu Gia Map National Park. Those include more investment in physical capital, social capital
enhancement, and human resource development, efficient use of financial capital, and sustainable use of natural
resources. In land use planning in the buffer zone of Bu Gia Map National Park, areas of NTFPs reflecting the
indigenous culture should be particularly established soon.
Keywords: Biodiversity, buffer zone, Bu Gia Map National Park, local people, sustainable livelihoods.
Ngày nhận bài : 31/12/2019
Ngày phản biện : 11/02/2020
Ngày quyết định đăng : 18/02/2020
Các file đính kèm theo tài liệu này:
giai_phap_sinh_ke_ben_vung_gan_voi_bao_ton_da_dang_sinh_hoc.pdf