Nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên kết
giữa nông dân và doanh nghiệp
Để thúc đẩy mối liên kết giữa nông dân và
doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn, sự hỗ trợ
mạnh mẽ của Nhà nước là rất quan trọng. Nhà
nước phải là cầu nối giữa HTX và doanh nghiệp,
nhất là trong việc ký kết hợp đồng cung ứng
vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm.
Liên kết ngang giữa nông dân với nhau để
cung cấp sản phẩm theo nhu cầu thị trường mới
là một khía cạnh, là yếu tố “đẩy” trong mô hình
liên kết. Mô hình này cần yếu tố “kéo”, chính là
thị trường tiêu thụ đầu ra mà hoạt động cốt lõi
là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân với
doanh nghiệp. Xây dựng mối liên kết này về bản
chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi
giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung
gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút
ngắn độ dài của kênh tiêu thụ. Nếu không có
liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua
liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong
muốn. Do đó, Nhà nước cần tiếp tục có chính
sách để hình thành và thu hút các tập đoàn tiêu
thụ sản phẩm đa quốc gia, kéo các ngành hàng
của chúng ta vào chuỗi tiêu thụ toàn cầu. Các cơ
quan, ban, ngành ở các tỉnh Tây Nguyên phải tạo
cơ chế, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp
sản xuất và chế biến lớn ở trong nước và quốc
tế đến các tỉnh của mình. Bên cạnh đó, các tỉnh
Tây Nguyên cần tổ chức các hội chợ thương mại
thường niên, tuyên truyền quảng bá các sản
phẩm HTX trên địa bàn mình.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp thúc đẩy phát triển hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ 37
S
Ố
0
3
N
Ă
M
2
0
18
1. Giới thiệu
Tây Nguyên được xác định là một trong
sáu vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Đây
là vùng có nhiều tiềm năng và thế mạnh, đặc
biệt về phát triển nông nghiệp. Tây Nguyên là
địa phương sản xuất nhiều loại nông sản xuất
khẩu chủ lực của nước ta như cà phê, cao su, hồ
tiêu... Sản lượng cà phê của Việt Nam phụ thuộc
phần lớn vào sản lượng của Tây Nguyên, chiếm
hơn 90% tổng diện tích cà phê và chiếm hơn
93% tổng lượng cà phê. Tổng diện tích trồng
cao su ở Tây Nguyên đứng thứ 2 cả nước, chiếm
26% cả nước, sau Đông Nam Bộ. Tây Nguyên là
vùng trồng tiêu lớn nhất Việt Nam (Niên giám
thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017).
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp ở Tây
Nguyên còn chưa ứng dụng khoa học công
nghệ nhiều, qui mô nhỏ lẻ, manh mún, chất
Giải pháp thúc đẩy phát triển hợp tác xã gắn với
chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên
ThS. NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH
Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum
lượng và giá trị thu được chưa cao. Các mặt
hàng nông sản chủ lực như cà phê, hồ tiêu,
cao su, điều chủ yếu được xuất khẩu thô nên
giá trị gia tăng thấp, thu nhập của người nông
dân chưa cao. Hơn nữa, tác nhân sản xuất là
nông dân chưa khẳng định được vị trí và vai trò
mình trong của chuỗi giá trị nông sản do sản
xuất rời rạc, thiếu sự liên kết, chưa hình thành
vùng nguyên liệu sản xuất, giá cả bấp bênh.
Chính vì thế, phát triển hợp tác xã (HTX) gắn
với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên là điều
vô cùng cần thiết.
Xây dựng HTX theo chuỗi giá trị nông sản
sẽ tạo thêm giá trị gia tăng bắt đầu từ khâu sản
xuất nguyên liệu thô tới khi sản phẩm cuối cùng
đến tay người tiêu dùng, giúp tạo ra giá trị tối
đa với chi phí tối thiểu, tạo lợi thế cạnh tranh
trên thị trường, gia tăng lợi nhuận thông qua
Tây Nguyên là địa phương sản xuất nhiều loại nông sản xuất khẩu chủ lực
của nước ta như cà phê, cao su, hồ tiêu... Để phát triển sản xuất nông nghiệp
bền vững, các tỉnh Tây Nguyên cần xây dựng và phát triển hợp tác xã theo
chuỗi giá trị nông sản, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của từng tác nhân
trong chuỗi và toàn chuỗi, giúp tạo ra giá trị tối đa với chi phí tối thiểu, tạo lợi
thế cạnh tranh trên thị trường. Bài viết phân tích thực trạng phát triển hợp tác
xã trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, từ đó đề xuất ra các giải pháp thúc đẩy
phát triển hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị như: Nâng cao nhận thức và trình độ
của người nông dân, nâng cao chất lượng của đội ngũ quản lý hợp tác xã, hoàn
thiện hành lang pháp lý và xác định nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên kết giữa
nông dân và doanh nghiệp.s
Từ khóa: Hợp tác xã, Tây Nguyên, chuỗi giá trị, nông dân, doanh nghiệp
KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ38
T
Ạ
P
C
H
Í
K
H
O
A
H
Ọ
C
C
Ô
N
G
N
G
H
Ệ
V
À
M
Ô
I T
R
Ư
Ờ
N
G tạo thêm giá trị đầu tư. Thông qua chuỗi giá trị
sản phẩm, các thành viên HTX sẽ giảm được
chi phí sản xuất, đồng thời tăng sản lượng và
chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh, tạo cơ hội để phát
triển các sản phẩm mới.
2. Thực trạng phát triển hợp tác xã trên
địa bàn Tây Nguyên
2.1. Thực trạng các hợp tác xã trên địa
bàn Tây Nguyên
HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu,
có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên
tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn
nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh,
tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung
của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý
HTX (Luật Hợp tác xã, 2012). Tính đến tháng
11/2017, Liên minh HTX 5 tỉnh Tây Nguyên có
gần 5.850 tổ hợp tác, 810 HTX, 3 Liên hiệp HTX.
Đa phần các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp (Minh Trang, 2017). Số lượng HTX ở Tây
Nguyên tăng mạnh qua các năm từ 2013 đến
nay (Hình 1). Đắk Lắk là tỉnh có số lượng HTX
đông nhất trong khu vực, tiếp đến là Lâm Đồng,
Gia Lai, Đắk Nông và Kon Tum ( Bảng 1).
Bảng 2 trình bày giá trị sản xuất theo giá
hiện hành phân theo tỉnh năm 2016, trong đó
giá trị sản xuất của HTX ở Tây Nguyên chiếm
0,73% giá trị sản xuất của vùng. Điều này cho
thấy vai trò quan trọng của HTX đến giá trị sản
xuất của vùng.
Bảng 2: Giá trị sản xuất theo giá hiện hành
phân theo tỉnh năm 2016
ĐVT: Tỷ đồng
Tỉnh
Giá trị
sản xuất
HTX
Giá trị
sản xuất
của tỉnh
Tỷ
trọng
Kon Tum 57,42 16.231.52 0,35%
Gia Lai 177,237 101.876,033 0,17%
Đăk Nông 78 43.324 0,18%
Lâm Đồng 1026,034 114.069,364 0,90%
Đăk Lăk 1590 127.312 1,25%
Tây Nguyên 2928,691 402.812,917 0,73%
(Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017)
Tuy nhiên, mức độ đóng góp của các HTX
vẫn còn thấp, mô hình HTX phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng. Theo khảo sát, qui
mô sản xuất của HTX trên địa bàn còn nhỏ lẻ,
cán bộ quản lý HTX còn non yếu, chưa được
đào tạo và HTX thiếu vốn sản xuất, khó tiếp
cận nguồn vốn. Vì vậy, hoạt động của HTX chưa
hiệu quả.
Tóm lại, việc phát triển các loại hình kinh tế
hợp tác, HTX có tác động tích cực vào sự phát
triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, thay
đổi tập quán canh tác đối với đồng bào dân
tộc thiểu số, góp phần tích cực vào công cuộc
phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết
việc làm, nâng cao đời sống cho đồng bào các
dân tộc trên địa bàn. Tuy nhiên, thực trạng phát
triển HTX vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết
liên quan đến số lượng, chất lượng và hiệu quả
hoạt động.
2.2. Thực trạng liên kết giữa hợp tác xã
với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị
Hiện nay, việc liên kết với doanh nghiệp
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã hình
Hình 1: Số lượng hợp tác xã ở Tây Nguyên qua các năm
(Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017)
Bảng 1: Số lượng hợp tác xã phân theo
tỉnh qua các năm
Năm 2013 2014 2015
Kon Tum 33 30 27
Gia Lai 0 79 79
Đăk Nông 44 49 42
Lâm Đồng 92 90 90
Đăk Lăk 157 157 151
Tây Nguyên 326 405 389
(Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017)
KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ 39
S
Ố
0
3
N
Ă
M
2
0
18thành ở các tỉnh Tây Nguyên, điển hình ở các
sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, mía...
Bảng 3 cho thấy qui mô liên kết nông dân và
doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê
ở các tỉnh Tây Nguyên năm 2016. Tổng diện tích
liên kết đạt 173.986 ha, chiếm khoảng 29% tổng
diện tích cà phê toàn vùng (Niên giám thống kê
các tỉnh Tây Nguyên, 2017). Trong đó, Đắk Lắk
là tỉnh có số lượng hộ liên kết đông nhất, tiếp
đến là Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Nông và Kon Tum.
Bảng 3: Quy mô liên kết hộ nông dân và
doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê
ở các tỉnh Tây Nguyên năm 2016
Tỉnh Số lượng hộ liên kết
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Đắk Lắk 59.051 86.780 277.337
Đắk Nông 14.865 29.071 93.355
Gia Lai 15.975 22.260 69.294
Kon Tum 2.203 2.722 8.150
Lâm Đồng 15.807 33.153 109.702
Nguồn: Tổng hợp từ Sở NN & PTNT các tỉnh
Liên kết giữa nông hộ với doanh nghiệp
thông qua HTX đã giúp nâng cao hiệu quả kinh
tế sản xuất ở các nông hộ (nhờ tăng năng suất,
tăng giá bán và tiết kiệm chi phí sản xuất) và
cải thiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
(nhờ có vùng nguyên liệu ổn định và nguồn
xuất khẩu chất lượng cao). Tuy nhiên, việc duy
trì và phát triển liên kết giữa hộ nông dân và
doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và thách thức,
đặc biệt là việc tuân thủ quy trình sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm và tiếp cận chính sách hỗ trợ (Đỗ
Thị Nga và Lê Đức Niệm, 2016). Chính vì thế,
tuy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp
đã hình thành nhưng mối liên kết này còn rất
lỏng lẻo, hiện tượng phá vỡ hợp đồng, tự ý bán
phá giá cho các thương lái khác khi giá bán cao
hơn vẫn thường xuyên xảy ra. Điều này làm cho
hiệu quả kinh tế không cao, chưa tạo được tính
bền vững trong sản xuất nông nghiệp. Nguyên
nhân là do nhận thức của người dân nhiều nơi
còn thấp, thiếu thông tin thị trường, một số bộ
phận còn chạy theo lợi ích trước mắt.
2.3. Lợi ích của xã viên khi tham gia vào
chuỗi giá trị
Nông dân tham gia vào HTX được hưởng
rất nhiều lợi ích: Thứ nhất, được hưởng lợi ích
kinh tế nhờ quy mô, được tập huấn và hướng
dẫn sản xuất theo qui trình, ứng dụng khoa
học công nghệ, khắc phục được các hạn chế
như sản xuất lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm. Thứ
hai, tăng cường sức mạnh của nông hộ trong
chuỗi như hình thành vùng nguyên liệu, cánh
đồng lớn. Đây là những điều kiện cần thiết để
sản xuất ra những sản phẩm an toàn, đáp ứng
đủ điều kiện xuất khẩu. Thứ ba, nông dân tham
gia HTX sẽ thuận lợi hơn khi đàm phán giá cả
với doanh nghiệp và hưởng các chính sách trợ
cấp từ chính phủ và doanh nghiệp. HTX là tổ
chức kinh tế tập thể hoạt động theo qui định
của pháp luật. Do đó, HTX sẽ được hưởng rất
nhiều chính sách từ nhà nước như về vốn, tài
sản, kỹ thuật sản xuất, xúc tiến thương mại.
Cuối cùng, HTX giúp nông dân, người sản xuất
tiếp cận thông tin thị trường tốt hơn. Điều này
sẽ tạo điều kiện cho việc thâm nhập thị trường
và thu hút khách hàng, sản xuất đáp ứng nhu
cầu của khách hàng.
Xây dựng HTX theo chuỗi giá trị nông sản
sẽ tạo thêm giá trị gia tăng bắt đầu từ khâu
sản xuất nguyên liệu thô tới khi sản phẩm cuối
cùng đến tay người tiêu dùng, giúp tạo ra giá
trị tối đa với chi phí tối thiểu. Các HTX sẽ liên
kết với doanh nghiệp ngay từ khâu đầu tiên
của quá trình sản xuất, tổ chức tập huấn khoa
học kỹ thuật cho nông dân, giám sát thực hiện
các quy trình để cho ra sản phẩm đồng đều về
chất lượng, an toàn thực phẩm, truy nguyên
được nguồn gốc. Bên cạnh đó, doanh nghiệp
sẽ có vùng nguyên liệu sạch an toàn đảm bảo
chất lượng để tạo ra sản phẩm đủ điều kiện
xuất khẩu. Hơn nữa, khi nông dân tham gia vào
HTX, người nông dân sẽ làm chủ các công đoạn
trong chuỗi giá trị, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm, đầu tư để bảo quản, sơ chế gia tăng giá
trị, nên giá trị gia tăng được hưởng sẽ cao hơn
vì không phải qua tác nhân trung gian. Từ đó,
KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ40
T
Ạ
P
C
H
Í
K
H
O
A
H
Ọ
C
C
Ô
N
G
N
G
H
Ệ
V
À
M
Ô
I T
R
Ư
Ờ
N
G sản xuất sẽ hiệu quả hơn, thu nhập của xã viên
sẽ tăng hơn và đóng góp của HTX đến giá trị
sản xuất của vùng sẽ nhiều hơn.
3. Giải pháp thúc đẩy phát triển hợp
tác xã gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây
Nguyên
3.1. Nâng cao nhận thức và trình độ của
người nông dân
Hiện nay, một bộ phận nông dân, nhất là
nông dân ở những vùng chưa phát triển sản
xuất hàng hoá vẫn quen sống tự cấp tự túc, nên
việc tiếp nhận cách thức sản xuất nông nghiệp
theo hướng “tập trung hoá, chuyên môn hoá,
hiện đại hoá, công nghệ xanh” là rất khó khăn.
Vì thế, việc trước mắt là phải nâng cao trình độ
nhận thức, đổi mới tư duy của họ để tự họ thấy
rằng, muốn giàu lên thì phải cơ cấu lại lao động
và ruộng đất, giảm lao động tay chân, lao động
thủ công, tăng hàm lượng khoa học kỹ thuật,
công nghệ và máy móc trong sản xuất nông
nghiệp. Việc này cũng giúp tích tụ ruộng đất
cho người làm nông nghiệp giỏi để số người
dôi ra làm giàu bằng nghề khác, đôi bên đều
có lợi. Bài viết đề xuất một số giải pháp cơ bản
dưới đây như sau:
- Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng
giáo dục phổ thông cho tất cả các bậc học,
trong đó chú trọng đến công tác xoá mù chữ
và tái mù, phổ cập giáo dục, nhất là cho các đối
tượng ở vùng sâu, vùng xa.
- Tổ chức các lớp tập huấn để trang bị cho
nông dân những kiến thức cơ bản trong sản
xuất nông nghiệp, những kỹ năng, kỹ thuật
sản xuất, canh tác mới nhất, các mô hình sản
xuất nông nghiệp có hiệu quả như VAC, RVAC,
kiến thức trong kinh doanh như kiến thức về
tiếp cận thị trường và khả năng thích ứng với
sự thay đổi nhanh chóng của nó, kiến thức về
marketing, giới thiệu sản phẩm, kiến thức về
thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thương
hiệu cho nông sản hàng hoá.
- Tuyên truyền cho nông dân hiểu và biết
được tầm quan trọng và lợi ích khi tham gia HTX.
3.2. Nâng cao chất lượng của đội ngũ
quản lý HTX
Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý HTX hạn
chế chủ yếu do thiếu được đào tạo chuyên
sâu. Để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực,
cần tiến hành đồng bộ những giải pháp như:
tổ chức các khóa đào tạo các cán bộ trẻ đưa về
làm việc ở các HTX, biệt phái các cán bộ của
một số cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã về làm cán
bộ quản lý HTX trong thời hạn 3 năm. Bên cạnh
cán bộ quản lý thì cán bộ nhân viên làm việc ở
HTX cũng cần được đào tạo để nâng cao trình
độ như cán bộ kế toán. Đa phần đội ngũ kế
toán của các HTX chưa được đào tạo bài bản
nên công tác hạch toán, báo cáo tài chính chưa
được đảm bảo. Việc thực hiện đăng ký, khai nộp
thuế và quyết toán thuế hàng năm cũng còn
lúng túng. Chính vì thế, liên minh HTX cùng với
các cơ quan ban ngành cần tổ chức các lớp tập
huấn về chuyên môn như về kế toán, tài chính,
quản lý HTX.
3.3. Hoàn thiện hành lang pháp lý
HTX là nòng cốt để phát triển kinh tế tập
thể, đặc biệt ở khu vực nông thôn và là nòng
cốt trong xây dựng nông thôn mới. Chính vì thế,
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu
đãi dành riêng cho khu vực kinh tế này. Một số
chính sách hỗ trợ đã được ban hành như Nghị
định số 193/2013/NĐ-CP; Số: 23/2017/QĐ-TTg...
Tuy nhiên, do năng lực quản lý hạn chế, khả
năng tiếp cận chính sách mới thấp nên tốc
độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.
Do đó, nhiệm vụ quan trọng là cần bổ sung và
hoàn thiện các chính sách đặc thù dành riêng
cho HTX như chính sách về thuế, chính sách về
vốn, đất đai. Bộ Tài chính cần ban hành thông
tư hướng dẫn riêng về thuế cho HTX và tổ hợp
tác, theo hướng mở rộng đối tượng được đặt
in hoặc tự in hóa đơn cho đơn vị đủ điều kiện,
bổ sung quy định xóa nợ thuế đối với HTX đã
ngừng hoạt động kéo dài. Đặc biệt, nhà nước
cần có chính sách miễn lệ phí môn bài đối với
tất cả các HTX trên địa bàn các huyện đặc biệt
KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ 41
S
Ố
0
3
N
Ă
M
2
0
18khó khăn, miễn thuế TNCN từ đầu tư vốn cho
các xã viên khi có thu nhập từ đầu tư vốn, qua
đó mới thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển
SXKD. Bên cạnh đó, tới nay chưa có hành lang
pháp lý thống nhất cho việc thành lập, tổ chức
và hoạt động của các quỹ HTX địa phương (mới
chỉ quy định quỹ HTX ở Trung ương). Vì vậy,
nhiều địa phương lúng túng trong việc thành
lập và tổ chức vận hành Quỹ. Các quỹ HTX địa
phương vận dụng nhiều quy định khác nhau
để hoạt động, dễ gây rủi ro về mặt pháp lý,
cũng như hoạt động cho quỹ và gây khó khăn
trong việc quản lý và giám sát của các cơ quan
Nhà nước. Ngoài ra, đẩy mạnh xây dựng chính
sách tích tụ ruộng đất là cơ sở thúc đẩy doanh
nghiệp liên kết nông dân. Kinh nghiệm trên thế
giới cho thấy, nông nghiệp không thể phát triển
nếu trang trại không đủ lớn (tối thiểu 2 hecta)
(Nguyễn Việt Long và Trần Đức Viên, 2016).
3.4. Nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên kết
giữa nông dân và doanh nghiệp
Để thúc đẩy mối liên kết giữa nông dân và
doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn, sự hỗ trợ
mạnh mẽ của Nhà nước là rất quan trọng. Nhà
nước phải là cầu nối giữa HTX và doanh nghiệp,
nhất là trong việc ký kết hợp đồng cung ứng
vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm.
Liên kết ngang giữa nông dân với nhau để
cung cấp sản phẩm theo nhu cầu thị trường mới
là một khía cạnh, là yếu tố “đẩy” trong mô hình
liên kết. Mô hình này cần yếu tố “kéo”, chính là
thị trường tiêu thụ đầu ra mà hoạt động cốt lõi
là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân với
doanh nghiệp. Xây dựng mối liên kết này về bản
chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi
giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung
gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút
ngắn độ dài của kênh tiêu thụ. Nếu không có
liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua
liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong
muốn. Do đó, Nhà nước cần tiếp tục có chính
sách để hình thành và thu hút các tập đoàn tiêu
thụ sản phẩm đa quốc gia, kéo các ngành hàng
của chúng ta vào chuỗi tiêu thụ toàn cầu. Các cơ
quan, ban, ngành ở các tỉnh Tây Nguyên phải tạo
cơ chế, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp
sản xuất và chế biến lớn ở trong nước và quốc
tế đến các tỉnh của mình. Bên cạnh đó, các tỉnh
Tây Nguyên cần tổ chức các hội chợ thương mại
thường niên, tuyên truyền quảng bá các sản
phẩm HTX trên địa bàn mình.
4. Kết luận
Tây Nguyên là địa phương sản xuất nhiều
loại nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta như
cà phê, cao su, hồ tiêu... Để phát triển sản xuất
nông nghiệp bền vững, các tỉnh Tây Nguyên
cần xây dựng và phát triển HTX theo chuỗi giá
trị nông sản, góp phần nâng cao giá trị gia tăng
của từng tác nhân trong chuỗi và toàn chuỗi,
giúp tạo ra giá trị tối đa với chi phí tối thiểu, tạo
lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Bài viết phân
tích thực trạng phát triển HTX trên địa bàn các
tỉnh Tây Nguyên, từ đó đề xuất ra các giải pháp
thúc đẩy phát triển HTX gắn với chuỗi giá trị
như: nâng cao nhận thức và trình độ của người
nông dân, nâng cao chất lượng của đội ngũ
quản lý HTX, hoàn thiện hành lang pháp lý và
nhấn mạnh Nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên
kết giữa nông dân và doanh nghiệp./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Thị Nga và Lê Đức Niệm, 2016. Liên kết hộ nông
dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Tây
Nguyên. Tạp chí khoa học nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14,
số 11, p 1853-1845.
2. Luật HTX 2012. Luật số: 23/2012/QH13
3. Minh Trang, 2017. Liên minh HTX 5 tỉnh Tây Nguyên:
Phát huy lợi thế hệ thống để phát triển. Truy cập từ http://
thoibaokinhdoanh.vn/hop-tac-xa/lien-minh-htx-5-tinh-tay-
nguyen-phat-huy-loi-the-he-thong-de-phat-trien-1019278.
html
4. Nghị định số 193/2013/NĐ-CP
5. Nguyễn Việt Long và Trần Đức Viên, 2016. Thúc đẩy
liên kết với người sản xuất trong nông nghiệp. Truy cập từ
voi-nguoi-san-xuat-trong-nong-nghiep-10226.
6. Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017.
7. Quyết định Số: 23/2017/QĐ-TTg
8. Quy mô liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong
sản xuất và tiêu thụ cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên năm 2016.
Sở NN & PTNT các tỉnh năm 2016.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
giai_phap_thuc_day_phat_trien_hop_tac_xa_gan_voi_chuoi_gia_t.pdf