Giải pháp thúc đẩy phát triển hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên

Nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp Để thúc đẩy mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn, sự hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nước là rất quan trọng. Nhà nước phải là cầu nối giữa HTX và doanh nghiệp, nhất là trong việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Liên kết ngang giữa nông dân với nhau để cung cấp sản phẩm theo nhu cầu thị trường mới là một khía cạnh, là yếu tố “đẩy” trong mô hình liên kết. Mô hình này cần yếu tố “kéo”, chính là thị trường tiêu thụ đầu ra mà hoạt động cốt lõi là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân với doanh nghiệp. Xây dựng mối liên kết này về bản chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ. Nếu không có liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn. Do đó, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách để hình thành và thu hút các tập đoàn tiêu thụ sản phẩm đa quốc gia, kéo các ngành hàng của chúng ta vào chuỗi tiêu thụ toàn cầu. Các cơ quan, ban, ngành ở các tỉnh Tây Nguyên phải tạo cơ chế, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp sản xuất và chế biến lớn ở trong nước và quốc tế đến các tỉnh của mình. Bên cạnh đó, các tỉnh Tây Nguyên cần tổ chức các hội chợ thương mại thường niên, tuyên truyền quảng bá các sản phẩm HTX trên địa bàn mình.

pdf5 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp thúc đẩy phát triển hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ 37 S Ố 0 3 N Ă M 2 0 18 1. Giới thiệu Tây Nguyên được xác định là một trong sáu vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Đây là vùng có nhiều tiềm năng và thế mạnh, đặc biệt về phát triển nông nghiệp. Tây Nguyên là địa phương sản xuất nhiều loại nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta như cà phê, cao su, hồ tiêu... Sản lượng cà phê của Việt Nam phụ thuộc phần lớn vào sản lượng của Tây Nguyên, chiếm hơn 90% tổng diện tích cà phê và chiếm hơn 93% tổng lượng cà phê. Tổng diện tích trồng cao su ở Tây Nguyên đứng thứ 2 cả nước, chiếm 26% cả nước, sau Đông Nam Bộ. Tây Nguyên là vùng trồng tiêu lớn nhất Việt Nam (Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017). Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp ở Tây Nguyên còn chưa ứng dụng khoa học công nghệ nhiều, qui mô nhỏ lẻ, manh mún, chất Giải pháp thúc đẩy phát triển hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên ThS. NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum lượng và giá trị thu được chưa cao. Các mặt hàng nông sản chủ lực như cà phê, hồ tiêu, cao su, điều chủ yếu được xuất khẩu thô nên giá trị gia tăng thấp, thu nhập của người nông dân chưa cao. Hơn nữa, tác nhân sản xuất là nông dân chưa khẳng định được vị trí và vai trò mình trong của chuỗi giá trị nông sản do sản xuất rời rạc, thiếu sự liên kết, chưa hình thành vùng nguyên liệu sản xuất, giá cả bấp bênh. Chính vì thế, phát triển hợp tác xã (HTX) gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên là điều vô cùng cần thiết. Xây dựng HTX theo chuỗi giá trị nông sản sẽ tạo thêm giá trị gia tăng bắt đầu từ khâu sản xuất nguyên liệu thô tới khi sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng, giúp tạo ra giá trị tối đa với chi phí tối thiểu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, gia tăng lợi nhuận thông qua Tây Nguyên là địa phương sản xuất nhiều loại nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta như cà phê, cao su, hồ tiêu... Để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, các tỉnh Tây Nguyên cần xây dựng và phát triển hợp tác xã theo chuỗi giá trị nông sản, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của từng tác nhân trong chuỗi và toàn chuỗi, giúp tạo ra giá trị tối đa với chi phí tối thiểu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Bài viết phân tích thực trạng phát triển hợp tác xã trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, từ đó đề xuất ra các giải pháp thúc đẩy phát triển hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị như: Nâng cao nhận thức và trình độ của người nông dân, nâng cao chất lượng của đội ngũ quản lý hợp tác xã, hoàn thiện hành lang pháp lý và xác định nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp.s Từ khóa: Hợp tác xã, Tây Nguyên, chuỗi giá trị, nông dân, doanh nghiệp KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ38 T Ạ P C H Í K H O A H Ọ C C Ô N G N G H Ệ V À M Ô I T R Ư Ờ N G tạo thêm giá trị đầu tư. Thông qua chuỗi giá trị sản phẩm, các thành viên HTX sẽ giảm được chi phí sản xuất, đồng thời tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo cơ hội để phát triển các sản phẩm mới. 2. Thực trạng phát triển hợp tác xã trên địa bàn Tây Nguyên 2.1. Thực trạng các hợp tác xã trên địa bàn Tây Nguyên HTX là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX (Luật Hợp tác xã, 2012). Tính đến tháng 11/2017, Liên minh HTX 5 tỉnh Tây Nguyên có gần 5.850 tổ hợp tác, 810 HTX, 3 Liên hiệp HTX. Đa phần các HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (Minh Trang, 2017). Số lượng HTX ở Tây Nguyên tăng mạnh qua các năm từ 2013 đến nay (Hình 1). Đắk Lắk là tỉnh có số lượng HTX đông nhất trong khu vực, tiếp đến là Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Nông và Kon Tum ( Bảng 1). Bảng 2 trình bày giá trị sản xuất theo giá hiện hành phân theo tỉnh năm 2016, trong đó giá trị sản xuất của HTX ở Tây Nguyên chiếm 0,73% giá trị sản xuất của vùng. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của HTX đến giá trị sản xuất của vùng. Bảng 2: Giá trị sản xuất theo giá hiện hành phân theo tỉnh năm 2016 ĐVT: Tỷ đồng Tỉnh Giá trị sản xuất HTX Giá trị sản xuất của tỉnh Tỷ trọng Kon Tum 57,42 16.231.52 0,35% Gia Lai 177,237 101.876,033 0,17% Đăk Nông 78 43.324 0,18% Lâm Đồng 1026,034 114.069,364 0,90% Đăk Lăk 1590 127.312 1,25% Tây Nguyên 2928,691 402.812,917 0,73% (Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017) Tuy nhiên, mức độ đóng góp của các HTX vẫn còn thấp, mô hình HTX phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Theo khảo sát, qui mô sản xuất của HTX trên địa bàn còn nhỏ lẻ, cán bộ quản lý HTX còn non yếu, chưa được đào tạo và HTX thiếu vốn sản xuất, khó tiếp cận nguồn vốn. Vì vậy, hoạt động của HTX chưa hiệu quả. Tóm lại, việc phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, HTX có tác động tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, thay đổi tập quán canh tác đối với đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Tuy nhiên, thực trạng phát triển HTX vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết liên quan đến số lượng, chất lượng và hiệu quả hoạt động. 2.2. Thực trạng liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị Hiện nay, việc liên kết với doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã hình Hình 1: Số lượng hợp tác xã ở Tây Nguyên qua các năm (Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017) Bảng 1: Số lượng hợp tác xã phân theo tỉnh qua các năm Năm 2013 2014 2015 Kon Tum 33 30 27 Gia Lai 0 79 79 Đăk Nông 44 49 42 Lâm Đồng 92 90 90 Đăk Lăk 157 157 151 Tây Nguyên 326 405 389 (Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017) KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ 39 S Ố 0 3 N Ă M 2 0 18thành ở các tỉnh Tây Nguyên, điển hình ở các sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu, mía... Bảng 3 cho thấy qui mô liên kết nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên năm 2016. Tổng diện tích liên kết đạt 173.986 ha, chiếm khoảng 29% tổng diện tích cà phê toàn vùng (Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017). Trong đó, Đắk Lắk là tỉnh có số lượng hộ liên kết đông nhất, tiếp đến là Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Nông và Kon Tum. Bảng 3: Quy mô liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên năm 2016 Tỉnh Số lượng hộ liên kết Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Đắk Lắk 59.051 86.780 277.337 Đắk Nông 14.865 29.071 93.355 Gia Lai 15.975 22.260 69.294 Kon Tum 2.203 2.722 8.150 Lâm Đồng 15.807 33.153 109.702 Nguồn: Tổng hợp từ Sở NN & PTNT các tỉnh Liên kết giữa nông hộ với doanh nghiệp thông qua HTX đã giúp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ở các nông hộ (nhờ tăng năng suất, tăng giá bán và tiết kiệm chi phí sản xuất) và cải thiện lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (nhờ có vùng nguyên liệu ổn định và nguồn xuất khẩu chất lượng cao). Tuy nhiên, việc duy trì và phát triển liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và thách thức, đặc biệt là việc tuân thủ quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tiếp cận chính sách hỗ trợ (Đỗ Thị Nga và Lê Đức Niệm, 2016). Chính vì thế, tuy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp đã hình thành nhưng mối liên kết này còn rất lỏng lẻo, hiện tượng phá vỡ hợp đồng, tự ý bán phá giá cho các thương lái khác khi giá bán cao hơn vẫn thường xuyên xảy ra. Điều này làm cho hiệu quả kinh tế không cao, chưa tạo được tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp. Nguyên nhân là do nhận thức của người dân nhiều nơi còn thấp, thiếu thông tin thị trường, một số bộ phận còn chạy theo lợi ích trước mắt. 2.3. Lợi ích của xã viên khi tham gia vào chuỗi giá trị Nông dân tham gia vào HTX được hưởng rất nhiều lợi ích: Thứ nhất, được hưởng lợi ích kinh tế nhờ quy mô, được tập huấn và hướng dẫn sản xuất theo qui trình, ứng dụng khoa học công nghệ, khắc phục được các hạn chế như sản xuất lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm. Thứ hai, tăng cường sức mạnh của nông hộ trong chuỗi như hình thành vùng nguyên liệu, cánh đồng lớn. Đây là những điều kiện cần thiết để sản xuất ra những sản phẩm an toàn, đáp ứng đủ điều kiện xuất khẩu. Thứ ba, nông dân tham gia HTX sẽ thuận lợi hơn khi đàm phán giá cả với doanh nghiệp và hưởng các chính sách trợ cấp từ chính phủ và doanh nghiệp. HTX là tổ chức kinh tế tập thể hoạt động theo qui định của pháp luật. Do đó, HTX sẽ được hưởng rất nhiều chính sách từ nhà nước như về vốn, tài sản, kỹ thuật sản xuất, xúc tiến thương mại. Cuối cùng, HTX giúp nông dân, người sản xuất tiếp cận thông tin thị trường tốt hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc thâm nhập thị trường và thu hút khách hàng, sản xuất đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Xây dựng HTX theo chuỗi giá trị nông sản sẽ tạo thêm giá trị gia tăng bắt đầu từ khâu sản xuất nguyên liệu thô tới khi sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng, giúp tạo ra giá trị tối đa với chi phí tối thiểu. Các HTX sẽ liên kết với doanh nghiệp ngay từ khâu đầu tiên của quá trình sản xuất, tổ chức tập huấn khoa học kỹ thuật cho nông dân, giám sát thực hiện các quy trình để cho ra sản phẩm đồng đều về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy nguyên được nguồn gốc. Bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ có vùng nguyên liệu sạch an toàn đảm bảo chất lượng để tạo ra sản phẩm đủ điều kiện xuất khẩu. Hơn nữa, khi nông dân tham gia vào HTX, người nông dân sẽ làm chủ các công đoạn trong chuỗi giá trị, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, đầu tư để bảo quản, sơ chế gia tăng giá trị, nên giá trị gia tăng được hưởng sẽ cao hơn vì không phải qua tác nhân trung gian. Từ đó, KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ40 T Ạ P C H Í K H O A H Ọ C C Ô N G N G H Ệ V À M Ô I T R Ư Ờ N G sản xuất sẽ hiệu quả hơn, thu nhập của xã viên sẽ tăng hơn và đóng góp của HTX đến giá trị sản xuất của vùng sẽ nhiều hơn. 3. Giải pháp thúc đẩy phát triển hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị trên địa bàn Tây Nguyên 3.1. Nâng cao nhận thức và trình độ của người nông dân Hiện nay, một bộ phận nông dân, nhất là nông dân ở những vùng chưa phát triển sản xuất hàng hoá vẫn quen sống tự cấp tự túc, nên việc tiếp nhận cách thức sản xuất nông nghiệp theo hướng “tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá, công nghệ xanh” là rất khó khăn. Vì thế, việc trước mắt là phải nâng cao trình độ nhận thức, đổi mới tư duy của họ để tự họ thấy rằng, muốn giàu lên thì phải cơ cấu lại lao động và ruộng đất, giảm lao động tay chân, lao động thủ công, tăng hàm lượng khoa học kỹ thuật, công nghệ và máy móc trong sản xuất nông nghiệp. Việc này cũng giúp tích tụ ruộng đất cho người làm nông nghiệp giỏi để số người dôi ra làm giàu bằng nghề khác, đôi bên đều có lợi. Bài viết đề xuất một số giải pháp cơ bản dưới đây như sau: - Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông cho tất cả các bậc học, trong đó chú trọng đến công tác xoá mù chữ và tái mù, phổ cập giáo dục, nhất là cho các đối tượng ở vùng sâu, vùng xa. - Tổ chức các lớp tập huấn để trang bị cho nông dân những kiến thức cơ bản trong sản xuất nông nghiệp, những kỹ năng, kỹ thuật sản xuất, canh tác mới nhất, các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả như VAC, RVAC, kiến thức trong kinh doanh như kiến thức về tiếp cận thị trường và khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của nó, kiến thức về marketing, giới thiệu sản phẩm, kiến thức về thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thương hiệu cho nông sản hàng hoá. - Tuyên truyền cho nông dân hiểu và biết được tầm quan trọng và lợi ích khi tham gia HTX. 3.2. Nâng cao chất lượng của đội ngũ quản lý HTX Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý HTX hạn chế chủ yếu do thiếu được đào tạo chuyên sâu. Để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, cần tiến hành đồng bộ những giải pháp như: tổ chức các khóa đào tạo các cán bộ trẻ đưa về làm việc ở các HTX, biệt phái các cán bộ của một số cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã về làm cán bộ quản lý HTX trong thời hạn 3 năm. Bên cạnh cán bộ quản lý thì cán bộ nhân viên làm việc ở HTX cũng cần được đào tạo để nâng cao trình độ như cán bộ kế toán. Đa phần đội ngũ kế toán của các HTX chưa được đào tạo bài bản nên công tác hạch toán, báo cáo tài chính chưa được đảm bảo. Việc thực hiện đăng ký, khai nộp thuế và quyết toán thuế hàng năm cũng còn lúng túng. Chính vì thế, liên minh HTX cùng với các cơ quan ban ngành cần tổ chức các lớp tập huấn về chuyên môn như về kế toán, tài chính, quản lý HTX. 3.3. Hoàn thiện hành lang pháp lý HTX là nòng cốt để phát triển kinh tế tập thể, đặc biệt ở khu vực nông thôn và là nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi dành riêng cho khu vực kinh tế này. Một số chính sách hỗ trợ đã được ban hành như Nghị định số 193/2013/NĐ-CP; Số: 23/2017/QĐ-TTg... Tuy nhiên, do năng lực quản lý hạn chế, khả năng tiếp cận chính sách mới thấp nên tốc độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Do đó, nhiệm vụ quan trọng là cần bổ sung và hoàn thiện các chính sách đặc thù dành riêng cho HTX như chính sách về thuế, chính sách về vốn, đất đai. Bộ Tài chính cần ban hành thông tư hướng dẫn riêng về thuế cho HTX và tổ hợp tác, theo hướng mở rộng đối tượng được đặt in hoặc tự in hóa đơn cho đơn vị đủ điều kiện, bổ sung quy định xóa nợ thuế đối với HTX đã ngừng hoạt động kéo dài. Đặc biệt, nhà nước cần có chính sách miễn lệ phí môn bài đối với tất cả các HTX trên địa bàn các huyện đặc biệt KHOA HOÏC QUAÛN LYÙ 41 S Ố 0 3 N Ă M 2 0 18khó khăn, miễn thuế TNCN từ đầu tư vốn cho các xã viên khi có thu nhập từ đầu tư vốn, qua đó mới thúc đẩy hoạt động đầu tư phát triển SXKD. Bên cạnh đó, tới nay chưa có hành lang pháp lý thống nhất cho việc thành lập, tổ chức và hoạt động của các quỹ HTX địa phương (mới chỉ quy định quỹ HTX ở Trung ương). Vì vậy, nhiều địa phương lúng túng trong việc thành lập và tổ chức vận hành Quỹ. Các quỹ HTX địa phương vận dụng nhiều quy định khác nhau để hoạt động, dễ gây rủi ro về mặt pháp lý, cũng như hoạt động cho quỹ và gây khó khăn trong việc quản lý và giám sát của các cơ quan Nhà nước. Ngoài ra, đẩy mạnh xây dựng chính sách tích tụ ruộng đất là cơ sở thúc đẩy doanh nghiệp liên kết nông dân. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, nông nghiệp không thể phát triển nếu trang trại không đủ lớn (tối thiểu 2 hecta) (Nguyễn Việt Long và Trần Đức Viên, 2016). 3.4. Nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp Để thúc đẩy mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn, sự hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nước là rất quan trọng. Nhà nước phải là cầu nối giữa HTX và doanh nghiệp, nhất là trong việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Liên kết ngang giữa nông dân với nhau để cung cấp sản phẩm theo nhu cầu thị trường mới là một khía cạnh, là yếu tố “đẩy” trong mô hình liên kết. Mô hình này cần yếu tố “kéo”, chính là thị trường tiêu thụ đầu ra mà hoạt động cốt lõi là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân với doanh nghiệp. Xây dựng mối liên kết này về bản chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ. Nếu không có liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn. Do đó, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách để hình thành và thu hút các tập đoàn tiêu thụ sản phẩm đa quốc gia, kéo các ngành hàng của chúng ta vào chuỗi tiêu thụ toàn cầu. Các cơ quan, ban, ngành ở các tỉnh Tây Nguyên phải tạo cơ chế, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp sản xuất và chế biến lớn ở trong nước và quốc tế đến các tỉnh của mình. Bên cạnh đó, các tỉnh Tây Nguyên cần tổ chức các hội chợ thương mại thường niên, tuyên truyền quảng bá các sản phẩm HTX trên địa bàn mình. 4. Kết luận Tây Nguyên là địa phương sản xuất nhiều loại nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta như cà phê, cao su, hồ tiêu... Để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, các tỉnh Tây Nguyên cần xây dựng và phát triển HTX theo chuỗi giá trị nông sản, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của từng tác nhân trong chuỗi và toàn chuỗi, giúp tạo ra giá trị tối đa với chi phí tối thiểu, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Bài viết phân tích thực trạng phát triển HTX trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, từ đó đề xuất ra các giải pháp thúc đẩy phát triển HTX gắn với chuỗi giá trị như: nâng cao nhận thức và trình độ của người nông dân, nâng cao chất lượng của đội ngũ quản lý HTX, hoàn thiện hành lang pháp lý và nhấn mạnh Nhà nước là đầu mối thúc đẩy liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp./. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đỗ Thị Nga và Lê Đức Niệm, 2016. Liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Tây Nguyên. Tạp chí khoa học nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14, số 11, p 1853-1845. 2. Luật HTX 2012. Luật số: 23/2012/QH13 3. Minh Trang, 2017. Liên minh HTX 5 tỉnh Tây Nguyên: Phát huy lợi thế hệ thống để phát triển. Truy cập từ http:// thoibaokinhdoanh.vn/hop-tac-xa/lien-minh-htx-5-tinh-tay- nguyen-phat-huy-loi-the-he-thong-de-phat-trien-1019278. html 4. Nghị định số 193/2013/NĐ-CP 5. Nguyễn Việt Long và Trần Đức Viên, 2016. Thúc đẩy liên kết với người sản xuất trong nông nghiệp. Truy cập từ voi-nguoi-san-xuat-trong-nong-nghiep-10226. 6. Niên giám thống kê các tỉnh Tây Nguyên, 2017. 7. Quyết định Số: 23/2017/QĐ-TTg 8. Quy mô liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên năm 2016. Sở NN & PTNT các tỉnh năm 2016.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiai_phap_thuc_day_phat_trien_hop_tac_xa_gan_voi_chuoi_gia_t.pdf
Tài liệu liên quan