Tiền nhộng và nhộng
Tiền nhộng là giai đoạn mà rệp sáp non giới
tính đực ngừng ăn, tạo ra rất nhiều sợi sáp màu
trắng đục để làm thành kén hình trụ bao quanh
cơ thể (hình 2). Cơ thể rệp sáp non giới tính
đực lúc này có hình trụ, chuyển từ màu đỏ đậm
sang màu vàng nhạt, nhƣng cơ thể chƣa phân
biệt rõ các phần đầu, ngực và bụng. Cơ thể tiền
nhộng có chiều dài, chiều rộng tƣơng ứng là
1,42±0,02 và 0,36±0,01 mm.
Nhộng nằm trong kén, có cơ thể hình trụ,
màu vàng nhạt. Cơ thể nhộng đã phân biệt rõ
rệt 3 phần là phần đầu, ngực, bụng và có
mầm cánh (hình 2). Cơ thể nhộng có chiều
dài là 1,04±0,03 mm và chiều rộng là
0,37±0,02 mm.
Trưởng thành
Trƣởng thành đực có cơ thể nhỏ bé, thon
dài, chiều dài chỉ khoảng 1 mm, màu đỏ nâu.
Râu đầu có 10 đốt. Trƣởng thành đực có một
đôi cánh màu xám trong và một đôi tua ở phía
cuối cơ thể dài gần bằng chiều dài cơ thể
(hình 2).
Trƣởng thành cái, ngoài các đặc điểm đƣợc
mô tả từ mẫu lam ở trên (bảng 1, bảng 2), mẫu
sống có cơ thể căng mọng, màu sắc tƣơng tự
nhƣ rệp sap non tuổi 3 giới tính cái. Trƣởng
thành cái có kích thƣớc cơ thể với chiều dài là
2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm.
Trƣởng thành cái đẻ càng nhiều thì cơ thể càng
co lại, đến cuối chu kỳ sinh sản cơ thểtrƣởng
thành cái chỉ còn lại lớp vỏ xác màu xám tối.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giám định loài rệp sáp giả thuộc họ pseudococcidae (homoptera) gây hại trên cây đu đủ ở vùng Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
10
11. ManiChellappan L.L., M.T. Ranjith, 2013.
Entomon, 38(2): 97-110.
12. Mastoi M. I., Nur Azura A., R. Muhamad, A.B.
Idris, A.G. Arfan, Y. Ibrahim, 2014. Sci.Int.(Lahore),
26(5): 2323-2329.
13. Miller D. R., D.J. Williams, A.B. Hamon, 1999.
Insecta Mundi, 13: 179-181.
14. Lê Thị Tuyết Nhung, Phạm Văn Lầm, Kris
Wyckhuys, 2014. Báo cáo khoa học H i nghị Côn
tr ng học Quốc gia lần thứ 8, Hà Nội, ngày 10-11
tháng 4 năm 2014. Nxb Nông nghiệp: 140-146.
15. Nisha N., J.S. Kennedy, 2014. Trends in
Biosciences, 7(12): 1346-1349.
16. Selvaraju N.G., N. Sakthivel, 2011. Karnataka
J. Agric. Sci., 24(4): 567-569.
17. Seni A., S. Chongtham, 2013. Agri. Review,
34(3): 216-222.
18. Seni A., A.K. Sahoo, 2014. Inter. Jour. of
Agriculture, Environment&Biotechnology , 7(4):
875-881.
19. Tanwar R. K., P. Jeyakumar, S. Vennila, 2010.
Technical Bulletin, 22. National Center for Integrated
Pest Management, New Delhi.
20. Williams D. J., M.C. Granara de Willink, 1992.
Mealybugs of Central and South America. CAB
International, London, England.
Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm
GIÁM ĐỊNH LOÀI RỆP SÁP GIẢ THUỘC HỌ Pseudococcidae (Homoptera)
GÂY HẠI TRÊN CÂY ĐU ĐỦ Ở VÙNG HÀ NỘI
Result of Identification of The Mealybug, Pseudococcidae (Homoptera)
Infesting Papaya around the Suburb of Ha Noi
Đoàn Thị Lƣơng
1
, Phạm Văn Lầm
2
, Lê Thị Tuyết Nhung
3
và Trƣơng Thị Hƣơng Lan
3
Ngày gửi bài: 03.7.2018 Ngày chấp nhận: 17.8.2018
Abstract
This paper presents the findings on identification of mealy bug species, collected on papaya at the suburb of
Ha Noi. All collected speciments of the mealy bug were identified as papaya mealy bug, Paracoccus marginatus
Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae). The papaya mealy bug is native to Mexico,
Central America. It was recorded from the South of Vietnam for the first time, when it was found on cassava in
2014. But, this is a new recorded insect-pest damaging papaya crop in Vietnam. In addition, the morphological
characteristics of all stages of papaya mealy bug, Paracoccus marginatus were given.
Key words: Morphological characteristics, papaya, papaya mealy bug, Paracoccus marginatus
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Trong những năm gần đây, ngƣời trồng cây
đu đủ ở trong cả nƣớc nói chung và ở ngoại ô
thành phố Hà Nội nói riêng phải đối mặt với sự
gây hại nặng nề của một loài rệp sáp giả (họ
Pseudococcidae). Loài rệp sáp giả này mới xuất
hiện và phát sinh rất mạnh, trở thành một loài
sâu hại chính trên cây đu đủ. Mức độ xâm nhiễm
của loài rệp sáp giả này phổ biến ở mức khá cao
với tỷ lệ bị nhiễm từ 20-30% trên lá đu đủ và 30-
1. NCS Viện KHNN Việt Nam,
3. Viện Bảo vệ thực vật,
2. Hội Côn trùng học Việt Nam
50% trên quả đu đủ. Cả rệp sáp non và trƣởng
thành cái đều chích hút dinh dƣỡng từ lá, quả đu
đủ. Khi phát sinh mạnh với số lƣợng lớn, nếu
không có biện pháp phòng chống kịp thời, chúng
làm cho cây đu đủ còi cọc, sinh trƣởng, phát triển
kém, có thể gây rụng lá, rụng quả hàng loạt, dẫn
đến làm giảm năng suất và chất lƣợng thƣơng
phẩm quả đu đủ, cuối cùng dẫn tới thất thu lớn
cho ngƣời trồng cây đu đủ. Tuy nhiên, cho đến
nay chƣa có tài liệu nào công bố chính thức tên
loài rệp sáp giả này. Bài viết này cung cấp kết
quả giám định tên khoa học và đặc điểm nhận
dạng của loài rệp sáp giả mới ghi nhận hại cây
đu đủ ở vùng Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
11
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguồn rệp sáp giả đu đủ dùng trong nghiên
cứu này đƣợc thu trong vƣờn cây đu đủ ở ngoại
thành Hà Nội. Mẫu rệp sáp giả đƣợc thu cùng
với bộ phận cây đu đủ bị hại đƣa về phòng thí
nghiệm. Đối với các mẫu rệp sáp giả còn ở giai
đoạn trƣớc trƣởng thành thì đƣợc nuôi tiếp trong
phòng thí nghiệm bằng lá đu đủ sạch cho đến khi
xuất hiện pha trƣởng thành. Các cá thể trƣởng
thành này đƣợc thu để làm mẫu tiêu bản. Những
trƣởng thành rệp sáp giả đu đủ (thu trực tiếp ở
thực địa và nuôi trong phòng thí nghiệm) đều
đƣợc bảo quản trong dung dịch cồn 75-80% có
ghi đầy đủ thông tin về cây thức ăn, địa điểm,
thời gian và ngƣời thu mẫu.
Mẫu tiêu bản đƣợc làm tiêu bản theo phƣơng
pháp của Waston và Chandler (1999). Việc giám
định tên của chúng đƣợc tiến hành theo khóa
phân loại của Williams (2004), Williams và
Watson (1988), cũng nhƣ tài liệu mô tả đặc điểm
phân loại của Galanihe và nnk. (2010), Williams
và Willink (1992), Wu và nnk. (2014), Sau khi
giám định, mẫu tiêu bản đã đƣợc TS. Natalia von
Ellenrieder (Trung tâm Giám định sinh vật hại
thuộc Cục Nông nghiệp và Thực phẩm bang
California) thẩm định.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả giám định rệp sáp giả hại cây
đu đủ
Những đặc điểm nhận dạng đến giống thuộc
họ Pseudococcidae đƣợc quan sát kỹ trên mẫu
lam làm từ trƣởng thành cái rệp sáp giả hại cây
đu đủ (hình 1). Đối chiếu với khóa phân loại cho
thấy các đặc điểm phân loại đến giống quan sát
đƣợc trên mẫu lam đều thỏa mãn với các đặc
điểm phân loại đến giống Paracoccus trong khóa
phân loại của Williams (2004), Williams và
Watson (1988) (bảng 1).
Bảng 1. Đặc điểm phân loại đến giống quan sát đƣợc trên mẫu lam và đặc điểm phân loại
của giống Paracoccus trong các khóa phân loại
Đặc điểm phân loại quan sát đƣợc
trên mẫu lam
Đặc điểm phân loại đến giống theo Williams
(2004) & Williams, Watson (1988)
- Cơ thể trƣởng thành cái có hình ô van rộng,
râu đầu có 8 đốt.
- Chân khá phát triển; vuốt to khỏe, cong, không
có răng nhỏ, mấu phụ của bàn chân hơi nở ở
phía đỉnh. Có lỗ trong mờ (translucent pores)
trên chân sau.
- Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi
miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông
cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở
cerarii trên thùy hậu môn.
- Thùy hậu môn phát triển, mỗi thùy ở mặt bụng
có một gờ nhỏ hóa cứng (anal lobe bar).
- Có ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên
(oral rim tubular ducts) với vòng khuyên khá
phát triển.
- Cơ thể trƣởng thành cái có hình ô van rộng,
râu đầu có 8 đốt.
- Chân khá phát triển; vuốt to khỏe, cong, không
có răng nhỏ, mấu phụ của bàn chân hơi nở ở
phía đỉnh. Có lỗ trong mờ (translucent pores)
trên chân sau.
- Có 9-18 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi
miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông
cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở
cerarii trên thùy hậu môn.
- Thùy hậu môn phát triển, mỗi thùy ở mặt bụng
có một gờ nhỏ hóa cứng (anal lobe bar).
- Có ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên
(oral rim tubular ducts) với vòng khuyên khá
phát triển.
Nhƣ vậy, loài rệp sáp giả hại cây đu đủ thuộc
giống Paracoccus Ezzat & McConnell. Giống
Paracoccus có phân bố rộng rãi ở vùng ôn đới và
nhiệt đới. Đến nay, trên thế giới đã phát hiện, mô
tả đặt tên đƣợc khoảng 80 loài thuộc giống này.
Trong đó, vùng địa động vật Đông Phƣơng và
vùng Nam Á, mỗi vùng đã ghi nhận đƣợc 10 loài
thuộc giống Paracoccus (Moghaddam,
Esfandiari, 2014; Williams, 2004).
Khóa phân loại của Williams (2004), Williams
và Watson (1988) có tổng số 16 loài Paracoccus
ở vùng Nam Á và vùng nhiệt đới Nam Thái Bình
Dƣơng. Mẫu lam loài rệp sáp giả hại cây đu đủ
không thỏa mãn với đặc điểm của bất cứ một loài
nào trong số 16 loài Paracoccus ở hai khóa phân
loại nêu trên. Điều này hợp lý vì loài P.
marginatus có nguồn gốc phát sinh ở Mexico,
Trung Mỹ và mới xâm nhập vào châu Á từ năm
2008-2009. Mẫu lam loài rệp sáp giả hại cây đu
đủ thỏa mãn với đặc điểm của loài Paracoccus
marginatus đƣợc mô tả trong nhiều tài liệu
nghiên cứu phân loại (bảng 2).
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
12
Bảng 2. Đặc điểm phân loại đến loài quan sát đƣợc trên mẫu lam và đặc điểm của loài
Paracoccus marginatus trong các tài liệu phân loại
Đặc điểm phân loại quan sát đƣợc
trên mẫu lam
Đặc điểm phân loại nhận dạng
đến loài P. marginatus theo tài liệu *
- Kích thƣớc cơ thể trƣởng thành cái với chiều dài
là 2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm.
- Ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral
rim tubular ducts) chỉ có ở sát mép cơ thể trên
mặt lƣng và mặt bụng.
- Ở chân sau, lỗ trong mờ (translucent pores)
chỉ có trên đốt chậu mà không có trên đốt chày.
- Lông cứng ở trên mặt lƣng cơ thể mảnh
khảnh, bằng hoặc ngắn hơn lông cứng ở
cerarii.
- Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi
miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông
cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở
cerarii trên thùy hậu môn.
- Kích thƣớc cơ thể trƣởng thành cái trong các tài
liệu rất biến động: chiều dài là 1,5-3,0 mm; chiều
rộng là 1,4-1,5 mm.
- Ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral rim
tubular ducts) chỉ có ở sát mép cơ thể trên mặt
lƣng và mặt bụng.
- Ở chân sau, lỗ trong mờ (translucent pores) chỉ
có trên đốt chậu mà không có trên đốt chày
- Lông cứng ở trên mặt lƣng cơ thể mảnh khảnh,
bằng hoặc ngắn hơn lông cứng ở cerarii.
- Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi miệng
cerarii có hai lông cứng hình nón, lông cứng phụ
(flagellate auxiliary seta) chỉ có ở cerarii trên thùy
hậu môn.
Ghi chú: * Chen et al. (2011), Galanihe et al. (2010), Miller and Miller (2002), Muniappan (2014),
Seni and Chongtham (2013), Sharma et al. (2013), Williams, Willink (1992), Wu et al. (2014).
So sánh các đặc điểm hình thái chính quan
sát đƣợc trên mẫu lam của rệp sáp giả hại cây
đu đủ với các đặc điểm trong tài liệu mô tả phân
loại nêu trên cho phép khẳng định loài rệp sáp
giả hại cây đu đủ thu thập tại vùng ngoại ô Hà
Nội là loài Paracoccus marginatus Williams and
Granara de Willink. Sau khi giám định, mẫu lam
của loài rệp sáp giả hại cây đu đủ đƣợc gửi tới
Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục
Nông nghiệp và Thực phẩm bang California để
thẩm định. TS. Natalia von Ellenrieder cũng
khẳng định loài rệp sáp giả hại cây đu đủ là loài
Paracoccus marginatus Williams and Granara de
Willink. Loài rệp sáp giả này có tên tiếng Anh là
“papaya mealybug”, vì vậy tên tiếng Việt của loài
này đƣợc đề nghị gọi là “rệp sáp giả đu đủ”.
Hình 1. Hình mẫu lam của rệp sáp giả đu đủ thu thập ở vùng Hà Nội
(Hình bên trái là mẫu nghiên cứu; Hình bên phải là từ Williams and Willink, 1992)
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
13
Rệp sáp giả đu đủ là loài côn trùng ngoại lai đối
với Việt Nam. Cho đến năm 2013, chƣa có tài liệu
nghiên cứu nào về côn trùng ở Việt Nam ghi nhận
có sự hiện diện của loài rệp sáp giả này (Phạm Văn
Lầm, 2013). Đến năm 2014, loài rệp sáp giả đu đủ
P. marginatus chính thức đƣợc ghi nhận hiện diện
trong khu hệ rệp sáp giả ở Việt Nam, nhƣng ở trên
cây sắn, không phải ở trên cây đu đủ (Lê Thị Tuyết
Nhung và nnk., 2014). Nhƣ vậy, kết quả nghiên
cứu này là tài liệu chính thức ghi nhận loài
Paracoccus marginatus là sâu hại cây đu đủ ở
vùng Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
3.2 Đặc điểm chính về hình thái các pha/giai
đoạn của loài Paracoccus marginatus
Trứng
Trứng màu vàng xanh, hình bầu dục dài khoảng
0,2mm. Trứng đƣợc đẻ trong túi trứng. Trên bề mặt
túi trứng đƣợc phủ một lớp sáp trắng (hình 2). Túi
trứng đƣợc lộ dần ra ở phía cuối cơ thể trƣởng
thành cái và chiều dài túi trứng có thể dài gấp 3 lần
chiều dài cơ thể trƣởng thành cái.
Rệp sáp non
Rệp sáp non tuổi 1: Rệp sáp non mới nở có
cơ thể hình ô van, màu vàng xanh, chƣa có lớp
bột sáp trắng bao phủ (hình 2). Lớp bột sáp trắng
trên mặt lƣng cơ thể của rệp sáp non đƣợc tích
lũy theo thời gian (sự tạo lớp sáp trên mặt lƣng
cơ thể vào thời gian đầu tuổi thƣờng chậm hơn
so với vào thời gian cuối tuổi). Đến cuối tuổi 1,
trên mặt lƣng cơ thể của rệp sáp non đƣợc phủ
một lớp bột sáp trắng dày đặc, nhƣng các đôi tua
sáp xung quanh cơ thể không rõ ràng chỉ có một
đôi tua sáp ngắn ở phía cuối cơ thể. Rệp sáp
non tuổi 1 chƣa phân biệt đƣợc theo giới tính.
Rệp sáp non tuổi 1 có kích thƣớc khá nhỏ, cơ
thể chỉ dài 0,5±0,01 mm và chỗ rộng nhất của cơ
thể chỉ 0,21±0,01 mm.
Rệp sáp non tuổi 2: Bắt đầu từ tuổi 2, rệp sáp
non giới tính đực và rệp sáp non giới tính cái đã
có sự phân biệt khá rõ về màu sắc và hình dáng
(hình 2). Rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái có hình
dáng, màu sắc không khác so với rệp sáp non
tuổi 1. Cơ thể của rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái
với chiều dài là 0,84±0,021 mm và chiều rộng là
0,43±0,01 mm. Rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực
ngay từ những ngày đầu với màu vàng xanh (ở
rệp sáp non tuổi 1) chuyển dần sang màu hồng
nhạt, sau đó đậm dần lên thành màu đỏ đậm vào
cuối tuổi 2. Cơ thể rệp sáp non tuổi 2 giới tính
đực phát triển theo chiều dài, chỉ có một đôi tua
sáp ở cuối cơ thể và ít tạo sáp ở trên mặt lƣng
cũng nhƣ ở hai mép cơ thể. Đến cuối tuổi 2, rệp
sáp non giới tính đực tạo ra những sợi sáp dài,
màu trắng đục bao xung quanh cơ thể, những
sợi sáp này nhiều lên theo ngày tuổi của rệp sáp
non tuổi 2. Kích thƣớc cơ thể của rệp sáp non
tuổi 2 giới tính đực đã tăng lên gấp hơn hai lần
đến ba lần so với ở sáp non tuổi 1, với chiều dài
là 1,2±0,05 mm và chiều rộng 0,61±0,02 mm.
Rệp sáp non tuổi 3 chỉ có ở giới tính cái, có
hình dáng, màu sắc không khác so với rệp sáp
non tuổi 1 và tuổi 2. Tuy nhiên, xung quanh cơ
thể có các đôi tua sáp dày hơn, dài hơn so với
tuổi 2. Kích thƣớc cơ thể của rệp sáp non tuổi 3
lớn hơn gấp khoảng 1,5 lần so với rệp sáp non
tuổi 2 giới tính cái và có chiều dài cơ thể là
1,20±0,05 mm với chiều dài là 0,61±0,03 mm.
Trưởng thành cái
Trưởng thành đực Nhộng Tiền nhộng
Tuổi 3
Tuổi 2
Tuổi 2
Tuổi 1
Trứng
Hình 2. Các pha và giai đoạn phát triển của rệp sáp giả đu đủ P. marginatus
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
14
Tiền nhộng và nhộng
Tiền nhộng là giai đoạn mà rệp sáp non giới
tính đực ngừng ăn, tạo ra rất nhiều sợi sáp màu
trắng đục để làm thành kén hình trụ bao quanh
cơ thể (hình 2). Cơ thể rệp sáp non giới tính
đực lúc này có hình trụ, chuyển từ màu đỏ đậm
sang màu vàng nhạt, nhƣng cơ thể chƣa phân
biệt rõ các phần đầu, ngực và bụng. Cơ thể tiền
nhộng có chiều dài, chiều rộng tƣơng ứng là
1,42±0,02 và 0,36±0,01 mm.
Nhộng nằm trong kén, có cơ thể hình trụ,
màu vàng nhạt. Cơ thể nhộng đã phân biệt rõ
rệt 3 phần là phần đầu, ngực, bụng và có
mầm cánh (hình 2). Cơ thể nhộng có chiều
dài là 1,04±0,03 mm và chiều rộng là
0,37±0,02 mm.
Trưởng thành
Trƣởng thành đực có cơ thể nhỏ bé, thon
dài, chiều dài chỉ khoảng 1 mm, màu đỏ nâu.
Râu đầu có 10 đốt. Trƣởng thành đực có một
đôi cánh màu xám trong và một đôi tua ở phía
cuối cơ thể dài gần bằng chiều dài cơ thể
(hình 2).
Trƣởng thành cái, ngoài các đặc điểm đƣợc
mô tả từ mẫu lam ở trên (bảng 1, bảng 2), mẫu
sống có cơ thể căng mọng, màu sắc tƣơng tự
nhƣ rệp sap non tuổi 3 giới tính cái. Trƣởng
thành cái có kích thƣớc cơ thể với chiều dài là
2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm.
Trƣởng thành cái đẻ càng nhiều thì cơ thể càng
co lại, đến cuối chu kỳ sinh sản cơ thểtrƣởng
thành cái chỉ còn lại lớp vỏ xác màu xám tối.
4. KẾT LUẬN
Loài rệp sáp giả mới xuất hiện trên cây đu đủ
ở nhiều vùng trồng cây đu đủ ở ngoại thành Hà
Nội đƣợc xác định là loài Paracoccus marginatus
Williams and Granara de Willink. Loài rệp sáp giả
đu đủ này có nguồn gốc ở Mexico và Trung Mỹ.
Đây là loài côn trùng ngoại lai đối với Việt Nam
và đƣợc tài liệu hóa chính thức về sự hiện diện
của nó trong khu hệ côn trùng Việt Nam từ năm
2014 với góc độ là sâu hại cây sắn. Kết quả
nghiên cứu này là tài liệu chính thức lần đầu ghi
nhận loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus là
sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội nói riêng và ở
Việt Nam nói chung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chen S.P., J.Y. Wong, W.J. Wu, 2011. J.
Taiwan Agric.Res., 60(1): 72-76.
2. Galanihe L.D., M.U.P. Jayasundera, A. Vithana,
N. Asselaarachchi, G.W. Watson, 2010. Trop. Agric.
Research & Extension, 13(3): 81-86.
3. Phạm Văn Lầm, 2013. Các loài côn tr ng và
nhện nhỏ g y hại c y trồng phát hiện ở Việt Nam.
Quyển 1. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
4. Miller D.R. and G.L. Miller, 2002. Proc. of the
Entomol. Soc. of Washington., Vol. 104(1): 1-23.
5. Muniappan R., 2014. Papaya mealybug,
Paracoccus marginatus. CRP-IPM Virginia Tech,
USAID. May 15.
6. Lê Thị Tuyết Nhung, Phạm Văn Lầm, Kris
Wyckhuys, 2014. Báo cáo khoa học H i nghị Côn
tr ng học Quốc gia lần thứ 8, Hà Nội, ngày 10-11
tháng 4 năm 2014. Nxb Nông nghiệp: 140-146.
7. Seni A., S. Chongtham, 2013. Agri. Review,
34(3): 216-222
8. Sharma S., S. Bhatia, J. Sharma, S. Andotra,
M. Sudan, K. Sharma, 2013. Munis Entomology &
Zoology, 8(2): 664-671.
9. Williams D. J., 2004. Mealybug of southern
Asia. United Selangor Press Sdn.Bhd.
10. Waston G.W. and L.R. Chandler, 1999.
Identification of mealybugs important in Caribean
Region. Egham, CABI, UK.
11. Williams and Watson, 1988. The scale insects
of the Tropical South Pacific Region. Part 2. The
Mealybugs (Pseudococcidae). CAB International
Institute of Entomology.
12. Williams D.J. and M.C. Granara de Willink,
1992. Mealybugs of Central and South America. CAB
International, Wallingford, Oxon, UK.
13. Wu F.Z, Z.H. Liu, H. Shen, F. Yu, J. Ma, X.N. Hu, L.
Zeng, 2014. Florida Entomologist, 97(4): 1469-1473
Phản biện: TS. Nguyễn Thị Thủy
Các file đính kèm theo tài liệu này:
giam_dinh_loai_rep_sap_gia_thuoc_ho_pseudococcidae_homoptera.pdf