Giám định loài rệp sáp giả thuộc họ pseudococcidae (homoptera) gây hại trên cây đu đủ ở vùng Hà Nội

Tiền nhộng và nhộng Tiền nhộng là giai đoạn mà rệp sáp non giới tính đực ngừng ăn, tạo ra rất nhiều sợi sáp màu trắng đục để làm thành kén hình trụ bao quanh cơ thể (hình 2). Cơ thể rệp sáp non giới tính đực lúc này có hình trụ, chuyển từ màu đỏ đậm sang màu vàng nhạt, nhƣng cơ thể chƣa phân biệt rõ các phần đầu, ngực và bụng. Cơ thể tiền nhộng có chiều dài, chiều rộng tƣơng ứng là 1,42±0,02 và 0,36±0,01 mm. Nhộng nằm trong kén, có cơ thể hình trụ, màu vàng nhạt. Cơ thể nhộng đã phân biệt rõ rệt 3 phần là phần đầu, ngực, bụng và có mầm cánh (hình 2). Cơ thể nhộng có chiều dài là 1,04±0,03 mm và chiều rộng là 0,37±0,02 mm. Trưởng thành Trƣởng thành đực có cơ thể nhỏ bé, thon dài, chiều dài chỉ khoảng 1 mm, màu đỏ nâu. Râu đầu có 10 đốt. Trƣởng thành đực có một đôi cánh màu xám trong và một đôi tua ở phía cuối cơ thể dài gần bằng chiều dài cơ thể (hình 2). Trƣởng thành cái, ngoài các đặc điểm đƣợc mô tả từ mẫu lam ở trên (bảng 1, bảng 2), mẫu sống có cơ thể căng mọng, màu sắc tƣơng tự nhƣ rệp sap non tuổi 3 giới tính cái. Trƣởng thành cái có kích thƣớc cơ thể với chiều dài là 2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm. Trƣởng thành cái đẻ càng nhiều thì cơ thể càng co lại, đến cuối chu kỳ sinh sản cơ thểtrƣởng thành cái chỉ còn lại lớp vỏ xác màu xám tối.

pdf5 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giám định loài rệp sáp giả thuộc họ pseudococcidae (homoptera) gây hại trên cây đu đủ ở vùng Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 10 11. ManiChellappan L.L., M.T. Ranjith, 2013. Entomon, 38(2): 97-110. 12. Mastoi M. I., Nur Azura A., R. Muhamad, A.B. Idris, A.G. Arfan, Y. Ibrahim, 2014. Sci.Int.(Lahore), 26(5): 2323-2329. 13. Miller D. R., D.J. Williams, A.B. Hamon, 1999. Insecta Mundi, 13: 179-181. 14. Lê Thị Tuyết Nhung, Phạm Văn Lầm, Kris Wyckhuys, 2014. Báo cáo khoa học H i nghị Côn tr ng học Quốc gia lần thứ 8, Hà Nội, ngày 10-11 tháng 4 năm 2014. Nxb Nông nghiệp: 140-146. 15. Nisha N., J.S. Kennedy, 2014. Trends in Biosciences, 7(12): 1346-1349. 16. Selvaraju N.G., N. Sakthivel, 2011. Karnataka J. Agric. Sci., 24(4): 567-569. 17. Seni A., S. Chongtham, 2013. Agri. Review, 34(3): 216-222. 18. Seni A., A.K. Sahoo, 2014. Inter. Jour. of Agriculture, Environment&Biotechnology , 7(4): 875-881. 19. Tanwar R. K., P. Jeyakumar, S. Vennila, 2010. Technical Bulletin, 22. National Center for Integrated Pest Management, New Delhi. 20. Williams D. J., M.C. Granara de Willink, 1992. Mealybugs of Central and South America. CAB International, London, England. Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm GIÁM ĐỊNH LOÀI RỆP SÁP GIẢ THUỘC HỌ Pseudococcidae (Homoptera) GÂY HẠI TRÊN CÂY ĐU ĐỦ Ở VÙNG HÀ NỘI Result of Identification of The Mealybug, Pseudococcidae (Homoptera) Infesting Papaya around the Suburb of Ha Noi Đoàn Thị Lƣơng 1 , Phạm Văn Lầm 2 , Lê Thị Tuyết Nhung 3 và Trƣơng Thị Hƣơng Lan 3 Ngày gửi bài: 03.7.2018 Ngày chấp nhận: 17.8.2018 Abstract This paper presents the findings on identification of mealy bug species, collected on papaya at the suburb of Ha Noi. All collected speciments of the mealy bug were identified as papaya mealy bug, Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae). The papaya mealy bug is native to Mexico, Central America. It was recorded from the South of Vietnam for the first time, when it was found on cassava in 2014. But, this is a new recorded insect-pest damaging papaya crop in Vietnam. In addition, the morphological characteristics of all stages of papaya mealy bug, Paracoccus marginatus were given. Key words: Morphological characteristics, papaya, papaya mealy bug, Paracoccus marginatus 1. ĐẶT VẤN ĐỀ * Trong những năm gần đây, ngƣời trồng cây đu đủ ở trong cả nƣớc nói chung và ở ngoại ô thành phố Hà Nội nói riêng phải đối mặt với sự gây hại nặng nề của một loài rệp sáp giả (họ Pseudococcidae). Loài rệp sáp giả này mới xuất hiện và phát sinh rất mạnh, trở thành một loài sâu hại chính trên cây đu đủ. Mức độ xâm nhiễm của loài rệp sáp giả này phổ biến ở mức khá cao với tỷ lệ bị nhiễm từ 20-30% trên lá đu đủ và 30- 1. NCS Viện KHNN Việt Nam, 3. Viện Bảo vệ thực vật, 2. Hội Côn trùng học Việt Nam 50% trên quả đu đủ. Cả rệp sáp non và trƣởng thành cái đều chích hút dinh dƣỡng từ lá, quả đu đủ. Khi phát sinh mạnh với số lƣợng lớn, nếu không có biện pháp phòng chống kịp thời, chúng làm cho cây đu đủ còi cọc, sinh trƣởng, phát triển kém, có thể gây rụng lá, rụng quả hàng loạt, dẫn đến làm giảm năng suất và chất lƣợng thƣơng phẩm quả đu đủ, cuối cùng dẫn tới thất thu lớn cho ngƣời trồng cây đu đủ. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có tài liệu nào công bố chính thức tên loài rệp sáp giả này. Bài viết này cung cấp kết quả giám định tên khoa học và đặc điểm nhận dạng của loài rệp sáp giả mới ghi nhận hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội. Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 11 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nguồn rệp sáp giả đu đủ dùng trong nghiên cứu này đƣợc thu trong vƣờn cây đu đủ ở ngoại thành Hà Nội. Mẫu rệp sáp giả đƣợc thu cùng với bộ phận cây đu đủ bị hại đƣa về phòng thí nghiệm. Đối với các mẫu rệp sáp giả còn ở giai đoạn trƣớc trƣởng thành thì đƣợc nuôi tiếp trong phòng thí nghiệm bằng lá đu đủ sạch cho đến khi xuất hiện pha trƣởng thành. Các cá thể trƣởng thành này đƣợc thu để làm mẫu tiêu bản. Những trƣởng thành rệp sáp giả đu đủ (thu trực tiếp ở thực địa và nuôi trong phòng thí nghiệm) đều đƣợc bảo quản trong dung dịch cồn 75-80% có ghi đầy đủ thông tin về cây thức ăn, địa điểm, thời gian và ngƣời thu mẫu. Mẫu tiêu bản đƣợc làm tiêu bản theo phƣơng pháp của Waston và Chandler (1999). Việc giám định tên của chúng đƣợc tiến hành theo khóa phân loại của Williams (2004), Williams và Watson (1988), cũng nhƣ tài liệu mô tả đặc điểm phân loại của Galanihe và nnk. (2010), Williams và Willink (1992), Wu và nnk. (2014), Sau khi giám định, mẫu tiêu bản đã đƣợc TS. Natalia von Ellenrieder (Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và Thực phẩm bang California) thẩm định. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả giám định rệp sáp giả hại cây đu đủ Những đặc điểm nhận dạng đến giống thuộc họ Pseudococcidae đƣợc quan sát kỹ trên mẫu lam làm từ trƣởng thành cái rệp sáp giả hại cây đu đủ (hình 1). Đối chiếu với khóa phân loại cho thấy các đặc điểm phân loại đến giống quan sát đƣợc trên mẫu lam đều thỏa mãn với các đặc điểm phân loại đến giống Paracoccus trong khóa phân loại của Williams (2004), Williams và Watson (1988) (bảng 1). Bảng 1. Đặc điểm phân loại đến giống quan sát đƣợc trên mẫu lam và đặc điểm phân loại của giống Paracoccus trong các khóa phân loại Đặc điểm phân loại quan sát đƣợc trên mẫu lam Đặc điểm phân loại đến giống theo Williams (2004) & Williams, Watson (1988) - Cơ thể trƣởng thành cái có hình ô van rộng, râu đầu có 8 đốt. - Chân khá phát triển; vuốt to khỏe, cong, không có răng nhỏ, mấu phụ của bàn chân hơi nở ở phía đỉnh. Có lỗ trong mờ (translucent pores) trên chân sau. - Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở cerarii trên thùy hậu môn. - Thùy hậu môn phát triển, mỗi thùy ở mặt bụng có một gờ nhỏ hóa cứng (anal lobe bar). - Có ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral rim tubular ducts) với vòng khuyên khá phát triển. - Cơ thể trƣởng thành cái có hình ô van rộng, râu đầu có 8 đốt. - Chân khá phát triển; vuốt to khỏe, cong, không có răng nhỏ, mấu phụ của bàn chân hơi nở ở phía đỉnh. Có lỗ trong mờ (translucent pores) trên chân sau. - Có 9-18 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở cerarii trên thùy hậu môn. - Thùy hậu môn phát triển, mỗi thùy ở mặt bụng có một gờ nhỏ hóa cứng (anal lobe bar). - Có ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral rim tubular ducts) với vòng khuyên khá phát triển. Nhƣ vậy, loài rệp sáp giả hại cây đu đủ thuộc giống Paracoccus Ezzat & McConnell. Giống Paracoccus có phân bố rộng rãi ở vùng ôn đới và nhiệt đới. Đến nay, trên thế giới đã phát hiện, mô tả đặt tên đƣợc khoảng 80 loài thuộc giống này. Trong đó, vùng địa động vật Đông Phƣơng và vùng Nam Á, mỗi vùng đã ghi nhận đƣợc 10 loài thuộc giống Paracoccus (Moghaddam, Esfandiari, 2014; Williams, 2004). Khóa phân loại của Williams (2004), Williams và Watson (1988) có tổng số 16 loài Paracoccus ở vùng Nam Á và vùng nhiệt đới Nam Thái Bình Dƣơng. Mẫu lam loài rệp sáp giả hại cây đu đủ không thỏa mãn với đặc điểm của bất cứ một loài nào trong số 16 loài Paracoccus ở hai khóa phân loại nêu trên. Điều này hợp lý vì loài P. marginatus có nguồn gốc phát sinh ở Mexico, Trung Mỹ và mới xâm nhập vào châu Á từ năm 2008-2009. Mẫu lam loài rệp sáp giả hại cây đu đủ thỏa mãn với đặc điểm của loài Paracoccus marginatus đƣợc mô tả trong nhiều tài liệu nghiên cứu phân loại (bảng 2). Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 12 Bảng 2. Đặc điểm phân loại đến loài quan sát đƣợc trên mẫu lam và đặc điểm của loài Paracoccus marginatus trong các tài liệu phân loại Đặc điểm phân loại quan sát đƣợc trên mẫu lam Đặc điểm phân loại nhận dạng đến loài P. marginatus theo tài liệu * - Kích thƣớc cơ thể trƣởng thành cái với chiều dài là 2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm. - Ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral rim tubular ducts) chỉ có ở sát mép cơ thể trên mặt lƣng và mặt bụng. - Ở chân sau, lỗ trong mờ (translucent pores) chỉ có trên đốt chậu mà không có trên đốt chày. - Lông cứng ở trên mặt lƣng cơ thể mảnh khảnh, bằng hoặc ngắn hơn lông cứng ở cerarii. - Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở cerarii trên thùy hậu môn. - Kích thƣớc cơ thể trƣởng thành cái trong các tài liệu rất biến động: chiều dài là 1,5-3,0 mm; chiều rộng là 1,4-1,5 mm. - Ống tạo sáp miệng dạng vòng khuyên (oral rim tubular ducts) chỉ có ở sát mép cơ thể trên mặt lƣng và mặt bụng. - Ở chân sau, lỗ trong mờ (translucent pores) chỉ có trên đốt chậu mà không có trên đốt chày - Lông cứng ở trên mặt lƣng cơ thể mảnh khảnh, bằng hoặc ngắn hơn lông cứng ở cerarii. - Có 17 đôi cerarii xung quanh cơ thể, mỗi miệng cerarii có hai lông cứng hình nón, lông cứng phụ (flagellate auxiliary seta) chỉ có ở cerarii trên thùy hậu môn. Ghi chú: * Chen et al. (2011), Galanihe et al. (2010), Miller and Miller (2002), Muniappan (2014), Seni and Chongtham (2013), Sharma et al. (2013), Williams, Willink (1992), Wu et al. (2014). So sánh các đặc điểm hình thái chính quan sát đƣợc trên mẫu lam của rệp sáp giả hại cây đu đủ với các đặc điểm trong tài liệu mô tả phân loại nêu trên cho phép khẳng định loài rệp sáp giả hại cây đu đủ thu thập tại vùng ngoại ô Hà Nội là loài Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink. Sau khi giám định, mẫu lam của loài rệp sáp giả hại cây đu đủ đƣợc gửi tới Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và Thực phẩm bang California để thẩm định. TS. Natalia von Ellenrieder cũng khẳng định loài rệp sáp giả hại cây đu đủ là loài Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink. Loài rệp sáp giả này có tên tiếng Anh là “papaya mealybug”, vì vậy tên tiếng Việt của loài này đƣợc đề nghị gọi là “rệp sáp giả đu đủ”. Hình 1. Hình mẫu lam của rệp sáp giả đu đủ thu thập ở vùng Hà Nội (Hình bên trái là mẫu nghiên cứu; Hình bên phải là từ Williams and Willink, 1992) Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 13 Rệp sáp giả đu đủ là loài côn trùng ngoại lai đối với Việt Nam. Cho đến năm 2013, chƣa có tài liệu nghiên cứu nào về côn trùng ở Việt Nam ghi nhận có sự hiện diện của loài rệp sáp giả này (Phạm Văn Lầm, 2013). Đến năm 2014, loài rệp sáp giả đu đủ P. marginatus chính thức đƣợc ghi nhận hiện diện trong khu hệ rệp sáp giả ở Việt Nam, nhƣng ở trên cây sắn, không phải ở trên cây đu đủ (Lê Thị Tuyết Nhung và nnk., 2014). Nhƣ vậy, kết quả nghiên cứu này là tài liệu chính thức ghi nhận loài Paracoccus marginatus là sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung. 3.2 Đặc điểm chính về hình thái các pha/giai đoạn của loài Paracoccus marginatus Trứng Trứng màu vàng xanh, hình bầu dục dài khoảng 0,2mm. Trứng đƣợc đẻ trong túi trứng. Trên bề mặt túi trứng đƣợc phủ một lớp sáp trắng (hình 2). Túi trứng đƣợc lộ dần ra ở phía cuối cơ thể trƣởng thành cái và chiều dài túi trứng có thể dài gấp 3 lần chiều dài cơ thể trƣởng thành cái. Rệp sáp non Rệp sáp non tuổi 1: Rệp sáp non mới nở có cơ thể hình ô van, màu vàng xanh, chƣa có lớp bột sáp trắng bao phủ (hình 2). Lớp bột sáp trắng trên mặt lƣng cơ thể của rệp sáp non đƣợc tích lũy theo thời gian (sự tạo lớp sáp trên mặt lƣng cơ thể vào thời gian đầu tuổi thƣờng chậm hơn so với vào thời gian cuối tuổi). Đến cuối tuổi 1, trên mặt lƣng cơ thể của rệp sáp non đƣợc phủ một lớp bột sáp trắng dày đặc, nhƣng các đôi tua sáp xung quanh cơ thể không rõ ràng chỉ có một đôi tua sáp ngắn ở phía cuối cơ thể. Rệp sáp non tuổi 1 chƣa phân biệt đƣợc theo giới tính. Rệp sáp non tuổi 1 có kích thƣớc khá nhỏ, cơ thể chỉ dài 0,5±0,01 mm và chỗ rộng nhất của cơ thể chỉ 0,21±0,01 mm. Rệp sáp non tuổi 2: Bắt đầu từ tuổi 2, rệp sáp non giới tính đực và rệp sáp non giới tính cái đã có sự phân biệt khá rõ về màu sắc và hình dáng (hình 2). Rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái có hình dáng, màu sắc không khác so với rệp sáp non tuổi 1. Cơ thể của rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái với chiều dài là 0,84±0,021 mm và chiều rộng là 0,43±0,01 mm. Rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực ngay từ những ngày đầu với màu vàng xanh (ở rệp sáp non tuổi 1) chuyển dần sang màu hồng nhạt, sau đó đậm dần lên thành màu đỏ đậm vào cuối tuổi 2. Cơ thể rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực phát triển theo chiều dài, chỉ có một đôi tua sáp ở cuối cơ thể và ít tạo sáp ở trên mặt lƣng cũng nhƣ ở hai mép cơ thể. Đến cuối tuổi 2, rệp sáp non giới tính đực tạo ra những sợi sáp dài, màu trắng đục bao xung quanh cơ thể, những sợi sáp này nhiều lên theo ngày tuổi của rệp sáp non tuổi 2. Kích thƣớc cơ thể của rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực đã tăng lên gấp hơn hai lần đến ba lần so với ở sáp non tuổi 1, với chiều dài là 1,2±0,05 mm và chiều rộng 0,61±0,02 mm. Rệp sáp non tuổi 3 chỉ có ở giới tính cái, có hình dáng, màu sắc không khác so với rệp sáp non tuổi 1 và tuổi 2. Tuy nhiên, xung quanh cơ thể có các đôi tua sáp dày hơn, dài hơn so với tuổi 2. Kích thƣớc cơ thể của rệp sáp non tuổi 3 lớn hơn gấp khoảng 1,5 lần so với rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái và có chiều dài cơ thể là 1,20±0,05 mm với chiều dài là 0,61±0,03 mm. Trưởng thành cái Trưởng thành đực Nhộng Tiền nhộng Tuổi 3 Tuổi 2 Tuổi 2 Tuổi 1 Trứng Hình 2. Các pha và giai đoạn phát triển của rệp sáp giả đu đủ P. marginatus Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018 14 Tiền nhộng và nhộng Tiền nhộng là giai đoạn mà rệp sáp non giới tính đực ngừng ăn, tạo ra rất nhiều sợi sáp màu trắng đục để làm thành kén hình trụ bao quanh cơ thể (hình 2). Cơ thể rệp sáp non giới tính đực lúc này có hình trụ, chuyển từ màu đỏ đậm sang màu vàng nhạt, nhƣng cơ thể chƣa phân biệt rõ các phần đầu, ngực và bụng. Cơ thể tiền nhộng có chiều dài, chiều rộng tƣơng ứng là 1,42±0,02 và 0,36±0,01 mm. Nhộng nằm trong kén, có cơ thể hình trụ, màu vàng nhạt. Cơ thể nhộng đã phân biệt rõ rệt 3 phần là phần đầu, ngực, bụng và có mầm cánh (hình 2). Cơ thể nhộng có chiều dài là 1,04±0,03 mm và chiều rộng là 0,37±0,02 mm. Trưởng thành Trƣởng thành đực có cơ thể nhỏ bé, thon dài, chiều dài chỉ khoảng 1 mm, màu đỏ nâu. Râu đầu có 10 đốt. Trƣởng thành đực có một đôi cánh màu xám trong và một đôi tua ở phía cuối cơ thể dài gần bằng chiều dài cơ thể (hình 2). Trƣởng thành cái, ngoài các đặc điểm đƣợc mô tả từ mẫu lam ở trên (bảng 1, bảng 2), mẫu sống có cơ thể căng mọng, màu sắc tƣơng tự nhƣ rệp sap non tuổi 3 giới tính cái. Trƣởng thành cái có kích thƣớc cơ thể với chiều dài là 2,39±0,06 mm và chiều rộng là 1,29±0,05 mm. Trƣởng thành cái đẻ càng nhiều thì cơ thể càng co lại, đến cuối chu kỳ sinh sản cơ thểtrƣởng thành cái chỉ còn lại lớp vỏ xác màu xám tối. 4. KẾT LUẬN Loài rệp sáp giả mới xuất hiện trên cây đu đủ ở nhiều vùng trồng cây đu đủ ở ngoại thành Hà Nội đƣợc xác định là loài Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink. Loài rệp sáp giả đu đủ này có nguồn gốc ở Mexico và Trung Mỹ. Đây là loài côn trùng ngoại lai đối với Việt Nam và đƣợc tài liệu hóa chính thức về sự hiện diện của nó trong khu hệ côn trùng Việt Nam từ năm 2014 với góc độ là sâu hại cây sắn. Kết quả nghiên cứu này là tài liệu chính thức lần đầu ghi nhận loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus là sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chen S.P., J.Y. Wong, W.J. Wu, 2011. J. Taiwan Agric.Res., 60(1): 72-76. 2. Galanihe L.D., M.U.P. Jayasundera, A. Vithana, N. Asselaarachchi, G.W. Watson, 2010. Trop. Agric. Research & Extension, 13(3): 81-86. 3. Phạm Văn Lầm, 2013. Các loài côn tr ng và nhện nhỏ g y hại c y trồng phát hiện ở Việt Nam. Quyển 1. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội. 4. Miller D.R. and G.L. Miller, 2002. Proc. of the Entomol. Soc. of Washington., Vol. 104(1): 1-23. 5. Muniappan R., 2014. Papaya mealybug, Paracoccus marginatus. CRP-IPM Virginia Tech, USAID. May 15. 6. Lê Thị Tuyết Nhung, Phạm Văn Lầm, Kris Wyckhuys, 2014. Báo cáo khoa học H i nghị Côn tr ng học Quốc gia lần thứ 8, Hà Nội, ngày 10-11 tháng 4 năm 2014. Nxb Nông nghiệp: 140-146. 7. Seni A., S. Chongtham, 2013. Agri. Review, 34(3): 216-222 8. Sharma S., S. Bhatia, J. Sharma, S. Andotra, M. Sudan, K. Sharma, 2013. Munis Entomology & Zoology, 8(2): 664-671. 9. Williams D. J., 2004. Mealybug of southern Asia. United Selangor Press Sdn.Bhd. 10. Waston G.W. and L.R. Chandler, 1999. Identification of mealybugs important in Caribean Region. Egham, CABI, UK. 11. Williams and Watson, 1988. The scale insects of the Tropical South Pacific Region. Part 2. The Mealybugs (Pseudococcidae). CAB International Institute of Entomology. 12. Williams D.J. and M.C. Granara de Willink, 1992. Mealybugs of Central and South America. CAB International, Wallingford, Oxon, UK. 13. Wu F.Z, Z.H. Liu, H. Shen, F. Yu, J. Ma, X.N. Hu, L. Zeng, 2014. Florida Entomologist, 97(4): 1469-1473 Phản biện: TS. Nguyễn Thị Thủy

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgiam_dinh_loai_rep_sap_gia_thuoc_ho_pseudococcidae_homoptera.pdf
Tài liệu liên quan