KẾT LUẬN
Bằng phương pháp Real Time RT – PCR,
chúng tôi xác định được sự lưu hành của virus
cúm A/H5N1 tại vùng nghiên cứu, có 48 mẫu
dương tính với virus cúm type A trong tổng số
240 mẫu swab gộp thu thập tại các chợ đầu mối,
các điểm thu gom giết mổ gia cầm sống tại 4
tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình, Hà
Tĩnh, chiếm tỷ lệ 20% . Trong đó Thanh Hóa có
tỷ lệ lưu hành virus cúm A cao nhất (40%), thấp
nhất ở Hà Tĩnh, với tỷ lệ lưu hành là 8,33%.
Kết quả Real Time RT – PCR phát hiện được
12 mẫu dương tính với virus cúm subtype H5,
chiếm tỷ lệ 5%, phân bố ở tỉnh Thanh Hóa, các
tỉnh còn lại không có mẫu dương tính với cúm
A/H5. Xác định được 8 mẫu dương tính với cúm
N1, chiếm tỷ lệ 3,33%. Tỷ lệ này được phân bố
ở cả 3 đối tượng xét nghiệm ở tỉnh Thanh Hóa,
trong đó gà: 16,67%, vịt: 12,50% và môi trường
10,00%.
Chưa phát hiện thấy mẫu nào dương tính với
virus cúm A chủng độc lực cao là H7, N6, N9 tại
các điểm giám sát và tại thời điểm nghiên cứu.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, chưa phát
hiện thấy mẫu nhiễm virus cúm A/H7N9 hay A/
H7N6 tại Việt Nam.
Tuy nhiên, có thể nói rằng dịch cúm gia cầm
đã trở thành dịch địa phương lưu hành rộng rãi
tại các tỉnh vùng Bắc Trung bộ và nguy cơ dịch
bệnh này xảy ra trong thời gian tới là rất cao.
Đây là cơ sở để các địa phương có dịch cần có
biện pháp tốt nhất để phòng chống dịch./.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giám sát sự lưu hành của virus cúm A/H5NX ở gia cầm tại các chợ buôn bán gia cầm sống và các điểm thu gom giết mổ ở khu vực Bắc Trung Bộ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
12
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
GIAÙM SAÙT SÖÏ LÖU HAØNH CUÛA VIRUS CUÙM A/H5NX
ÔÛ GIA CAÀM TAÏI CAÙC CHÔÏ BUOÂN BAÙN GIA CAÀM SOÁNG VAØ CAÙC ÑIEÅM
THU GOM GIEÁT MOÅ ÔÛ KHU VÖÏC BAÉC TRUNG BOÄ
Võ Thị Hải Lê1, Nguyễn Bá Hiên2
TÓM TẮT
Với mục đích phát hiện và giám sát sự lưu hành của virus cúm A tại 4 tỉnh Bắc Trung bộ (Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), chúng tôi đã thu thập 240 mẫu swab hầu họng gà, vịt và môi
trường tại 7 chợ đầu mối, điểm thu gom giết mổ gia cầm trong thời gian từ tháng 4/2017 - 6/2017.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 48 mẫu dương tính với virus cúm type A, chiếm tỷ lệ 20% và có mặt
ở tất cả các tỉnh thành nghiên cứu. Có 12 mẫu dương tính virus cúm subtype H5, chiếm tỷ lệ 5,00%
phân bố ở các chợ đầu mối Thanh Hóa. Ở các tỉnh khác không có mẫu nào dương tính với virus cúm
subtype H5. Đã phát hiện được 8 mẫu dương tính với virus cúm subtype N1, chiếm tỷ lệ 3,33%, phân
bố ở cả 3 loại mẫu thu thập, trong đó mẫu thu từ gà nhiễm 4/24 mẫu dương tính, chiếm 16,67%, mẫu
thu từ vịt nhiễm 2/16, chiếm 12,50%, mẫu môi trường 2/20, chiếm 10,00%.
Từ khóa: sự lưu hành, virus cúm A, H5N1, gà, vịt.
Surveillance on prevalence of A/H5NX virus at live poultry markets and
slaughter sites in Northern central region
Vo Thi Hai Le, Nguyen Ba Hien
SUMMARY
240 poultry throat swab and environmental samples were collected from the live poultry
markets and slaughter sites in 4 provinces (Thanh Hoa, Nghe An, Ha Tinh, Quang Bình) in the
Northern Central region in April - June 2017 for determining the prevalence of avian influenza A
virus. The studied result showed that there were 48 positive samples with influenza type A virus
out of 240 samples, accounting for 20.00 % and this virus presented in all studied provinces.
There were 12/240 (5.00%) positive samples with subtype H5 virus, distributing in the poultry
wholesale markets in Thanh Hoa province. There was not positive samples with influenza
subtype H5 virus presenting in other provinces. There were 8 positive samples with influenza
subtype N1 virus detected, accounting for 3.33%, distributing in all three kinds of samples, of
which, there were 4 positive samples out of 24 samples collecting from chickens (accounting for
16.67%), 2 positive samples out of 16 samples collecting from ducks, accounting for 12.50%,
and 2 positive samples out of 20 samples collecting from environment, accounting for 10.00%.
Keywords: Prevalence, influenza A virus, H5N1, chicken, duck.
1. Khoa Nông Lâm Ngư – Đại học Kinh tế Nghệ An
2. Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, dịch cúm gia cầm (CGC) độc
lực cao do virus cúm type A/H5N1 gây ra từ
cuối năm 2003 và đầu năm 2004. Đặc biệt hơn,
bệnh cúm đang ngày càng trở nên nguy hiểm khi
virus CGC “vượt hàng rào về loài”, thích nghi
gây bệnh ở người với tỷ lệ tử vong cao, như virus
cúm type A/H7N9 gây tử vong hàng trăm người
ở Trung Quốc [7]. Trong năm 2015 và đầu năm
2016, các chủng virus cúm gia cầm được ghi
13
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
nhận là gia tăng cả về số lượng ổ dịch và số quốc
qua ghi nhận. Theo Tổ chức Nông lương Thế
giới (FAO), đã xuất hiện một số chủng virus mới
như cúm A/H5N6, cúm A/H5N2, cúm A/H5N8
bên cạnh các chủng virus cúm A/H5N1, cúm A/
H7N9 vẫn đang lưu hành. Nhiều nghiên cứu cho
thấy có nhiều dòng cúm A với các subtype khác
nhau đã lưu hành trong khu vực cũng như đã
thâm nhập vào Việt Nam [8] . Đặc biệt virus
cúm type A là type thường xuyên có sự biến đổi
thành chủng có độc lực cao, lây truyền rộng rãi
cho nhiều loài động vật, kể cả người, ảnh hưởng
đến sức khỏe cộng đồng. Với 18 chủng kháng
nguyên H (trong đó H16 được phát hiện ở Thụy
Điển và Na Uy năm 2004; H17 ở dơi ăn quả
năm 2012; H18 được phát hiện năm 2013) [4]
và 9 chủng kháng nguyên N virus cúm type A
có thể có nhiều loại subtype như: H1N1, H2N2,
H3N2, H5N1, H7N9, H5N6,Một số subtype
đã gây nên các đại dịch cúm cho người và động
vật như H2N2, H3N8, H1N1, H5N7,Virus
cúm các subtype H5, H7, N9 gây bệnh chủ yếu
cho gà, vịt, ngan, ngỗng, vịt trời, các loài chim.
Virus còn có khả năng gây nhiễm cho người.
Vì vậy, việc phòng chống virus cúm càng trở
nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết
(Lê Văn Năm, 2004) [9]. Mặc dù cơ chế xâm
nhập và lây lan của virus vẫn còn chưa được
xác định rõ, nhưng khả năng virus tiếp tục tái
xuất hiện sẽ có thể làm phức tạp thêm cho công
tác phòng chống CGC ở Việt Nam.
Từ đầu năm 2017 cho đến nay, trên địa bàn
cả nước đã xảy 12 ổ dịch CGC A/H5N1 tại các
tỉnh: Nghệ An, Bạc Liêu, Nam Định, Sóc Trăng,
Đồng Nai và An Giang và 1 ổ dịch CGC do
virus A/H5N6 tại tỉnh Quảng Ngãi. Trong đó,
trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã xảy ra 6 ổ dịch
CGC A/H5N1 tại xã Thuận Sơn (huyện Đô
Lương); các xã Diễn Thắng, Diễn Lộc, Diễn
Nguyên và Diễn Cát (huyện Diễn Châu) và tại
phường Đông Vĩnh (thành phố Vinh) làm tổng
số 7.854 con gia cầm mắc bệnh và phải tiêu hủy
(nguồn: Chi cục thú y vùng III) [5]. Bên cạnh
đó, diễn biến phức tạp của virus cúm A/H7N9,
A/H5N2 và A/H5N8 ở Trung Quốc gần đây cho
thấy virus cúm A/H7N9 có tiềm năng gây thành
đại dịch [8].
Để phát hiện và theo dõi sự biến đổi của
virus CGC A/H5N1, A/H5N6, A/H7N9 và một
số chủng virus cúm nguy hiểm tại Việt Nam,
đồng thời tăng cường giám sát virus CGC có
nguy cơ xâm nhiễm vào Việt Nam, chúng tôi
thực hiện chương trình giám sát virus cúm trên
gia cầm (gà, vịt) và môi trường tại các chợ, điểm
thu gom, buôn bán gia cầm sống và các điểm
thu gom giết mổ gia cầm trên địa bàn 4 tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
nhằm mục đích: Theo dõi sự lưu hành của virus
cúm A/H5, đồng thời phát hiện sự xâm nhập và
lưu hành của các chủng virus cúm mới lưu hành
tại các địa phương có nguy cơ cao trong vùng
Bắc Trung bộ.
II. NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng
Gà, vịt sống được bán tại các chợ, điểm giết
mổ ở 4 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và
Quảng Bình. Lồng nhốt gia cầm tại các chợ.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Xác định sự lưu hành của virus cúm A/H5Nx.
2.3. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu
2.3.1. Phương pháp lấy mẫu
Mẫu swab được lấy theo phương pháp ngẫu
nhiên. Chọn mẫu có chủ đích ở 4 tỉnh Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình. Lượng
mẫu được lấy làm tròn là 1.200 mẫu đơn, do đó
số mẫu cần lấy: 60 mẫu gộp/tỉnh (40 mẫu swab
hầu họng và 20 mẫu môi trường). Tổng số mẫu
cần lấy là 240 mẫu gộp.
14
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Thu mẫu dịch ngoáy hầu họng (mẫu swab):
Lấy theo quy trình lấy mẫu và xét nghiệm mẫu
(gà, vịt và môi trường) trong Chương trình giám
sát CGC năm 2017-2018 hiện đang sử dụng tại
các Trung tâm chẩn đoán, Chi cục thú y vùng.
Mẫu môi trường: Lấy từng que tăm bông
quệt tại 4 góc dưới lồng và 1 điểm giữa lồng,
gộp 5 que này vào cùng một ống tại thực địa (ưu
tiên lấy mẫu phân tươi, nơi có khả năng cao tìm
thấy được virus).
2.3.2. Xử lý và bảo quản mẫu
Mẫu swab (mẫu họng và phân tươi) được
bảo quản ở 4ºC và vận chuyển đến phòng xét
nghiệm trong vòng 24 giờ sau khi lấy mẫu. Sau
đó xử lý mẫu theo quy trình TCVN 8400: 26 –
2013 [12].
- Xử lý mẫu: cho dung dịch PBS (pH 7,2
– 7,4) vào ống chứa mẫu bệnh phẩm, bổ sung
thêm kháng sinh theo tỷ lệ 1 : 10. Lắc ống chứa
tăm bông dịch ngoáy bằng máy lắc trong 15
giây, sau đó ly tâm ống ở tốc độ 8000 vòng/phút
trong 15 giây.
- Dùng pipet hút dịch trong ống chuyển sang
2 ống 1,5 ml. Một ống dùng cho các xét nghiệm
Realtime RT-PCR, phân lập virus trên tế bào
hoặc phân lập trên trứng; ống còn lại dùng làm
mẫu lưu bảo quản ở nhiệt độ - 80 oC.
2.3.3. Thời gian lấy mẫu
Chia làm 3 đợt, đợt 1 từ 25 – 28/4/2017, đợt
2: 5/5/2017 và đợt 3: 5 – 6/6/2017.
2.4. Phương pháp xét nghiệm
Real-time RT-PCR được sử dụng để phát
hiện gen M, H5, N1, N6 và phát hiện thêm các
gen H7, N9. Phương pháp này được tiến hành
theo các bước sau:
RNA của virus được tách chiết bằng QIAamp.
Mẫu RNA sau khi tách chiết sẽ được hỗn hợp với
các thành phần: 2X Reaction Mix, Primer, Probe,
Platinum Taq, nước. Tiến hành phản ứng khuếch
đại sản phẩm trong máy Realtime RT –PCR với
chu kỳ nhiệt 50oC trong 15 phút và 95oC trong 2
phút, chu kỳ 95oC trong 10 giây và 58oC trong 50
giây, lặp lại 40 chu kỳ.
- Lựa chọn đoạn mồi (primers) và mẫu dò
(probe) cho phản ứng Realtime RT-PCR: dựa
trên kết quả báo cáo trong khuôn khổ giám sát
và phát hiện CGC có độc lực cao, chúng tôi lựa
chọn mồi và mẫu dò phù hợp với các chủng
virus đang lưu hành là H5, N1 và phát hiện thêm
H7, N9 và H9. Trình tự các cặp mồi và mẫu dò
phát hiện gen M virus cúm A và các gen H5,
N1 dùng trong phản ứng Real time RT-PCR như
bảng sau.
- Đọc kết quả: Mẫu đối chứng dương tính
(chuẩn độ trước) có giá trị Ct ≤ 25 (± 2 Ct), mẫu
đối chứng âm không có Ct. Mẫu có giá trị Ct ≤
35 được coi là dương tính. Mẫu không có Ct là
âm tính. Mẫu có giá trị
35< Ct ≤ 40 được coi
là nghi ngờ. Những mẫu nghi ngờ cần được xét
nghiệm lại bằng phương pháp khác (phân lập
virus) để khẳng định.
- Tính toán kết quả : tỷ lệ nhiễm (tỷ lệ dương
tính) được tính theo công thức:
Tỷ lệ nhiễm (%) = (Số mẫu dương tính/số
mẫu xét nghiệm)x 100.
- Kết quả xét nghiệm được xử lý trên Excel.
15
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Nguồn Primer/Probe Trình tự (5
’-3’)
Modification
5’ 3’
M-4
(CDC)
Đoạn dò FAM-TGCAGTCCTCGCTCACTGGGCACG-BHQ1 FAM BHQ1
Mồi xuôi CATGGARTGGCTAAAGACAAGACC None None
Mồi ngược AGGGCATTTTGGACAAAKCGTCTA None None
H5-9s
(AAHl +CDC)
Đoạn dò FAM-TCAACAGTGGCGAGTTCCCTAGCA-BHQ1 FAM BHQ1
Mồi xuôi ACATATGACTACCCACARTATTCAG None None
Mồi ngược 1 AGACCAGCTAYCATGATTGC None None
Mồi ngược 2 AAACCAGCCACTATGATTGC None None
N1-2
(CHINA)
Đoạn dò FAM-TGGTCTTGGCCAGACGGTGC-BHQ1 FAM BHQ1
Mồi xuôi TGGACTAGTGGGAGCAGCAT None None
Mồi ngược TGTCAATGGTTAAGGGCAACTC None None
N6-1
AAHl
Đoạn dò FAM-CCAATAACAGGAGGGAGCCCAGACCC-BHQ1 FAM BHQ1
Mồi xuôi CCCCACCAATGGGAACTG None None
Mồi ngược TCTAGGAATGCAAACCCTTTTACC None None
H7-6 (CODA)
Đoạn dò 5’-FAM- TGGTTTAGCTTCGGGGCATCATG -BHQ1-3’ FAM BHQ1
Mồi xuôi 5’- GYAGYGGYTACAAAGATGTG -3’ None None
Mồi ngược 5’- GAAGACAAGGCCCATTGCAA -3’ None None
N9-1
(CNIC)
Đoạn dò 5’-FAM- AGACAATCCCCGACCGAATGACCC -BHQ1-3’ FAM BHQ1
Mồi xuôi 5’- TAGCAATGACACACACTAGTCAAT -3’ None None
Mồi ngược 5’- ATTACCTGGATAAGGGTCATTACACT -3’ None None
(Nguồn : FAO – 2016)
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả lấy mẫu tại các tỉnh
Trong quá trình thu mẫu từ tháng 4 đến tháng
6/2017, chúng tôi thực hiện thu thập mẫu swab
ở gia cầm và mẫu môi trường tại các chợ buôn
bán gia cầm, các chợ đầu mối, các điểm giết
mổ gia cầm. Mẫu được lấy trong 3 đợt, đợt 1
từ 25 – 28/4/2017, đợt 2: 5/5/2017 và đợt 3 từ
5 – 6/6/2017.
Bảng 1. Kết quả thu thập mẫu tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình
Tỉnh Tên chợ
Số mẫu (mẫu swab gộp)
Gà Vịt Môi trường Tổng
Thanh Hóa Đầu mối 24 16 20 60
Nghệ An Dàn 6 7 5 18
Phủ Diễn 16 2 9 27
Diễn Hồng 9 0 6 15
Hà Tĩnh Gát 7 0 8 15
Thành phố 33 0 12 45
Quảng Bình Đồng Hới 40 0 20 60
Tổng 135 25 80 240
16
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Bảng 1 cho thấy đã thu thập được tổng số
240 mẫu swab gộp trên 3 đối tượng là gà, vịt và
môi trường, trong đó số mẫu swab hầu họng gà
là 135, vịt là 25, mẫu môi trường là 80. Các chợ
nơi thu thập mẫu đều là các chợ đầu mối có mật
độ buôn bán gia cầm sống nhộn nhịp, đặc biệt
là chợ đầu mối của tỉnh Thanh Hóa. Chúng tôi
lấy mẫu dịch swab gia cầm chủ yếu tại các hộ
buôn bán gia cầm thường xuyên, qua trao đổi
thông tin, chúng tôi nhận thấy, gia cầm được thu
gom từ nhiều nguồn khác nhau, từ các hộ nuôi
gia cầm trong khu vực hoặc từ các điểm lân cận.
Tuy nhiên số lượng, nguồn gốc gia cầm chưa
được thống kê đầy đủ do kiểm soát số lượng gia
cầm qua chợ rất khó khăn.
3.2. Kết quả giám sát cúm gia cầm tại các tỉnh
Chúng tôi xác định sự có mặt của virus cúm A
trong 240 mẫu swab bằng phương pháp Real Time
RT – PCR. Kết quả được trình bày ở bảng 2.
Bảng 2. Kết quả xét nghiệm virus cúm type A trong các mẫu thu được
Tỉnh Đối tượng xét nghiệm
Số mẫu
xét nghiệm
Kết quả xét nghiệm
Số mẫu (+) Tỷ lệ (%)
Thanh Hóa
Gà 24 12 50,00
Vịt 16 8 50,00
Môi trường 20 4 20,00
Tổng 60 24 40,00
Nghệ An
Gà 31 7 22,58
Vịt 9 2 22,22
Môi trường 15 1 6,67
Tổng 60 10 16,67
Hà Tĩnh
Gà 40 4 10,00
Môi trường 20 1 5,00
Tổng 60 5 8,33
Quảng Bình
Gà 40 8 20,00
Môi trường 20 1 5,00
Tổng 60 9 15,00
Tổng chung 240 48 20,00
Kết quả bảng 2 cho thấy ở tất cả các chợ,
điểm giết mổ đều phát hiện thấy có mẫu dương
tính với cúm A. Trong tổng số 240 mẫu thu
thập được, có 48 mẫu dương tính với virus cúm
type A, chiếm tỷ lệ 20%, và có mặt ở tất cả các
tỉnh/thành trong chương trình giám sát. Số mẫu
dương tính với virus cúm type A được phát
hiện trên tất cả các loại đối tượng lấy mẫu với
tỷ lệ khác nhau; gà có tỷ lệ cao nhất với 31/48
mẫu dương tính (64,58%), tiếp đó là vịt có tỷ lệ
10/48 mẫu dương tính (20,83%), mẫu lấy từ môi
trường có tỷ lệ 7/48 mẫu dương tính (14,58%).
Tỷ lệ dương tính với cúm A tại các tỉnh là khác
nhau.
Tỉnh Thanh Hóa có 24/48 mẫu dương tính,
chiếm tỷ lệ 50%. Tiếp đó là Nghệ An có 10/48
mẫu dương tính, chiếm 20,83%, Quảng Bình có
9/48 mẫu dương tính, chiếm 18,75%, và thấp
nhất ở Hà Tĩnh có 5/48 mẫu dương tính với cúm
A, chiếm tỷ lệ 10,41%. Sự sai khác về tỷ lệ lưu
hành virus cúm A giữa các tỉnh là có ý nghĩa
thống kê (p <0,05). Sự sai khác này có thể được
giải thích là do sự lưu thông buôn bán gia cầm
sống và giết mổ tại các chợ là khác nhau. Đặc
17
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
biệt chợ đầu mối ở thành phố Thanh Hóa có mật
độ lưu thông buôn bán, thu gom và giết mổ rất
nhộn nhịp, đây cũng là đầu mối thu gom gia cầm
từ các tỉnh như Hà Nam, Nam Định, Nghệ An,
mỗi ngày lượng gia cầm lưu thông lên đến hàng
nghìn con gia cầm các loại. Gia cầm được các
tiểu thương thu gom từ các hộ chăn nuôi ở nhiều
nơi khác nhau, sau đó tập trung đưa về chợ. Từ
đây gia cầm lại được mua bán và vận chuyển đi
nơi khác. Đó là một trong những nguyên nhân
làm cho tỷ lệ mẫu dương tính với virus cúm type
A cao hơn ở các nơi khác.
Tỷ lệ nhiễm virus cúm type A chênh lệch
giữa gà và vịt khá cao, lần lượt là 64,58% và
20,83%, điều này cho thấy sự lưu hành virus
cúm A trên gà cao hơn trên vịt, đây đều là những
động vật cảm nhiễm cao nhất với virus cúm gia
cầm. Các mẫu thu thập từ môi trường có tỷ lệ
lưu hành virus cúm type A là 14,58%, mẫu môi
trường được thu gom từ phân của gia cầm ở các
vị trí khác nhau trong lồng nhốt gia cầm, đây là
các dụng cụ nuôi nhốt gia cầm dùng trong buôn
bán tại các chợ, không được tiêu độc khử trùng
nên là nguồn reo rắc mầm bệnh ra môi trường,
rất khó để kiểm soát.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
sự lưu hành của virus cúm A có tỷ lệ 20,00%,
thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan
và cs (2017) [10] khi tiến hành giám sát sự lưu
hành của virus tại một số chợ ở các tỉnh phía
Bắc giáp Trung Quốc, nhóm tác giả cho biết, tỷ
lệ lưu hành virus cúm A là 22,86%.
3.3. Xác định virus cúm subtype H5, H7
Trong quá trình xét nghiệm, tất cả các mẫu
dương tính với virus cúm type A được chúng tôi
xác định subtype H5 và H7 bằng kỹ thuật Real
time RT – PCR. Kết quả xét nghiệm được trình
bày ở bảng 3.
Bảng 3. Kết quả xét nghiệm virus cúm subtype H5, H7 với các mẫu thu được
bằng phương pháp Real Time RT - PCR
Tỉnh Đối tượng xét nghiệm
Số mẫu
xét nghiệm
Số mẫu dương tính
A H5 H7
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Thanh Hóa
Gà 24 12 50,00 6 25,00 0 0
Vịt 16 8 50,00 3 18,75 0 0
Môi trường 20 4 20,00 3 15,00 0 0
Tổng 60 24 40,00 12 20,00 0 0
Nghệ An
Gà 31 7 22,58 0 0 0 0
Vịt 9 2 22,22 0 0 0 0
Môi trường 15 1 6,67 0 0 0 0
Tổng 60 10 16,67 0 0 0 0
Hà Tĩnh
Gà 40 4 10,00 0 0 0 0
Môi trường 20 1 5,00 0 0 0 0
Tổng 60 5 8,33 0 0 0 0
Quảng Bình
Gà 40 8 20,00 0 0 0 0
Môi trường 20 1 5,00 0 0 0 0
Tổng 60 9 15,00 0 0 0 0
Tổng chung 240 48 20,00 12 5,00 0 0
18
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Bảng 3 cho thấy có sự lưu hành của virus cúm
subtype H5 tại tỉnh Thanh Hóa, các mẫu dương tính
với cúm A ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình âm tính với subtype H5. Tại tỉnh Thanh Hóa
có 12 mẫu dương tính với cúm subtype H5 ở trên cả
3 đối tượng lấy mẫu giám sát, chứng tỏ tại tỉnh này
virus subtype H5 lưu hành rộng khắp. Virus cúm
A/H5 được đánh giá là loại virus có kháng nguyên
độc lực cao, có khả năng gây bệnh nặng ở các cơ
quan, gây nên dịch cúm ở người và gia cầm.
Trong tổng số 240 mẫu gộp được xét nghiệm tại
4 tỉnh Bắc Trung bộ, có 12 mẫu dương tính với cúm
subtype H5, chiếm tỷ lệ 5,00%. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu
của Nguyễn Thị Lan và cs (2017) [10], khi tác giả
thông báo: virus cúm type A/H5 lưu hành rộng rãi
ở một số tỉnh biên giới giáp Trung Quốc, trong tổng
số 1500 mẫu swab hầu họng gia cầm, có 69 mẫu
dương tính với cúm subtype H5, chiếm tỷ lệ 4,60%.
Tuy nhiên, các đối tượng xét nghiệm là gà, vịt,
môi trường trong nghiên cứu của chúng tôi có tỷ
lệ lưu hành virus cúm subtype H5 cao hơn, với tỷ
lệ lần lượt là 25,00%; 18,75% và 15,00% so với
kết quả của nhóm tác giả trên, đối tượng gà, vịt có
tỷ lệ nhiễm bằng nhau với 30/525 mẫu bệnh phẩm
dương tính, chiếm 5,71%.
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, sự lưu
hành virus cúm A/H5 cao tại tỉnh Thanh Hóa là
nguy cơ gây bùng phát dịch cúm gia cầm bất cứ lúc
nào tại tỉnh này và có thể lan ra các vùng lân cận.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy không có
mẫu nào dương tính với virus cúm subtype H7 trên
tổng số 48 mẫu dương tính với cúm type A.
3.4. Xác định virus cúm subtype N1, N6, N9
Chúng tôi tiếp tục tiến hành xét nghiệm các mẫu
swab dương tính với virus cúm type A để phát hiện
sự lưu hành của virus cúm subtype N1, N6 và N9
tại các chợ buôn bán gia cầm sống, các điểm thu
gom giết mổ gia cầm trên địa bàn 4 tỉnh giám sát.
Kết quả được trình bày tại bảng 4.
Bảng 4. Kết quả xét nghiệm virus cúm subtype N1, N6, N9 với các mẫu thu được
bằng phương pháp Real Time RT – PCR
Tỉnh
Đối
tượng
xét
nghiệm
Số
mẫu
xét
nghiệm
Số mẫu dương tính
A N1 N6 N9
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Thanh
Hóa
Gà 24 12 50,00 4 16,67 0 0 0 0
Vịt 16 8 50,00 2 12,50 0 0 0 0
Môi
trường 20 4 20,00 2 10,00 0 0 0 0
Tổng 60 24 40,00 8 13,33 0 0 0 0
Nghệ
An
Gà 31 7 22,58 0 0 0 0 0 0
Vịt 9 2 22,22 0 0 0 0 0 0
Môi
trường 15 1 6,67 0 0 0 0 0 0
Tổng 55 10 18,18 0 0 0 0 0 0
Hà
Tĩnh
Gà 40 4 10,00 0 0 0 0 0 0
Môi
trường 20 1 5,00 0 0 0 0 0 0
Tổng 60 5 8,33 0 0 0 0 0 0
Quảng
Bình
Gà 40 8 20,00 0 0 0 0 0 0
Môi
trường 20 1 5,00 0 0 0 0 0 0
Tổng 60 9 15,00 0 0 0 0 0 0
Tổng chung 240 48 20,0 8 3,33 0 0 0 0
19
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
Kết quả cho thấy, trong số 48 mẫu dương tính
với cúm A thì có 8 mẫu dương tính với subtype
N1, trong 4 tỉnh lấy mẫu giám sát, chỉ có Thanh
Hóa là tỉnh có mẫu bệnh phẩm dương tính với
subtype N1, các tỉnh còn lại không có. Không
có mẫu nào dương tính với subtype N6 và N9.
Điều này chứng tỏ, ngoài sự lưu hành của virus
cúm type A/H5N1 thì còn có sự lưu hành của
chủng H5Nx nào đó chưa xác định được. Trong
8 mẫu dương tính với cúm A/H5N1 có nguồn
gốc từ cả 3 loại đối tượng xét nghiệm, trong đó
gà có 4/24 mẫu dương tính, tỷ lệ 16,67%, vịt
có 2/16, chiếm 12,50%, mẫu môi trường 2/20,
chiếm tỷ lệ 10,00%.
Đối với các mẫu dương tính với cúm A/
H5N1 tại Thanh Hóa, theo thông tin từ các chủ
hộ buôn bán, thì gia cầm có nguồn gốc từ các
huyện Thọ Xuân, Nông Cống, Quảng Xương và
Thiệu Hóa. Ở tỉnh Thanh Hóa, tỷ lệ các mẫu
dương tính với virus cúm A/H5N1 cao hơn so
với các điểm buôn bán, thu gom gia cầm ở các
tỉnh khác, sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p<
0,005). Thực tế cho thấy chợ đầu mối ở tỉnh
Thanh Hóa là một chợ có quy mô rất lớn, tập
trung nhiều tiểu thương buôn bán gia cầm, được
thu gom từ các địa bàn trong toàn tỉnh, nên khả
năng xác định được cúm A/H5N1 cao gấp nhiều
lần so với các tỉnh khác.
Nghiên cứu trên 2 loại mẫu swab và mẫu
môi trường, kết quả cho thấy: sự lưu hành virus
cúm A trên mẫu hầu họng cao hơn trên mẫu môi
trường, sự so sánh là có ý nghĩa thống kê (p <
0,00329).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ
lệ lưu hành virus cúm A/H5N1 ở gà và vịt cao
hơn so với nghiên cứu của Tiền Ngọc Tiên và cs
(2016) [11], các tác giả cho biết tỷ lệ lưu hành
virus cúm A/H5N1 ở gia cầm là 6,5%, tỷ lệ lưu
hành trên vịt là 9,7% và trên gà là 4%.
Kết quả giám sát 15.420 mẫu swab cúm
gia cầm của Cục Thú y (do FAO hỗ trợ thực
hiện) tại 68 chợ buôn bán gia cầm sống trên địa
bàn 32 tỉnh/thành phố trong cả nước từ tháng
12/2015 đến tháng 2/2016 cho thấy có 91%
số tỉnh, thành có virus cúm A, 53% số tỉnh có
virus H5N6 và 19% số tỉnh có virus H5N1. Tỷ
lệ dương tính trên gà bán tại các chợ đối với
virus H5N1 là 0,19%, virus H5N6 là 1,32%. Tỷ
lệ dương tính trên vịt bán tại chợ đối với virus
H5N1 là 2,21%, virus H5N6 là 5,32% [6]. So
với nghiên cứu của chúng tôi thì gà có tỷ lệ lưu
hành H5N1 là 16,67%, vịt là 12,50%, cao hơn
so với công bố của Cục Thú y, có thể do ở thời
điểm lấy mẫu, các điểm này là điểm nóng về
nguy cơ bùng phát dịch cúm gia cầm, nên gà, vịt
có tỷ lệ nhiễm cao.
Kết quả xét nghiệm cho thấy không có mẫu
dương tính với virus cúm subtype H7, N6, N9 ở
tất cả các mẫu xét nghiệm.
Kết quả xét nghiệm 202.370 mẫu các loại
(mẫu swab hầu họng gia cầm, mẫu môi trường,
mẫu nước thải) lấy tại hơn 200 chợ, điểm buôn
bán gia cầm của 22 tỉnh/thành phố trên cả nước
của Cục Thú y từ năm 2013 – 12/2016, cho thấy:
chưa có mẫu nào dương tính với virus cúm A/
H7N9 [7].
Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, chưa
phát hiện virus cúm A/H7N9 ở Việt Nam. Tuy
nhiên theo nhận định của nhiều chuyên gia,
nguy cơ virus cúm A/H7N9 xâm nhập vào Việt
Nam là rất cao. Nghiên cứu về việc vận chuyển
gà thải loại từ Trung Quốc vào Việt Nam cho
thấy tiềm ẩn nguy cơ mang theo virus cúm A/
H7N9 nói riêng và các chủng virus cúm gia cầm
khác nói chung. Tổ chức FAO nhận định Việt
Nam là một trong những nước thuộc khu vực
Đông Nam Á có nguy cơ cao lây nhiễm virus
cúm A/H7N9 từ Trung Quốc, vì vậy việc giám
sát sự lưu hành của virus cúm type A các chủng
độc lực cao như H5, H7, N6, N9 tại các địa bàn
trong cả nước là cần thiết.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, sự lưu
hành của virus cúm type A/H5N1 tại các tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình
trong khoảng thời gian từ tháng 4 – 5/2017 là
không cao, nhưng có sự phân bố ở tất cả các đối
tượng xét nghiệm (gà, vịt, môi trường). Vì vậy,
việc nâng cao ý thức, nâng cao hiểu biết về sự
20
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
nguy hiểm của virus cúm đối với người chăn
nuôi, các hộ buôn bán gia cầm sống, việc vận
chuyển gia cầm là vô cùng quan trọng. Bởi lẽ
khi nhiễm virus cúm gia cầm ở dạng tiềm ẩn mà
không thể kiểm soát được sẽ là nguồn reo rắc
mầm bệnh ra môi trường, truyền sang cho gia
cầm khỏe. Chỉ cần có một ổ dịch cúm gia cầm
xuất hiện thì nguy cơ lây lan ra một khu vực
rộng lớn là rất cao và gây thiệt hại nghiêm trọng.
Mặc dù hiện nay Việt Nam đã sử dụng nhiều
biện pháp để phòng chống CGC, nhưng tình
trạng chăn nuôi nhỏ lẻ, vận chuyển buôn bán
gia cầm sống tại các chợ đầu mối, điểm thu gom
gia cầm giết mổ còn bừa bãi, tùy tiện là nguyên
nhân của các ổ dịch rải rác tại các hộ chăn nuôi
nhỏ lẻ tại địa phương, theo nhận định của Cục
Thú y (2016) [6], có các lý do sau: (a) Thời tiết
bất lợi và diễn biến bất thường làm giảm sức
đề kháng của gia cầm; (b) Virus cúm A/H5N1
và A/H5N6 lưu hành rộng khắp ở các chợ buôn
bán gia cầm sống của nhiều tỉnh/thành phố và
lây lan qua các hoạt động buôn bán, vận chuyển
gia cầm; (c) Các hoạt động vận chuyển, giết mổ
gia cầm và di chuyển của người dân gia tăng
trong dịp Tết, trong các hoạt động lễ hội đầu
năm mới; (d) Nhiều đàn gia cầm đã hết miễn
dịch hoặc mới được tái đàn sau dịp Tết nên dễ
bị cảm nhiễm virus; (e) Hệ thống mạng lưới thú
y cơ sở còn nhiều khó khăn, bất cập như: không
có thú y cơ sở hoặc có cán bộ thú y nhưng trình
độ chuyên môn yếu, chế độ thù lao cho thú y
cơ sở còn thấp. Chúng tôi khuyến cáo các cơ
quan chức năng cần có các biện pháp tổng hợp
và thực hiện nghiêm túc công tác phòng chống
dịch cúm gia cầm.
IV. KẾT LUẬN
Bằng phương pháp Real Time RT – PCR,
chúng tôi xác định được sự lưu hành của virus
cúm A/H5N1 tại vùng nghiên cứu, có 48 mẫu
dương tính với virus cúm type A trong tổng số
240 mẫu swab gộp thu thập tại các chợ đầu mối,
các điểm thu gom giết mổ gia cầm sống tại 4
tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Bình, Hà
Tĩnh, chiếm tỷ lệ 20% . Trong đó Thanh Hóa có
tỷ lệ lưu hành virus cúm A cao nhất (40%), thấp
nhất ở Hà Tĩnh, với tỷ lệ lưu hành là 8,33%.
Kết quả Real Time RT – PCR phát hiện được
12 mẫu dương tính với virus cúm subtype H5,
chiếm tỷ lệ 5%, phân bố ở tỉnh Thanh Hóa, các
tỉnh còn lại không có mẫu dương tính với cúm
A/H5. Xác định được 8 mẫu dương tính với cúm
N1, chiếm tỷ lệ 3,33%. Tỷ lệ này được phân bố
ở cả 3 đối tượng xét nghiệm ở tỉnh Thanh Hóa,
trong đó gà: 16,67%, vịt: 12,50% và môi trường
10,00%.
Chưa phát hiện thấy mẫu nào dương tính với
virus cúm A chủng độc lực cao là H7, N6, N9 tại
các điểm giám sát và tại thời điểm nghiên cứu.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, chưa phát
hiện thấy mẫu nhiễm virus cúm A/H7N9 hay A/
H7N6 tại Việt Nam.
Tuy nhiên, có thể nói rằng dịch cúm gia cầm
đã trở thành dịch địa phương lưu hành rộng rãi
tại các tỉnh vùng Bắc Trung bộ và nguy cơ dịch
bệnh này xảy ra trong thời gian tới là rất cao.
Đây là cơ sở để các địa phương có dịch cần có
biện pháp tốt nhất để phòng chống dịch./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Cúm gia
cầm (2014), “Báo cáo phòng chống dịch
Cúm gia cầm”.
2. Bộ NN & PTNT (2017), “Quy trình lấy mẫu
và xét nghiệm mẫu (gà, vịt và môi trường)
trong Chương trình giám sát CGC năm
2017-2018”. Công văn số 1665 /TY-DT .
3. Cảnh giác với bệnh cúm gia cầm A/H5N1
và H5N6 (2016),
gov.vn/So/sonongnghiepptnt /Trang/
ChiTietTinTuc.aspx?nid=5208, truy cập
ngày 22/9/2018.
4. Cấu tạo cúm gia cầm,
com/gia-cam/benh-gia-cam/cau-tao-virus-
cum-gia-cam.html, truy cập ngày 22/9/2018.
5. Cơ quan Thú y vùng III (2017) “Báo cáo kết
quả giám sát cúm gia cầm tại các chợ, điểm
21
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 1 - 2019
thu gom, buôn bán gia cầm sống vùng Bắc
Trung bộ”, Công văn số 1421/TYV3 – DT.
6. Cục Thú y (2016). Báo cáo chuyên đề công
tác thú y năm 2016 và kế hoạch công tác thú
y năm 2017.
7. Chủ động ứng phó với dịch cúm gia cầm,
ung-pho-voi-dich-cgc-.aspx, cập nhật ngày
23/9/2018.
8. Food and Agriculture Organizaiton animal
health service/ EMPRES (2017), cập nhật
ngày 22/2/2017. Cập nhật tình hình cúm gia
cầm tại Trung Quốc
gov.vn/Pages/cap-nhat-J27
9. tinh-hinh-cum-gia-cam-a-h7n9-tai-trung-
quoc-.aspx
10. Lê Văn Năm (2014), Bệnh cúm gia cầm, Tạp
chí Khoa học kỹ thuật thú y, XI (1); 81 – 86.
11. Nguyễn Thị Lan, Phạm Ngọc Thạch, Đào
Lê Anh, Trịnh Đình Thâu (2017). Giám sát
sự lưu hành virus cúm A (H5N1, H5N6 và
H7N9) tại một số chợ của các tỉnh biên giới
phía Bắc giáp Trung Quốc. Tạp chí Khoa
học Nông nghiệp Việt Nam, tập 15, số 2; 178
– 187.
12. Tiền Ngọc Tiên, Quách Thúy Lan, Nguyễn
Khoa và Lý Thị Liên Khai (2016). Sự lưu
hành và biến đổi di truyền của virus cúm
gia cầm Type A H5N1 trên gia cầm tại một
số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. Số
chuyên đề: Nông nghiệp (Tập 2): 142-151.
13. TCVN 8400-26:2013. Bệnh Động vật – Quy
trình chẩn đoán, phần 26: Bệnh cúm gia cầm
H5N1.
Ngày nhận 8-11-2017
Ngày phản biện 22-6-2018
Ngày đăng 1-1-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
giam_sat_su_luu_hanh_cua_virus_cum_ah5nx_o_gia_cam_tai_cac_c.pdf