4.3. Sâu đục trái: Glyphodes caesalis
4.3.1. Phân bố, ký chủ
Xuất hiện trên tất cả các vùng trồng mít, là loài sâu đa thực
4.3.2. Đặc điểm hình thái
- Sâu trưởng thành là loài bướm nhỏ, thân dài khoảng 12mm, sải cánh rộng 24mm,
màu vàng. Cánh trước và cánh sau có những vạch nâu màu sặc sỡ.
- Sâu non màu trắng, trên cơ thể có những chấm màu nâu đen, đầu màu vàng nâu,
đẫy sức dài 18 – 20mm. Nhộng màu nâu nhạt.
4.3.3. Tập tính sinh sống và gây hại
- Sâu non đục vào trong quả, ăn phần thịt dưới vỏ. Bên ngoài lỗ đục có phân thải ra
từng đám màu đen.
- Qủa bị hại vẫn tiếp tục phát triển, chỗ vết sâu đục thường bị thối làm giảm giá trị
của quả. Đẫy sức sâu non chui ra ngoài quả kéo tơ kết phân khô thành kén rồi hoá
nhộng trong đó.
4.3.4. Quy luật phát sinh phát triển
Bướm hoạt động ban đêm, đẻ trứng rải rác trên vỏ quả mít từ khi quả còn non.
4.3.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Nhặt bỏ tiêu huỷ các quả bị sâu hại từ khi còn nhỏ.
- Phun thuốc trừ sâu khi phát hiện có quả bị hại bằng các thuốc Basudin, Pyrinex,
Padan.
5. Thực hành
5.1. Nhận diện sâu hại chính trên cây ăn quả
5.2. Thực hiện các biện pháp quản lý, phòng trừ
117 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo trình Mô đun Bảo vệ thực vật - Côn trùng chuyên khoa - Trình độ Trung cấp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sử dụng thuốc ít có hiệu quả, vì loại sâu này có tính kháng
thuốc rất cao, nhất là với nhóm cúc tổng hợp. Hơn nữa thời điểm phun thuốc quyết
81
định rất nhiều sự thành công. Phải xác định phun thuốc lên cây cà chua khi trứng nở
để diệt sâu non vừa mới nở. Khi sâu đã chui vào quả mọi thứ thuốc đều không có tác
dụng. Khi đã ổn định chùm quả trên cây, tăng cường ngắt hoa hạn chế ngài đến đẻ
trứng. Những lúc này có thể an tâm không cần sử dụng thuốc nữa.
Một số thuốc có thể sử dụng : Pegasus 500DD sử dụng 10cc/bình, Sumi 5 EC dùng
7cc/bình; Abatin 5.4 EC
1.2. Sâu khoang: Spodoptera litura
1.2.1. Phân bố, ký chủ
Có phổ kí chủ rất rộng, có thể phá hại trên 300 loài cây khác nhau của 99 họ thực
vật: chủ yếu là bắp cải, bông cải, cải xanh, cải ngọt, cải rổ, cải củ, dưa leo, dưa hấu,
mướp, bí, bầu, khổ qua, đậu đũa, đậu côve, cà chua, cà bát, ớt, xà lách, tần ô, đậu bắp,
hành hoa, hành tây, rau muống
1.2.2. Đặc điểm hình thái
Hình 4.2. Trưởng thành sâu khoang
Ngài dài 16-21 mm. Cánh trước màu nâu vàng, vân ngang màu trắng bạc phía
ngoài mép. Ngài cái ở cuối bụng có chùm lông màu vàng nâu
Trứng hình bán cầu, được đẻ thành từng ổ có lông bao phủ.
Sâu non hình ống tròn, cơ thể dài 38 -51 mm, mặt lưng có nhiều vạch phụ, dọc 2
bên sườn bụng có 2 hàng vệt đen hình bán nguyệt không đều nhau
82
Nhộng dài 18 -20 mm, màu nâu tươi, đốt cuối bụng có 1 đôi gai ngắn
Hình 4.3. Sâu non sâu khoang
1.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Mức độ gây hại của sâu khoang khác nhau tùy theo tuổi. Sâu tuổi nhỏ ăn thịt lá
chừa lại biểu bì. Sâu tuổi lớn cắn ăn khuyết lá, cắn nụ hoa và đục khoét quả.
Ngài hoạt động về đêm, ưa mùi vị chua ngọt, có xu tính dương với ánh sáng đèn
Ngài có thể bay xa vài chục mét, bay cao 6 -7 m nên rất dễ phát tán lây lan gây hại
ở các khoảng cách xa.
Ngài cái sau vũ hóa thì ghép đôi và đẻ trứng ngay trong đêm hoặc đêm hôm sau, đẻ
trứng thành ổ lộ thiên ở trên bề mặt lá. Mỗi ổ trứng khoảng 1000 –1200/ quả.
Sâu non có 6 tuổi, tập tính sinh sống thay đổi tùy theo tuổi và mật độ quần thể. Sâu
tuổi 1,2 sống quần tụ xung quanh ổ trứng và chỉ ăn phần thịt lá làm chỗ bị hại có vết
úa vàng. Sâu tuổi 3 bắt đầu phân tán để tiếp tục gây hại.
1.2.4. Quy luật phát sinh phát triển
Điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát sinh gây hại là nhiệt độ khoảng 29 -30 oC và
ẩm độ > 90%.
Một năm có khoảng 8-10 lứa sâu khoang/ năm
1.2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Làm ải và xới xáo đất để diệt nhộng.
83
Dùng bẫy chua ngọt để thu bắt trưởng thành.
Ngắt ổ trứng và giết sâu non kịp thời.
Sử dụng thuốc nông dược. Các loại thuốc nông dược có thể sử dụng để phòng trừ sâu
khoang là: Abamectine (Abatin 5.4 EC); Emamectin benzoate (Map winner 5 WG)
1.3. Ruồi đục lá: Liriomyza sp.
2.1.1. Phân bố, ký chủ
Ruồi hại lá là loại dịch hại khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Lâu
nay mọi người chỉ quan tâm đến sự gây hại của dòi khi đục vào lá làm giảm diện tích
quang hợp. Nhưng thực ra trưởng thành cũng gây hại khi chúng lấy thức ăn bằng gai
đẻ trứng. Chúng gây ảnh hưởng đến chất lượng nhất là các loại rau, hoa.
2.1.2. Đặc điểm hình thái
Hình 4.4. Ruồi đục lá hoa cúc
Ban đầu đã xác định được 2 loại ruồi gây hại rau ở Lâm Đồng.
- Loại thứ nhất toàn thân màu đen, thon dài, có kích thước lớn hơn 2,8mm - 3,2mm,
loại này có nhộng màu đen, thường hóa nhộng ngay trong đường đục. Chúng có tên là
Ophiomyia phaseoli.
84
- Loại thứ hai có tên là Liriomyza huidobrensis có mắt kép đỏ, có sọc mờ ở hai
hông, chân màu đen, mảng lưng, ngực màu vàng sáng. Kết quả giám định này được
Trung tâm Đấu tranh Sinh học Thế giới (CABI) tại Malaysia giám định năm 1998.
2.1.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Triệu chứng đầu tiên là những chấm nhỏ màu trắng trên lá, nơi ruồi ăn và đẻ trứng.
Sau đó những đường đục ngoằn ngoèo, màu trắng xuất hiện do dòi tạo nên. Sự gây
hại tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm xâm nhập. Nếu bị hại nặng sẽ tạo nên hiện
tượng gọi là cháy lá, cây không có khả năng quang hợp dẫn đến còi cọc hoặc chết.
Tuy nhiên ở một số cây chỉ khi dòi đục lá gây hại nặng mới thực sự làm giảm năng
suất. Một số thí nghiệm đã cho thấy khi cắt 50% số lá ở giai đoạn 20 ngày sau trồng
cây cà chua vẫn cho năng suất bình thường.
Hình 4.5. Hoa cúc bị ruồi gây hại
2.1.4. Quy luật phát sinh phát triển
- Mỗi con cái có thể đẻ 250 quả trứng, sau 4 - 6 ngày thì trứng nở. Khi sâu non bắt
đầu ăn thì ở mặt trên của lá xuất hiện đường đục. Nó ăn từ 1 - 3 tuần, tùy thuộc vào
nhiệt độ, có thể thấy phân của sâu non ở bên trong đường đục. Nhộng màu đen hoặc
màu vàng, có thể hóa nhộng trong đường đục hoặc rớt xuống đất. Vòng đời của ruồi
hại lá trung bình từ 20 - 28 ngày
2.1.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
85
- Có một số giống cà chua kháng được ruồi, nhưng cơ chế kháng chưa được rõ
ràng, cần thử nghiệm với một số giống ở địa phương.
- Việc phá hủy các cây ký chủ phụ xung quanh ruộng cà trước khi trồng làm giảm
mật độ ruồi.
- Vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy tàn dư cây trồng, đây là biện pháp tích cực làm giảm
mật độ ruồi bởi vì một số lượng lớn nhộng còn tồn tại trong tàn dư cây trồng.
- Phủ đất bằng ni lông sau đó phơi nắng. Hoặc cho ngập nước trên ruộng khoảng
một ngày để tiêu diệt nhộng trong đất.
- Ruồi thường gây hại nặng vào tháng 2 đến tháng 5 trong năm nên cần theo dõi
chặt chẽ thời gian này, chăm sóc cây trồng tốt để cây có khả năng đền bù cao.
- Cắt tỉa và tiêu hủy những lá già dùng để ủ phân cũng làm giảm mật số ruồi.
- Dùng bẫy dính màu vàng để diệt ruồi trưởng thành. Đặc tính của ruồi trưởng
thành là thích màu vàng vì vậy làm các tấm màu vàng có keo dính sẽ tiêu diệt được
ruồi. Tuy nhiên biện pháp này có thể gây hại đến một số loại ong ký sinh, kể cả ong
ký sinh sâu tơ.
- Bả chua ngọt không hấp dẫn đối với ruồi trưởng thành.
- Ruồi có khả năng hình thành tính kháng thuốc rất cao, vậy nên phòng trừ bằng
thuốc hóa học ít mang lại hiệu quả. Tăng cường số lần phun thuốc chỉ có tác dụng tức
thời khi bảo vệ đồng ruộng, chỉ tiêu diệt phần nào dòi, còn không có tác dụng cao đối
với ruộng trưởng thành, cho nên biện pháp hóa học không phải là biện pháp có hiệu
quả trong việc bảo vệ năng suất, chất lượng rau đối với dòi đục lá.
- Sử dụng một số loại thuốc có các hoạt chất: Abamectin; Cyromazine, Spinetoram;
Spinosad
1.4. Rệp mềm
2.2.1. Phân bố, ký chủ
Rệp xuất hiện hầu hết các vùng trồng cúc trên thế giới
Là loài sâu đa thực.
2.2.2. Đặc điểm hình thái
Có loại hình rệp có cánh và không cánh, cơ thể nhỏ, hình bầu dục, mềm, có nhiều
màu sắc khác nhau như nâu, đen, xanh lá cây, nâu đen
2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
86
Rệp hút nhựa ở trên hoa, lá, bông làm cho cây mất hết dinh dưỡng, trở nên gầy yếu.
Rệp phá hại làm giảm năng suất và phẩm chất hoa. Ngoài gây hại trực tiếp rệp còn
được coi là một loài môi giới truyền bệnh virus cho cây
Hình 4.6. Hoa cúc bị rệp đen gây hại
2.4. Quy luật phát sinh phát triển
Đầu vụ ngô đông xuân, vào khoảng tháng 10, tháng 11, rệp cái có cánh từ các cây
ký chủ dại bay tới các ruộng ngô. Ở đây rệp cái có cánh đẻ ra rệp con không có cánh.
Những con rệp con này lớn lên tiếp tục sinh sản theo lối đơn tính nhiều thế hệ và gây
hại trên cây ngô. Một số rệp không cánh biến thành rệp có cánh và bay tới các cây
ngô khác, các ruộng ngô liền kề tiếp tục sinh sản và gây hại. Rệp ngô thường phát
triển nhiều trong tháng 1, tháng 2 lúc ẩm độ không khí cao. Từ tháng 4 trở đi số lượng
rệp giảm dần. Trong mùa hè chỉ thấy rệp xuất hiện lẻ tẻ. Rệp thường phá hại ở cây
ngô từ giai đoạn 8-10 lá cho tới khi ngô chín sáp. Đến cuối vụ khi cây ngô đã già,
không còn thức ăn nữa thì các con rệp có cánh di chuyển sang các cây ký chủ , đẻ ra
rệp con không có cánh tiếp tục phát triển trên các cây ký chủ này cho tới vụ ngô sau
2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Vệ sinh đồng ruộng: Trước khi gieo trồng cần làm sạch cỏ trong ruộng và xung
quanh bờ để tránh rệp từ các ký chủ dại lan sang phá hại ngô.
- Trồng dày vừa phải và tỉa cây sớm: Những ruộng gieo dày, ẩm độ không khí
trong ruộng cao, rệp thường phát triển mạnh, do đó không nên trồng quá dày, trồng
87
với mật độ thích hợp (tùy theo giống). Khi cây ngô cao 30cm cần tỉa cây sớm, loại bỏ
những cây nhỏ, yếu cho ruộng được thông thoáng có tác dụng hạn chế rệp phát triển.
- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để kịp thời phát hiện tình hình phát sinh, phát
triển của rệp và các loại thiên địch có ích để có chế độ phun thuốc phòng trừ thích hợp
nhằm bảo vệ mật độ thiên địch của rệp trên đồng ruộng. Thiên địch của rệp ngô
thường thấy trên đồng ruộng có một số loài sau: Bọ rùa chữ nhân Coclinella repanda,
bọ rùa 4 vạch, Chilomenes quadriplahiata, bọ rùa 6 vạch Chilomenes sexmaemlatu,
bọ rùa 2 đốm đỏ Coelophora liplagiata, bọ rùa 8 vạch Synharmonia octomaculuta và
ấu trùng ruồi Sirphus sp. Những thiên địch này có vai trò quan trọng trong việc hạn
chế rệp ngô phát sinh trong tự nhiên.
Khi thấy mật độ rệp cao, khả năng gây hại lớn, có thể dùng một trong các loại
thuốc trừ sâu như Selecron 500ND/EC, Ofatox 400EC/WP, Trebon 40EC, Actara
25WG... pha nồng độ 0,1-0,15% để phun trừ (pha 10-15cc (g)/bình 8-10 lít nước, mỗi
sào phun 2-3 bình). Chú ý thời gian cách ly đối với các loại ngô ngọt, ngô rau bao tử
và ngô thu bắp non trước khi thu hoạch ít nhất 20 ngày để tránh ngộ độc cho người và
gia súc. Ưu tiên dùng các loại thuốc trừ sâu vi sinh hoặc có nguồn gốc từ thảo mộc
2. Sâu hại hoa Hồng
2.1. Sâu xanh đục bông: Heliothis armigera
2.2.1. Phân bố, ký chủ
Đây là loài sâu hại cà chua quan trọng, không những ở Lâm Đồng mà cả vùng châu
Á. Nó có phạm vi ký chủ rất rộng bao gồm nhiều loại rau, bông, bắp và nhiều loài cây
cảnh.
2.2.2. Đặc điểm hình thái
Con trưởng thành màu nâu, có sải cánh dài khoảng 30 - 40mm. Cánh trước điểm
bằng các đường màu sẫm, hình thù thay đổi, mắt màu xanh nhạt. Ngài hoạt động vào
lúc chiều tối và ban đêm. Trưởng thành bay khỏe và có thể bay một khoảng cách xa.
Mỗi ngài có thể đẻ 1000 quả trứng hoặc nhiều hơn. Cây cà chua ở giai đoạn ra hoa và
tạo quả thường thu hút ngài cái đến đẻ trứng. Trứng được đẻ riêng từng quả, thường ở
mặt trên của lá non và có đường kính khoảng 0,5 mm, lúc đầu có màu trắng ngả vàng,
màu nâu. Trứng nở từ 4-7 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ.
Sâu non có rất nhiều màu : xanh nhạt, hồng hoặc sẫm, tùy theo màu quả mà chúng
ăn. Trên thân có một dải đen mờ dài. Sâu non đẩy sức dài 40mm, thường sâu non có 5
88
- 6 tuổi và giai đoạn sâu non kéo dài 15 - 26 ngày. Khi nhiệt độ cao hơn, sâu non phát
dục nhanh hơn
Hình 4.7. Sâu xanh đục bông hoa hồng
2.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Sau khi nở, sâu non phá hoại các búp non, nụ hoa, nhưng sau 1 - 2 ngày chúng đục
vào trong quả thích hợp với chúng. Chúng thích quả xanh và thường chui vào từ
cuống. Sâu đục đến đâu đùn phân ra dần đến đó, lỗ đục gọn ít nham nhở.
Thiệt hại nặng khi sâu non xâm nhập vào, làm hỏng nhiều quả, những quả bị tấn
công lúc mới hình thành dễ bị rụng. Những quả lớn hơn khi bị tấn công chúng thường
dễ bị thối, giảm giá trị sản phẩm khi thu hái.
Các lá và chùm hoa bị sâu non ăn có thể bị gãy làm giảm số lượng trái sau này.
Ở Lâm Đồng sâu xanh phát sinh gây thiệt hại nặng cho nông dân, nhất là vào mùa
khô nó có thể gây hại đến 90% số lượng quả.
2.2.4. Quy luật phát sinh phát triển
Nhộng được hình thành trong đất ở độ sâu 5 - 10cm. Nhộng có màu sáng, dài
khoảng 16mm. Sau 10 - 14 ngày vũ hóa thành ngài. Vòng đời của sâu xanh có thể kéo
dài 28 - 32 ngày khi nhiệt độ mát
2.2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Cần theo dõi sự xuất hiện của ngài, trứng để làm giảm sự thất thu năng suất.
89
- Thường xuyên bấm cành, tỉa ngọn để giảm lượng sâu non, trứng.
- Thuốc từ sâu sinh học BT như : Xentari, Difel và chế phẩm NPV rất có hiệu quả
trong việc làm giảm thiệt hại do Heliotis nhưng thời gian hiệu lực không được dài
lắm.
- Nông dân thường sử dụng thuốc ít có hiệu quả, vì loại sâu này có tính kháng
thuốc rất cao, nhất là với nhóm cúc tổng hợp. Hơn nữa thời điểm phun thuốc quyết
định rất nhiều sự thành công. Phải xác định phun thuốc lên cây cà chua khi trứng nở
để diệt sâu non vừa mới nở. Khi sâu đã chui vào quả mọi thứ thuốc đều không có tác
dụng. Khi đã ổn định chùm quả trên cây, tăng cường ngắt hoa hạn chế ngài đến đẻ
trứng. Những lúc này có thể an tâm không cần sử dụng thuốc nữa.
Một số thuốc có thể sử dụng : Pegasus 500DD sử dụng 10cc/bình, Sumi 5 EC
dùng 7cc/bình; Abatin 5.4 EC
2.2. Nhện đỏ: Tetranychus urticae
2.2.1. Phân bố, ký chủ
Là đối tượng đa thực gây hại nhiều loại cây, xuất hiện trên tất cả các vùng trồng
hoa Hồng
2.2.2. Đặc điểm hình thái
Hình 4.8. Nhện đỏ hại hoa hồng
90
Hình 4.9. Lá hồng bị nhện đỏ gây hại
- Nhện đỏ rất nhỏ, nhện non màu vàng cam. Trưởng thành, con cái mình tròn màu
đỏ tươi ở phần bụng và đỏ xẫm ở phần hông. Hai bên lưng có nhiều đốm đen chạy dài
từ ngực xuống cuối bụng.
- Có 4 cặp chân dài màu vàng nhạt, chiều dài của nhện cái là 0.2mm. Con đực nhỏ
hơn, mình hình bầu dục, hơi nhọn lại ở đuôi, hai đốt cuối màu đỏ chói.
2.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
- Nhện thường cư trú ở mặt dưới lá và thường chích hút dịch bào trong mô lá hoa
hồng tạo thành vết hại có màu sáng, dần dần các vết chích này liên kết với nhau. Khi
bị hại nặng, lá cây hoa hồng có màu nâu vàng rồi khô và rụng đi.
2.2.4. Quy luật phát sinh phát triển
- Phát triển trong điều kiện khô và nóng. Vòng đời nhện đỏ khoảng 15 ngày, mỗi
con có thể đẻ hàng trăm trứng
2.2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Đảm bảo vườn cây thông thoáng.
- Tưới đủ ẩm trong mùa khô.
- Bón phân đầy đủ, cân đối.
- Khi mật độ nhện hại cao có thể sử dụng biện pháp tưới phun để rửa trôi nhện
91
Dùng các lọai thuốc có họat chất như: Hexythiazox (Nissorun 5EC), Dầu hạt bông
+ dầuđđinh hương + dầu tỏi (GC-Mite 70DD), Fenpyroximate (Ortus 5SC),
Propargite (Atamita 73EC, Comite 73EC,...), Pyridaben (Dandy 15EC), Matrine
(Sokupi 0.36AS, 0.5AS), Fenpropathrin (Vimite 10ND), Abamectin (Reasgant 1.8EC-
3.6EC,), Rotenone (Limater 7.5EC), liều lượng, nồng độ theo khuyến cáo
3. Thực hành
3.1. Nhận diện sâu hại chính trên cây hoa
3.2. Thực hiện các biện pháp quản lý, phòng trừ
Câu hỏi ôn tập
1. Mô tả đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống gây hại, quy luật phát sinh phát triển
và biện pháp phòng trừ sâu chính hại hoa cúc?
2. Mô tả đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống gây hại, quy luật phát sinh phát triển
và biện pháp phòng trừ sâu chính hại hoa hồng?
92
BÀI 5: SÂU HẠI CÂY ĂN QUẢ
Mã bài: MĐ15- 06
Giới thiệu:
Bài học tập trung các đối tượng sâu hại trên cây ăn quả có múi, cây sầu riêng, cây
hồng, cây mít và các biện pháp quản lý phòng trừ
Mục tiêu:
- Xác định được thành phần sâu hại chính trên 1 số cây ăn quả
- Trình bày được tập quán sinh sống, gây hại và quy luật phát sinh phát triển một
của một số loài sâu hại chính trên cây ăn quả
- Mô tả được đặc điểm hình thái một số loài sâu hại chính trên cây ăn quả
- Nhận biết được một số loài sâu hại chính trên cây ăn quả
- Xây dựng được biện pháp quản lý, phòng trừ sâu hại trên cây ăn quả
Nội dung:
1. Sâu hại cây ăn quả có múi
1.1. Ruồi đục trái: Bactrocera dorsalis
1.1.1. Phân bố, ký chủ
Là loài sâu nguy hiểm trên cây ăn quả có múi nói riêng và nhiều loại cây ăn quả
khác. Đã từng xảy ra thành dịch tại khu vực Đông Nam Á
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Nó có khứu giác rất phát triển nên khi trái sắp
chín chúng ngửi thấy mùi thơm từ xa bay đến. Con
cái có chất dẫn dụ giới tính khá mạnh nên có khả
năng thu hút con đực từ khá xa. Con đực có khứu
giác rất tốt có thể tìm được con cái cách xa hàng
trăm mét do ngửi được chất dẫn dụ giới tính của con
cái tiết ra.
Do thói quen để trái quanh năm, không thu hoạch
dứt điểm, phơi vườn nên tạo nguồn thức ăn để ruồi
đục sinh trưởng và phát triển.
Trong lúc phun xịt thuốc trừ bệnh, kháng nấm đã
vô tình diệt đi những loài thiên địch có lợi cho cây
cam quýt, làm cho sâu bệnh không còn đối tượng
Hình 5.1. Ruồi đục trái
93
tiêu diệt chúng. Chúng có thể phát triển mạnh và lây lan với tốc độ nhanh
Sau vài lần lột xác, dòi lớn đẫy sức (dài 9-11mm). Khi đẫy sức dòi chịu ra ngoài rồi
cong mình bật văng xa rơi xuống đất để hóa nhộng trong đất (ở độ sâu 2-4 cm).
Nhộng dài 2-3 mm, ban đầu màu da cam, sau màu nâu sữa. Sau khi vũ hóa, con
trưởng thành (ruồi) chui lên khỏi mặt đất, bay đi tìm thức ăn và bắt cặp tạo thế hệ mới
1.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Trên những quả cam quýt sắp chín có vết chích nhỏ do con cái đẻ dùng ống đẻ
trứng chích vào lớp dưới vỏ trái. Ban đầu vết chích rất nhỏ, khó phát hiện nơi đẻ
trứng. Nhưng khi trứng nở và bắt đầu xâm nhập thì mặt vỏ có vết thâm tròn rất dễ
nhìn thấy. Sâu non nở ra phá hoại phần thịt trái, làm quả bị thối, ủng và rụng.
Ruồi dùng ống đẻ trứng chích sâu vào trong thịt quả, đẻ trứng thành từng ổ ở những
quả chín và bắt đầu chín. Trứng ruồi rất nhỏ, dài khoảng 1mm, hơi cong, màu trắng
ngà sau vài ngày trứng nở ra ấu trùng (dòi) hình ống dài, phần cuối thân phình to, có
nhiều đốt, mới nở dòi có màu trắng trong. Sau khi nở, dòi đục ăn sâu dần vào múi trái,
sinh sống bằng dịch của trái, càng lớn dòi càng đục sâu vào bên trong làm phần này bị
thối và loang dần ra xung quanh. Trái bị hại nhanh chóng bị thối do vi sinh vật xâm
nhiễm sau đó trái bị rụng
Hình 5.2. Triệu chứng ruồi đục trái
94
1.1.4. Quy luật phát sinh phát triển
Ruồi đục phát triển hầu như quanh năm. Thời tiết khô, nóng là điều kiện tốt để ruồi
đục sinh sôi và phát triển
1.1.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Thu gọn hết quả rụng trong vườn, chôn sâu xuống dưới đất.
Thu hoạch quả sớm hơn bình thường, đừng để trái chín quá lâu trên cây.
Nếu trái bị hại nhiều có thể xới xáo đất xung quanh gốc, dưới tán rồi rải một trong
những loại thuốc như: Basudin 10H, Vibasu 5H/10H, Padan 4G/10G, Regent
0,2G/0,3G... xới đất trộn thuốc vào đất để diệt nhộng.
Có thể dùng bao giấy chuyên dùng để bao trái khi trái già chưa chín. Cách này
không những bảo vệ trái cam quýt không bị ruồi gây hại mà còn ngăn ngừa được một
số sâu bệnh khác thường gây hại cho trái, giữ màu sắc của trái đẹp và hấp dẫn hơn.
Thường xuyên tỉa bỏ cành già, cành tăm, cành bị sâu bệnh để vườn luôn sạch sẽ và
thông thoáng, hạn chế nơi trú ẩn của ruồi.
Có thể phun bả Protein thủy phân để diệt ruồi cái bằng cách pha 50ml bả protein
thủy phân + 10ml Pyrinex20EC hoặc 3ml Regent 5 SC vào 1 lít nước rồi phun lên
một số điểm dưới tán cây cam quýt; mỗi cây phun một điểm, mỗi điểm phun 20-50ml
hỗn hợp; phun định kỳ khoảng 1 tuần 1 lần.
Dùng “thuốc nhử ruồi” VIZUBON-D để dẫn dụ và diệt ruồi đực. Điều này cũng
giúp hạn chế tác hại của ruồi rất lớn. Biện pháp này nếu vận động được nhiều chủ
vườn trên một vùng rộng lớn cùng làm thì mới có kết quả cao.
Không nên dùng thuốc hóa học phun trực tiếp lên trái cam quýt khi sắp chín vì dòi
nằm bên trong khó chết và lúc này trái sắp được thu hoạch rất dễ gây ngộ độc cho
người ăn. Đem thiêu hủy những trái bị dòi gây hại để diệt dòi bên trong trái. Khi ruồi
trưởng thành dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugenol để dẫn dụ và diệt ruồi đực
hoặc phun bả protein, chỉ phun thành đốm nhỏ trên tán cây. Nên phun vào khoảng 8-
10h sáng
1.2. Rệp sáp: Coccus citri
1.2.1. Phân bố, ký chủ
Tấn công gây hại rất nhiều loại cây, đặc biệt cây ăn quả và cây công nghiệp. Chúng
xuất hiện trên tất cả các vùng trồng cây có múi
1.2.2. Đặc điểm hình thái
95
Rệp trưởng thành cái hình bầu dục, dài 2,5-5 mm, không cánh, trên mình phủ một
lớp sáp trắng. Rệp trưởng thành đực dài 1 mm, màu xám nhạt, có một đôi cánh mỏng
và trong suốt
Hình 5.1. Rệp sáp cây có múi
Hình 5.2. Đọt non bị rệp tấn công
96
1.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Rệp chích hút nhựa, lá vàng, cây chậm phát triển,còi cọc. Khi mật độ rệp cao có thể
làm khô cành,khô ngọn
Rệp cái đẻ trứng thành ổ, bên ngoài có lớp bột trắng bao phủ. Rệp non mới nở bò di
chuyển đến chỗ thích hợp để sống cố định. Rệp sống tập trung thành đám ở ngọn và
lá non. Là trung gian truyền các bệnh về nấm, virus cho cây.
1.2.4. Quy luật phát sinh phát triển
Rệp phát triển nhiều trong thời tiết nóng và ẩm
1.2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành già, cành tược nằm trong tán lá để vườn cây
thông thoáng. Thường xuyên dọn sạch cỏ rác, lá cây mục tụ ở xung quanh gốc để phá
vỡ nơi trú ngụ của kiến. phun thuốc kỹ ướt đều cây, phun hai lần cách nhau 7-10 ngày
để diệt tiếp lứa rệp non mới nở như Nurelle D 25/2.5EC, Oncol 20EC, Cori 23EC,
Mospilan 3E, Elsan 50EC, Applaud 10WP, Dầu khoáng Citrole 96.3EC
1.3. Rầy chổng cánh: Diaphorina citri
1.3.1. Phân bố, ký chủ
Gây hại nặng vùng trồng cây có múi khu vực châu Á, lá loài sâu hẹp thực
1.3.2. Đặc điểm hình thái
Hình 5.3. Rầy chổng cánh cây có múi
97
trứng màu vàng, hình trái lê, dài khoảng 0,3mm, phía trên nhọn tạo thành một cuốn
nhỏ rất đặc biệt, thường được đẻ thành chùm ở trong nách lá hoặc trên lá các chồi lá
non (lá còn xếp chưa mở ra). Ấu trùng rất nhỏ, hình bầu dục dẹp, mới nở có màu vàng
tươi. Tuổi 2 và tuổi 3 có màu xanh lục. Tuổi 4 và tuổi 5 màu nâu vàng. Con trưởng
thành thân dài từ 2,5-3 mm, nâu xám, cánh có màu nâu vàng, chân có màu xám nâu,
phần giữa cánh trong suốt, kéo dài thành một dãy trắng từ gốc cánh đến cuối cánh,
dãy này bị gãy về phía cuối cánh. Đầu nhọn màu nâu nhạt. Mắt có màu đỏ. Râu đầu
ngắn có 5 đốt, đốt cuối râu đầu có màu đen. Bụng con cái sắp đẻ có màu hồng
1.3.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Ấu trùng và thành trùng chích hút dinh dưỡng của lá và chồi non làm cho chồi non
lụi dần, sần sùi, lá non bị hại phiến lá nhỏ và xoăn
Rầy chổng cánh trưởng thành bị hấp dẫn bởi màu vàng hoặc nâu nên vào mùa mưa
là lúc rầy chổng cánh xuất hiện nhiều nhất trên cây cam quýt do lúc này cây bắt đầu
ra chồi non và trổ bông.
Rầy chổng cách có khả năng truyền vi khuẩn Candidtus asiaticum gây bệnh
Greening cho các cây ăn quả có múi. Bằng cách chích hút trên những cây bị nhiễm
bệnh và sau đó tiếp tục tấn công trên những cây không nhiễm bệnh, rầy chổng cánh sẽ
truyền bệnh cho cây này qua vòi chích hút và qua nước bọt do vi khuẩn Candidtus
aciaticum có thể tồn tại và được nhân lên về số lượng trong tuyến nước bọt của rầy
chổng cánh
Hình 5.4. Cây bị bệnh greening do rầy truyền bệnh
98
1.3.4. Quy luật phát sinh phát triển
Rầy chổng cánh sinh trưởng và phát triển trong nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau,
rầy trưởng thành có thể tồn tại được ở nhiệt độ lạnh (– 40C) và cả vùng khí hậu nóng
và khô. Nhiệt độ thích hợp cho rầy chổng cánh phát sinh và gây hại là 28-300C, ẩm
độ 80-85 %. Di chuyển từ nơi này ra nơi khác chủ yếu nhờ gió
1.3.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Loại bỏ nguồn bệnh ra khỏi vườn bằng cách chặt bỏ các cây đã bị nhiễm bệnh xung
quanh vườn trước khi trồng cây sạch bệnh.
Cắt tỉa cành, thường xuyên thăm vườn để phát hiện ấu trùng và rầy trưởng thành để
tiêu diệt kịp thời, nhất là những giai đoạn cây ra chồi non hoặc sau những cơn giông
lớn.
Không nên trồng các cây cảnh thuộc họ cam quýt gần các vườn cam quýt.
Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá trong vườn đem tiêu hủy để loại trừ nguồn bệnh
lây lan sang những cây khỏe. Trước khi hủy, xịt thuốc để loại trừ rầy chổng cánh bay
sang các cây khác lân cận đó.
Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để hạn chế sự tái xâm nhiễm của rầy chổng
cánh từ nơi khác đến, vì gió cũng có ảnh hưởng đến sự phát tán và di chuyển của rầy
trưởng thành.
Trồng hoặc nuôi thiên địch bắt mồi của rầy chổng cánh như kiến vàng Oecophylla
smaragdina, bọ rùa, nhện... Thiên địch ký sinh gồm các loài ong trong họ Eulopidae
và Encyrtidae ký sinh rầy non, nấm tua ký sinh rầy trưởng thành; trồng cây cam quýt
xen ổi.
Dùng bẫy màu vàng để theo dõi rầy chổng cánh, mỗi vườn nên đặt ít nhất 5 bẫy để
theo dõi (4 bẫy ở 4 gốc và 1 bẫy ở giữa vườn). Khi phát hiện rầy chổng cánh bay vào
bẫy vàng thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trị.
Phun thuốc: phun thuốc lúc cây ra chồi non tập trung, có thể dùng các loại thuốc:
Trebon 0,2%, Sherpa 0,2%, Anvado 100WP (thuốc cung tên), dầu DC- Tron Plus,
Isoprocarb (Mipcide), Buprofezin (Applaud), Isoprocarb (Bassa...) hoặc dầu khoáng
1.4. Sâu vẽ bùa: Phyllocnistis citrella
1.4.1. Phân bố, ký chủ
Xuất hiện trên tất cả các vùng trồng cây có múi, là loài sâu hẹp thực
1.4.2. Đặc điểm hình thái
99
Là loài sâu có kích thước nhỏ bé, thân mảnh khảnh dài 2mm. Chân màu vàng nhạt
pha màu trắng bạc. Cánh trước hình lá liễu, phần gốc cánh trước tối màu hơn phần
ngọn cánh, ngọn cánh có điểm màu đen lớn. Lông viền mép cánh dài, màu tro. Cánh
sau hẹp hình kim, màu xám đen, lông mép cánh rất dài
Hình 5.5. Sâu vẽ bùa cây có múi
1.4.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Sâu vẽ bùa gây hại trên các chồi và lá non. Sâu non đục phá lá ở dưới phần biểu bì,
ăn phần mô mềm. Sâu đi tới đâu biểu bì phồng lên tới đó, vẽ thành những đường
ngoằn ngoèo nên được gọi là vẽ bùa. Các đường ngoằn ngoèo này không bao giờ gặp
nhau.
Các lá bị sâu vẽ bùa gây hại thường bị co rúm lại và biến dạng nhất là những lá non,
làm giảm diện tích quang hợp và làm giảm khả năng sinh trưởng của các chồi non.
Ngoài ra các đường đục của sâu vẽ bùa còn tạo điều kiện cho bệnh loét vi khuẩn xâm
nhập, làm lá, hoa, trái dễ bị rụng.
Trưởng thành sâu vẽ bùa hoạt động mạnh vào chiều tối. Trứng thường được đẻ ở
mặt dưới lá, gần gân chính. Một con trưởng thành thường đẻ được 70-80 quả trứng,
thời gian đẻ trứng từ 2-10 ngày. Sâu non mới nở thường đục chui qua lớp biểu bì của
lá để ăn phần mô mềm. Đường đục của sâu vẽ bùa dài và lớn dần theo sức lớn của
sâu. Sâu non có 4 tuổi, đòi hỏi ẩm độ cao, chúng sống trong đường đục trong suốt
thời gian sinh trưởng, nếu đường đục bị rách sâu non rất dễ bị chết. Khi đẫy sức, sâu
non đục ra mép lá, nhả tơ dệt kén để hóa nhộng ở đó. Thường hóa nhộng gần gân lá,
chỗ lá bị quăn.
1.4.4. Quy luật phát sinh phát triển
100
Sâu vẽ bùa gây hại quanh năm đặc biệt là dịp giao mùa (cuối mùa khô đầu mùa
mưa) hoặc là thời điểm sau làm gốc để xử lý cho cây ra trái theo ý muốn.
Mức độ gây hại phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và thức ăn của sâu. Nhiệt độ
thích hợp cho sâu vẽ bùa phát sinh gây hại là 23 - 290C, độ ẩm 85-90%
1.4.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, tỉa cành, tạo tán, bón thúc cho lộc non ra tập
trung, hạn chế sự phá hại của sâu. Thu dọn lá rụng trong vườn đốt bỏ cũng hạn chế
nguồn sâu.
Trường hợp bị hại nặng thì có thể cắt bỏ các chồi lá bị sâu đem tập trung một chỗ để
tiêu diệt.
Sử dụng một số thiên địch như: Thiên địch ký sinh có nhiều loài ong trong các họ
Chalcidoidea và Ichneumonidea, thiên địch bắt mồi kiến vàng Oecophylla smaragdina
là biện pháp có hiệu quả phòng trị sâu vẽ bùa.
Sử dụng thuốc hợp lý để bảo vệ nguồn thiên địch của sâu vẽ bùa trong tự nhiên, khi
mật độ gây hại cao, sử dụng luân phiên một số thuốc gốc như: Imidacloprid (Confidor
100SL), Cypermethrin (Viserin 4.5EC.) Abamectin (Vibamec 1.8EC, 3.6EC)
để phòng trị
1.5. Bọ xít xanh: Rhynchocoris humeralis
1.5.1. Phân bố, ký chủ
Bọ xít xanh xuất hiện phổ biến tại các vùng trồng cây có múi, là loài sâu đa thực
1.5.2. Đặc điểm hình thái
Con trưởng thành có màu xanh lá cây, bóng với chiều dài cơ thể 20-22mm, chiều
rộng 15-16mm. Kim chích hút dài đến cuối bụng. Rìa ngực trước có 2 gai nhọn, 2 bên
mép bụng có rìa răng cưa. Chính giữa mặt bụng có một đường nổi rõ rệt
1.5.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Khi quả nhỏ bị gây hại, quả sẽ vàng, chai và rụng sau đó. Nếu quả lớn bị tấn công,
quả có thể bị thối do bị bội nhiễm nấm hoặc một số vi sinh vật khác. Nơi vết chích có
một chấm nhỏ với một quầng màu nâu
Bọ xít tấn công trái khi trái còn rất nhỏ. Cả thành trùng lẫn ấu trùng đều dùng vòi
để chích hút trái. Khi trái nhỏ bị gây hại, trái sẽ vàng, chai và rụng sau đó. Nếu trái
lớn bị tấn công, trái có thể bị thối do bị bội nhiễm nấm hoặc một số vi sinh vật khác.
Nơi vết chích có một chấm nhỏ với một quầng mầu nâu. Sự thiệt hại quan trọng nhất
vào giai đoạn trái nhỏ. Một con bọ xít trong một ngày có thể chích trên nhiều trá
101
Hình 5.6. Bọ xít xanh cây có múi
1.5.4. Quy luật phát sinh phát triển
Vòng đời của bọ xít xanh kéo dài 65-70 ngày. Bọ xít trưởng thành sống nhiều tháng
và có tập tính qua đông, qua hè. Hàng năm, bọ xít xanh hình thành 4 lứa. Chúng xuất
hiện vào các tháng 10-12 và 3-4.
Chúng thường xuất hiện và gây hại ở những vườn rậm rạp, cành lá um tùm, những
vườn cam quýt đã gìa có nhiều bóng mát nhiều hơn những vườn khác
1.5.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Không nên trồng qúa dày, thường xuyên cắt bỏ các cành gìa, cành bị sâu bệnh để
vườn luôn được thông thoáng, hạn chế nơi trú ngụ và tác hại của chúng. Thu thập và
nhử nuôi kiến vàng trong vườn cam quýt để kiến tiêu diệt bọ xít.
Dùng vợt tay để bắt bọ xít vào lúc sáng sớm hay chiều mát, thường xuyên kiểm tra
trái và những lá gần trái để phát hiện và thu gom ổ trứng của chúng đem tiêu hủy.
Ở những vườn thường xuyên bị bọ xít gây hại nặng hàng năm thì từ khi tượng trái trở
đi (hoặc ở những vườn có mật số bọ xít cao khoảng 3-4 con /100 trái) nên sử dụng
một số loại thuốc như: Bassa 50EC (hoặc Bassan 50EC, Basatigi 50EC, Hoppercin
50EC, Vibasa 50EC), Sherpa 10EC/25EC (hoặc Cyper25EC, Visher25ND,
Cyperan 50EC/10EC /25EC), Fastac 5EC (hoặc Vifast 5ND, Visca 5EC) để
102
phun xịt. Sau khi xịt khoảng một tuần nếu thấy vẫn còn bọ xít thì nên xịt thêm một
đến hai lần nữa
2. Sâu hại cây sầu riêng
2.1. Rầy nhảy: Allocaridara malayensis
2.1.1. Phân bố, ký chủ
Hiện diện rất phổ biến tại Thái Lan, tại ĐBCL loài này cũng được ghi nhận
thường xuyên trên các địa bàn trồng Sầu Riêng, đặc biệt tại Cần Thơ, Tiền Giang và
Bến Tre
2.1.2. Đặc điểm hình thái
Hình 5.7. Rầy nhảy hại sầu riêng
Thành trùng có chiều dài 3-4mm, cơ thể có mầu nâu lợt, cánh trong suốt. Trứng
có mầu vàng lợt, hình bầu dục có một đầu hơi nhọn, kích thước rất nhỏ, khoảng 1mm.
Trứng được đẻ thành từng ổ (12-14 trứng ở trong mô lá non còn xếp lại chưa mở
ra) và trứng có thể được quan sát thấy nếu đưa lá non về phía ánh sáng và nhờ sự
hiện diện của các vòng mầu vàng hay nâu trên lá
Ấu trùng tuổi 1mầu vàng, di chuyển rất chậm. Tuổi 2 có một ít lông tơ mầu trắng ở
phần cuối bụng và bắt đầu phủ một lớp sáp mầu trắng, tuổi 3, 4, 5 có các sợi sáp trắng
như bông rất dài ở cuối đuôi. Từ tuổi 2 đến tuổi 5 ấu trùng di chuyển rất nhanh khi bị
động
103
2.1.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Đây là đối tượng gây hại quan trọng nhất hiện nay trên Sầu riêng tại ĐBCL. Tại
Tiền Giang, một vùng trồng Sầu Riêng quan trọng của ĐBCL, kết quả điều tra ghi
nhận Rầy nhẩy có thể tấn công trên 90% số cây trong vườn. Kết quả điều tra tại Bến
Tre cũng cho thấy loài này có thể tấn công đến trên 70% số cây trong vườn điều tra.
Trên nhiều cây tỷ lệ lá bị hại lên đến 75%. Theo ghi nhận của nông dân thì loài này
chỉ mới bộc phát trong một vài năm qua và gần như 100% nông dân trồng Sầu Riêng
không biết rõ tác nhân gây hại.
Trứng được đẻ vào trong mô của lá non, theo Su-apa Disthaporn (1995) thì thành
trùng có thể sống đến 6 tháng. Cả thành trùng lẫn ấu trùng đều gây hại bằng cách
chích lá non, chúng tập trung chủ yếu ở mặt dưới lá. Lá bị hại thường có những chấm
nhỏ mầu vàng sau đó lá bị khô và rụng.
Hiện tượng lá khô và rụng hàng loạt làm bà con tưởng rằng do cây bị bệnh do đó
đã có một số hộ sử dụng các thuốc trừ bệnh để phòng trừ. Trong quá trình gây hại,
loại này còn tiết mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển rất nhiều, làm ảnh
hưởng lớn đến sự quang hợp của lá.
2.1.4. Quy luật phát sinh phát triển
Xuất hiện nhiều trong điều kiện mùa khô, nóng ẩm
2.1.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Rầy nhẩy là một đối tượng được nghiên cứu khá nhiều tại Thái Lan. Sau đây là
một số đề nghị về các biện pháp phòng trị Rầy nhẩy trên Sầu riêng tại Thái Lan (IPM
Durian Team Thai-German , 1996):
- Sử dụng bẩy mầu vàng để hấp dẫn thành trùng.
- Sử dụng phương pháp tươiï bằng vòi phun nước mạnh lên các chồi non để rửa
trôi ấu trùng và thành trùng.
- Sử dụng thuốc trừ sâu khi >50% chồi bị nhiễm rầy hoặc >20% số chồi có trứng
rầy. Kết quả khảo nghiệm của Thái Lan các loại thuốc như Endosulphan và
Buprofezin tỏ ra có hiệu quả tốt đối với Rầy nhẩy. Một số kết quả khảo sát tại ĐBCL
ghi nhận các loại thuốc như Applaud, Trebon và Supracide cũng tỏ ra có hiệu quả cao
đối với Rầy nhẩy. Cần luân phiên sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau để hạn chế sự
bộc phát tính khán
2.2. Sâu đục trái: Conogethes punctiferalis
2.2.1. Phân bố, ký chủ
104
Hiện diện trên 100% vườn Sầu Riêng đã được điều tra tại Tiền Giang và 64% tại
Bến Tre, quan trọng tại Cần Thơ
Loại này cũng được ghi nhận gây hại trên Nhãn, Ổi, Chôm Chôm và cả trên Mãng
Cầu Xiêm. Trên Sầu Riêng, thành trùng đẻ trứng trên các vỏ trái non
2.2.2. Đặc điểm hình thái
Hình 5.8. Sâu đục trái sầu riêng
Trứng hình bầu dục, dài khoảng 2-2,5 mm. Trứng mới nở có mầu trắng sữa sau đó
trở nên vàng nhạt. Ấu trùng phát triển đầy đủ dài khoảng 22 mm, đầu nâu, thân mình
sâu có mầu trắng ửng hồng, hai đốt ngực (trước và giữa) và hai đốt thân ở cuối đuôi
thường có mầu trắng hơi hồng, các đốt còn lại có mầu hồng. Trong mỗi đốt ở sống
lưng cơ thể có 4 đốm nâu nhạt, 2 đốm trên to, hai đốm dưới dài và hẹp, trên mỗi đốm
đều có lông cứng nhỏ, mỗi đốt cơ thể cũng có một đốm nhỏ mầu nâu ở bên hông cơ
thể, kế bên khí khổng mầu đen. Cả phần mặt bụng của cơ thể cũng có những đốm nâu
nhạt với lông nhỏ
Chiều dài sải cánh: 2,5 mm, chiều dài thân: 12mm. Toàn thân và cánh mầu vàng,
trên cánh có nhiều chấm đen. Nhộng lúc đầu mầu vàng hơi nâu, dần dần chuyển sang
mầu nâu khi sắp vũ hóa, dài khoảng 13mm, chiều ngang 4mm
2.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Âúu trùng nở ra thường chọn nơi gần cuống trái để đục vào bên trong trái. Đầu tiên
sâu tấn công võ trái Sầu Riêng, sau đó khi tuổi lớn, sâu tiếp tục đục vào phía trong trái
Sâu thường hóa nhộng ngay trên đường đục, gần bề mặt của vỏ trái hoặc sâu chui ra
105
ngoài, nhã tơ, kết lá và phân thành kén rồi hóa nhộng trong kén ngay giữa các gai của
trái.
Sâu thường đục trái ngay từ khi trái còn nhỏ, vào giai đoạn này nếu bị gây hại, trái
sẽ bị biến dạng và bị rụng sau đó, nếu tấn công vào giai đoạn trái đã phát triển thì sẽ
làm mất phẩm chất của trái. Bên cạnh đó, khi bị sâu gây hại, trái thường bị các loại
nấm bệnh tấn công làm thối trái. Triệu chứng để nhận diện là từng đám phân mầu nâu
đậm do sâu thải ra bên ngoài lổ đục. Thường trái chùm bị gây hại nhiều hơn trên trái
đơn
2.2.4. Quy luật phát sinh phát triển
Thành trùng hoạt động chủ yếu vào lúc ban đêm
2.2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Hàng tuần theo dõi diển biến mật số sâu và thiên địch của sâu (quan sát 10% cây
trong vườn, 5 trái/cây và % trái bị đục).
Phát huy vai trò của thiên địch trong tự nhiên như các loại bọ xít ăn mồi, nhện và
Kiến Vàng Oecophylla smaragdina.
Tỉa bỏ trái bị nhiễm trong chùm trái non, trong chùm trái chưa bị nhiễm nên sử
dụng miếng giấy cứng hoặc miếng cây để chêm giữa các trái để hạn chế sự gây hại .
Chỉ sử dụng thuốc trừ sâu khi 10% số trái quan sát bị nhiễm sâu.
Tại ĐBCL, các loại thuốc đã được sử dụng và tỏ ra có hiệu quả đối với sâu đục trái
gồm có Sumi-Alpha 5ND; Decis 2,5ND, Sevin. Thuốc có hiệu quả cao đối với sâu
tuổi nhỏ, khi chưa đục sâu vào trong trái. Tuy nhiên do sâu có thể tấn công các giai
đoạn phát triển khác nhau của trái nên nông dân vùng đồng bằng Cửu Long phải phun
thuốc định kỳ nửa tháng 1 lần. Nhìn chung về phương hướng lâu dài, nhằm hạn chế
việc sử dụng thuốc định kỳ ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ con người, việc
nghiên cứu trồng cây thấp để dễ chăm sóc thì biện pháp bao trái sẽ là một biện pháp
rất tốt, không những ngừa được sâu đục trái C. punctiferalis mà cả nhiều loại côn
trùng khác gây hại trên trái nữa
2.3. Sâu ăn bông
2.3.1. Phân bố, ký chủ
Loài này hiện diện rất phổ biến tại Tiền Giang (trên 100% hộ điều tra) và 64% hộ
điều tra tại Bến Tre. Tại Tiền Giang, loại này được đánh giá gây hại khá nghiêm
trọng, có vườn sâu hiện diện trên gần 50% số cây trong vườn, có thể tại Tiền Giang,
nhiều vườn Sầu riêng thuộc dạng chuyên canh nên sâu có điều kiện gây hại nhiều hơn
106
2.3.2. Đặc điểm hình thái
Thành trùng là một loại bướm mầu vàng lợt, có chiều dài (sải cánh): 28-30 mm, ấu
trùng thuộc nhóm sâu róm có nhiều lông , ở giữa lưng có sọc đỏ, hai bên có sọc vàng,
đầu có mầu đỏ, khi phát triển đầy đủ, sâu dài khoảng 10mm
Hình 5.9. Sâu ăn bông sầu riêng
2.3.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Thành trùng thường đẻ trứng trên các chùm bông, mỗi con có thể đẽ từ 50-60
trứng, ấu trùng tấn công hoa nở, ăn cánh hoa, nhụy đực và nhụy cái làm cho hoa bị
rụng, ấu trùng gây hại nặng nhất ở vào tuổi 3 và tuổi 4. Sâu hóa nhộng trên cây bên
trong kén bằng bông kết dính lại.
2.3.4. Quy luật phát sinh phát triển
Chúng xuất hiện nhiều ở thời điểm cây ra hoa, đậu trái hàng năm
2.3.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, tỉa cành, tạo tán, bón thúc cho lộc non ra tập
trung, hạn chế sự phá hại của sâu. Thu dọn lá rụng trong vườn đốt bỏ cũng hạn chế
nguồn sâu.
Trường hợp bị hại nặng thì có thể cắt bỏ các chồi lá bị sâu đem tập trung một chỗ
để tiêu diệt.
Sử dụng thuốc hợp lý để bảo vệ nguồn thiên địch của sâu vẽ bùa trong tự nhiên, khi
mật độ gây hại cao, sử dụng luân phiên một số thuốc gốc như: Imidacloprid (Confidor
107
100SL), Cypermethrin (Viserin 4.5EC.) Abamectin (Vibamec 1.8EC, 3.6EC)
để phòng trị
3. Sâu hại cây hồng
3.1. Bọ ăn lá: Colasposoma dauricum
3.1.1. Phân bố, ký chủ
Xuất hiện phổ biến tại các vùng trồng hồng, là loài sâu đa thực hại nhiều loại cây
3.1.2. Đặc điểm hình thái
- Bọ trưởng thành là loài cánh cứng hình bầu dục, dài khoảng 7mm. Cơ thể có
nhiều màu sắc khác nhau như xanh lá cây, xanh nước biển, tím than có sắc ánh kim.
Đầu nhỏ ẩn trong đốt ngực thứ nhất chỉ hơi lộ ra một chút. Râu đầu hình sợi chỉ, các
đốt đầu tiên màu vàng, các đốt tiếp theo màu đen. Cánh cứng có nhiều chấm lõm tạo
thành các hàng dọc cánh.
- Sâu non màu trắng ngà, đầu màu nâu, chân ngực phát triển.
Hình 5.10. Bọ ăn lá hồng
3.1.3. Tập tính sinh sống và gây hại
- Bọ trưởng thành hoạt động chậm chạp , sống ở tán lá cây, có tính giả chết khi bị
động chạm. Trứng và sâu non sống trong đất.
- Bọ trưởng thành ăn lá tạo thành những vết lõm và lỗ thủng, lá cây xơ xác khi mật
độ bọ cao. Bọ phát sinh gây hại quanh năm
108
3.1.4. Quy luật phát sinh phát triển
Gây hại nặng trong điều kiện mùa khô
3.1.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Bắt bọ trưởng thành bằng tay hoặc bằng vợt.
- Rải thuốc sâu dạng hạt quanh gốc cây như Basudin 10G (15 – 25kg/ha), Regent
0.3 G. Khi bọ trưởng thành phát sinh nhiều dùng thuốc Sherpa 25EC (0.2 – 0.4l/ha),
Vibasu 40ND (1 – 2l/ha) phun vào sáng sớm hoặc chiều mát.
3.2. Rệp sáp: Coccus citri
3.2.1. Phân bố, ký chủ
Tấn công gây hại rất nhiều loại cây, đặc biệt cây ăn quả và cây công nghiệp. Chúng
xuất hiện trên tất cả các vùng trồng cây hồng
3.2.2. Đặc điểm hình thái
Rệp trưởng thành cái hình bầu dục, dài 2,5-5 mm, không cánh, trên mình phủ một
lớp sáp trắng. Rệp trưởng thành đực dài 1 mm, màu xám nhạt, có một đôi cánh mỏng
và trong suốt
\
Hình 5.11. Rệp sáp hại cây hồng
3.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Rệp chích hút nhựa, lá vàng, cây chậm phát triển,còi cọc. Khi mật độ rệp cao có thể
làm khô cành,khô ngọn
Rệp cái đẻ trứng thành ổ, bên ngoài có lớp bột trắng bao phủ. Rệp non mới nở bò di
chuyển đến chỗ thích hợp để sống cố định. Rệp sống tập trung thành đám ở ngọn và
lá non. Là trung gian truyền các bệnh về nấm, virus cho cây.
109
3.2.4. Quy luật phát sinh phát triển
Rệp phát triển nhiều trong thời tiết nóng và ẩm
3.2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành già, cành tược nằm trong tán lá để vườn cây thông
thoáng. Thường xuyên dọn sạch cỏ rác, lá cây mục tụ ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi
trú ngụ của kiến. phun thuốc kỹ ướt đều cây, phun hai lần cách nhau 7-10 ngày để
diệt tiếp lứa rệp non mới nở như Nurelle D 25/2.5EC, Oncol 20EC, Cori 23EC,
Mospilan 3E, Elsan 50EC, Applaud 10WP, Dầu khoáng Citrole 96.3EC
3.3. Ruồi đục trái: Bactrocera dorsalis
3.1.1. Phân bố, ký chủ
Là loài sâu nguy hiểm trên cây ăn quả có múi nói riêng và nhiều loại cây ăn quả
khác. Đã từng xảy ra thành dịch tại khu vực Đông Nam Á
3.1.2. Đặc điểm hình thái
Hình 5.12. Ruồi đục trái (Bactrocera dorsalis)
Nó có khứu giác rất phát triển nên khi trái sắp chín chúng ngửi thấy mùi thơm từ xa
bay đến. Con cái có chất dẫn dụ giới tính khá mạnh nên có khả năng thu hút con đực
từ khá xa. Con đực có khứu giác rất tốt có thể tìm được con cái cách xa hàng trăm mét
do ngửi được chất dẫn dụ giới tính của con cái tiết ra.
Do thói quen để trái quanh năm, không thu hoạch dứt điểm, phơi vườn nên tạo
nguồn thức ăn để ruồi đục sinh trưởng và phát triển.
110
Trong lúc phun xịt thuốc trừ bệnh, kháng nấm đã vô tình diệt đi những loài thiên
địch có lợi cho cây cam quýt, làm cho sâu bệnh không còn đối tượng tiêu diệt chúng.
Chúng có thể phát triển mạnh và lây lan với tốc độ nhanh
Sau vài lần lột xác, dòi lớn đẫy sức (dài 9-11mm). Khi đẫy sức dòi chịu ra ngoài rồi
cong mình bật văng xa rơi xuống đất để hóa nhộng trong đất (ở độ sâu 2-4 cm).
Nhộng dài 2-3 mm, ban đầu màu da cam, sau màu nâu sữa. Sau khi vũ hóa, con
trưởng thành (ruồi) chui lên khỏi mặt đất, bay đi tìm thức ăn và bắt cặp tạo thế hệ mới
3.1.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Trên những quả cam quýt sắp chín có vết chích nhỏ do con cái đẻ dùng ống đẻ
trứng chích vào lớp dưới vỏ trái. Ban đầu vết chích rất nhỏ, khó phát hiện nơi đẻ
trứng. Nhưng khi trứng nở và bắt đầu xâm nhập thì mặt vỏ có vết thâm tròn rất dễ
nhìn thấy. Sâu non nở ra phá hoại phần thịt trái, làm quả bị thối, ủng và rụng.
Ruồi dùng ống đẻ trứng chích sâu vào trong thịt quả, đẻ trứng thành từng ổ ở những
quả chín và bắt đầu chín. Trứng ruồi rất nhỏ, dài khoảng 1mm, hơi cong, màu trắng
ngà sau vài ngày trứng nở ra ấu trùng (dòi) hình ống dài, phần cuối thân phình to, có
nhiều đốt, mới nở dòi có màu trắng trong. Sau khi nở, dòi đục ăn sâu dần vào múi trái,
sinh sống bằng dịch của trái, càng lớn dòi càng đục sâu vào bên trong làm phần này bị
thối và loang dần ra xung quanh. Trái bị hại nhanh chóng bị thối do vi sinh vật xâm
nhiễm sau đó trái bị rụng
3.1.4. Quy luật phát sinh phát triển
Ruồi đục phát triển hầu như quanh năm. Thời tiết khô, nóng là điều kiện tốt để ruồi
đục sinh sôi và phát triển
3.1.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
Thu gọn hết quả rụng trong vườn, chôn sâu xuống dưới đất.
Thu hoạch quả sớm hơn bình thường, đừng để trái chín quá lâu trên cây.
Nếu trái bị hại nhiều có thể xới xáo đất xung quanh gốc, dưới tán rồi rải một trong
những loại thuốc như: Basudin 10H, Vibasu 5H/10H, Padan 4G/10G, Regent
0,2G/0,3G... xới đất trộn thuốc vào đất để diệt nhộng.
Có thể dùng bao giấy chuyên dùng để bao trái khi trái già chưa chín. Cách này
không những bảo vệ trái cam quýt không bị ruồi gây hại mà còn ngăn ngừa được một
số sâu bệnh khác thường gây hại cho trái, giữ màu sắc của trái đẹp và hấp dẫn hơn.
Thường xuyên tỉa bỏ cành già, cành tăm, cành bị sâu bệnh để vườn luôn sạch sẽ và
thông thoáng, hạn chế nơi trú ẩn của ruồi.
111
Có thể phun bả Protein thủy phân để diệt ruồi cái bằng cách pha 50ml bả protein
thủy phân + 10ml Pyrinex20EC hoặc 3ml Regent 5 SC vào 1 lít nước rồi phun lên
một số điểm dưới tán cây cam quýt; mỗi cây phun một điểm, mỗi điểm phun 20-50ml
hỗn hợp; phun định kỳ khoảng 1 tuần 1 lần.
Dùng “thuốc nhử ruồi” VIZUBON-D để dẫn dụ và diệt ruồi đực. Điều này cũng
giúp hạn chế tác hại của ruồi rất lớn. Biện pháp này nếu vận động được nhiều chủ
vườn trên một vùng rộng lớn cùng làm thì mới có kết quả cao.
Không nên dùng thuốc hóa học phun trực tiếp lên trái cam quýt khi sắp chín vì dòi
nằm bên trong khó chết và lúc này trái sắp được thu hoạch rất dễ gây ngộ độc cho
người ăn. Đem thiêu hủy những trái bị dòi gây hại để diệt dòi bên trong trái. Khi ruồi
trưởng thành dùng thuốc dẫn dụ có chất Methyl Eugenol để dẫn dụ và diệt ruồi đực
hoặc phun bả protein, chỉ phun thành đốm nhỏ trên tán cây. Nên phun vào khoảng 8-
10h sáng
4. Sâu hại cây mít
4.1. Bọ cánh cam: Anomala cupripes
4.1.1. Phân bố, ký chủ
Xuất hiện trên tất cả các vùng trồng mít, là loài sâu đa thực
4.1.2. Đặc điểm hình thái
Hình 5.13. Bọ cánh cam hại mít
112
- Bọ trưởng thành thân dài 20 – 22mm, mặt lưng màu xanh đậm. Ngực trước và
cánh cứng có nhiều chấm đen. Bụng màu hơn tím, chân màu tím thẫm. Râu đầu ngắn.
- Trứng hình bầu dục, dài 2 – 3mm màu trắng sữa.
- Sâu non mới nở có màu trắng, đẫy sức màu vàng nhạt, đầu màu đỏ nhạt.
- Nhộng hình thoi, dài 20 – 25mm, màu nâu vàng.
4.1.3. Tập tính sinh sống và gây hại
Sâu non sống trong đất, ăn xác cây mục nát và rễ cây. Bọ trưởng thành ban đêm ăn
lá cây, mật độ cao có thể làm cây xơ xác ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây nhất là
khi còn nhỏ.
4.1.4. Quy luật phát sinh phát triển
- Thời gian 1 lứa từ 5 – 7 tháng, trong đó trứng 15 – 20 ngày, sâu non 100 – 150
ngày, nhộng 15 – 20 ngày, bọ trưởng thành sống 2 – 3 tháng.
- Bọ trưởng thành hoạt động mạnh vào chập tối, thích ánh sáng đèn. Đẻ trứng rải
rác từng quả trên đất, mỗi con cái đẻ trung bình 50 – 70 trứng.
4.1.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Chập tối dùng tay hoặc vợt bắt trưởng thành.
- Rải thuốc sâu quanh gốc cây: Basudin 10G, Diaphos 10G, Regent 0.3G
4.2. Rệp phấn: Planococcus lilacinus
4.2.1. Phân bố, ký chủ
Xuất hiện trên tất cả các vùng trồng mít, là loài sâu đa thực
4.2.2. Đặc điểm hình thái
Hình 5.14. Rệp phấn hại mít
113
- Rệp trưởng thành cái màu vàng, cơ thể thon tròn, dài 2.5 – 4mm
- Cơ thể phủ đầy 1 lớp bột sáp trắng như phấn. Chân phát triển.
- Con cái đẻ trứng thành bọc, bên ngoài có lớp sáp trắng bao phủ, bên trong chứa
vài chục quả trứng. Rệp non mới nở màu hồng, hình bầu dục, di chuyển nhanh đến
chỗ thích hợp thì sống cố định và tiết sáp trên cơ thể.
- Rệp cái có 3 giai đoạn phát dục là trứng, rệp non và trưởng thành. Rệp đực có
thêm giai đoạn nhộng.
4.2.3. Tập tính sinh sống và gây hại
- Rệp trưởng thành cái và rệp non tập trung thành đám ở mặt dưới lá và cuống quả
hút nhựa làm cho lá biến vàng, quả còn nhỏ thì phát triển kém.
- Chỗ có rệp thường có nấm bồ hóng phát triển.
4.2.4. Quy luật phát sinh phát triển
- Rệp phát sinh quanh năm, thường nhiều vào các tháng mùa khô, nắng nóng.
- Vòng đời trung bình: 25 – 30 ngày
4.2.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Khi rệp phát sinh ít thì dùng tay giết rệp.
- Khi rệp nhiều phun các loại thuốc như Polytrin, Actara, Supracide, Sagosuper
4.3. Sâu đục trái: Glyphodes caesalis
4.3.1. Phân bố, ký chủ
Xuất hiện trên tất cả các vùng trồng mít, là loài sâu đa thực
4.3.2. Đặc điểm hình thái
- Sâu trưởng thành là loài bướm nhỏ, thân dài khoảng 12mm, sải cánh rộng 24mm,
màu vàng. Cánh trước và cánh sau có những vạch nâu màu sặc sỡ.
- Sâu non màu trắng, trên cơ thể có những chấm màu nâu đen, đầu màu vàng nâu,
đẫy sức dài 18 – 20mm. Nhộng màu nâu nhạt.
114
Hình 5.15. Sâu đục trái mít
4.3.3. Tập tính sinh sống và gây hại
- Sâu non đục vào trong quả, ăn phần thịt dưới vỏ. Bên ngoài lỗ đục có phân thải ra
từng đám màu đen.
- Qủa bị hại vẫn tiếp tục phát triển, chỗ vết sâu đục thường bị thối làm giảm giá trị
của quả. Đẫy sức sâu non chui ra ngoài quả kéo tơ kết phân khô thành kén rồi hoá
nhộng trong đó.
4.3.4. Quy luật phát sinh phát triển
Bướm hoạt động ban đêm, đẻ trứng rải rác trên vỏ quả mít từ khi quả còn non.
4.3.5. Biện pháp quản lý và phòng trừ
- Nhặt bỏ tiêu huỷ các quả bị sâu hại từ khi còn nhỏ.
- Phun thuốc trừ sâu khi phát hiện có quả bị hại bằng các thuốc Basudin, Pyrinex,
Padan.
5. Thực hành
5.1. Nhận diện sâu hại chính trên cây ăn quả
5.2. Thực hiện các biện pháp quản lý, phòng trừ
Câu hỏi ôn tập
1. Mô tả đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống gây hại, quy luật phát sinh phát triển
và biện pháp phòng trừ sâu chính hại cây ăn quả có múi?
2. Mô tả đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống gây hại, quy luật phát sinh phát triển
và biện pháp phòng trừ sâu chính hại cây sầu riêng?
115
3. Mô tả đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống gây hại, quy luật phát sinh phát triển
và biện pháp phòng trừ sâu chính hại cây hồng?
2. Mô tả đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống gây hại, quy luật phát sinh phát triển
và biện pháp phòng trừ sâu chính hại cây mít?
116
Sách Giáo khoa và tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Công Thuật (1996), Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng –
Nghiên cứu và ứng dụng.
[2]. Nguyễn Công Thuật, 1996. Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng:
Nghiên cứu và ứng dụng. Nhà xuất bản nông nghiệp.
[3]. Chi cục BVTV Lâm Đồng, 1997. Sâu bệnh hại lúa và biện pháp phòng trừ.
Xí nghiệp in bản đồ Đà Lạt.
[4]. Chi cục BVTV Lâm Đồng, 2000. Sâu bệnh hại rau và biện pháp phòng trừ.
Xí nghiệp in bản đồ Đà Lạt.
[5]. Chi cục BVTV Lâm Đồng, 2000. Sâu bệnh hại cà phê và biện pháp phòng
trừ. Xí nghiệp in bản đồ Đà Lạt.
[6]. Chi cục BVTV Lâm Đồng, 2000. Sâu bệnh hại chè và biện pháp phòng trừ.
Xí nghiệp in bản đồ Đà Lạt.
[7]. Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2000), Dịch hại trên cây có múi
và IPM
[8]. Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000. Côn trùng và nhện hại cây ăn trái vùng đồng
bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị. NXB Nông nghiệp Hồ Chí Minh
[9]. Lê Lương Tề và Nguyễn Thị Trường, 2005. Giáo trình bảo vệ thực vật. NXB
Giáo dục.
[10]. Trần Văn Mão, 2004. Sử dụng vi sinh vật có ích phòng trừ sâu hại. Nhà
xuất bản nông nghiệp.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
giao_trinh_mo_dun_bao_ve_thuc_vat_con_trung_chuyen_khoa_trin.pdf