Góp phần tìm hiểu thành phần loài rệp sáp (homoptera: coccoidea) hại cây na ở Việt Nam

Loài Pseudococcus odermatti Miller & Williams Trưởng thành cái có màu xám, cơ thể hình ovan hơi rộng, xung quanh cơ thể có 16 đôi tua sáp ngắn bằng nhau, riêng đôi tua sáp ở cuối cơ thể dài gấp 3-4 lần các đôi tua sáp khác. Râu đầu có 8 đốt. Trên chân sau ở đốt háng không có những lỗ chân lông trong mờ, nhưng có tương đối nhiều ở mặt sau của đốt đùi và đốt chày. Có 17 lỗ tạo sáp xung quanh cơ thể, lỗ tạo sáp ở hậu môn có 2 gai hình nón và 6 lông cứng phụ. Có khoảng 70 lỗ chân lông 3 ngăn nằm trong vùng hóa cứng. Trên mẫu lam, thùy hậu môn (anal lobes) phát triển vừa phải, hình tam giác, hóa cứng, lông cứng ở đỉnh thùy (đỉnh hình tam giác) dài gần gấp 3 lần các lông cứng phía trước. Mặt lưng có lông cứng hình roi, lông cứng dài nhất có ở đốt bụng thứ VII, lỗ chân lông hình đĩa (discoidal pore) rất nhỏ nằm cạnh các ống tạo sáp hình trụ ở mép cơ thể. Ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn (oral rim tubular ducts) phân bố đơn lẻ sau lỗ sáp thứ nhất, gần các lỗ sáp ở mép phần ngực và các đốt bụng I-IV, cạnh các ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn có 1 hoặc 2 lỗ chân lông hình đĩa (discoidal pore). Các ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn có kích thước rộng như lỗ chân lông 3 ngăn phân bố gần các lỗ sáp và ở giữa ngực. Mặt bụng có tương đối nhiều lỗ chân lông tròn nhiều ngăn (multilocular disc pores) xếp hàng đơn, hàng đôi hay hàng ba ở phía góc cuối của các đốt bụng V-VII, xếp hàng đơn ở góc cuối của đốt bụng IV. Có 3-4 ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn ở mép sau lỗ thở ngực trước và 1 ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn ở gần lỗ thở ngực sau, cạnh ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn có 1-2 lỗ chân lông hình đĩa rất nhỏ. 4. KẾT LUẬN Đã xác định được 13 loài thuộc 4 họ rệp sáp gây hại cây na ở vùng nghiên cứu trong các năm 2013-2016. Trong đó, 3 loài Coccus longulus, Paraputo errabundus và Pseudococcus odermatti được ghi nhận lần đầu cho khu hệ rệp sáp ở Việt Nam và 6 loài (C. longulus, P. errabundus, P. odermatti, Maconellicoccus hirsutus, Planococcus dischidiae, Aonidiella orientalis) bổ sung vào danh sách rệp sáp hại cây na ở Việt Nam. Trong các loài rệp sáp đã phát hiện gây hại cây na, 4 loài (rệp sáp giả cam P. citri, rệp sáp giả P. dischidiae, rệp sáp vảy tròn A. destructor, rệp sáp vảy C. bifasciculatus) có tần suất bắt gặp cao trên cây na ở các tỉnh được nghiên cứu. Loài rệp sáp giả cam P. citri là sâu hại chính trên cây na ở các tỉnh phía Bắc và loài rệp sáp giả P. dischidiae là sâu hại chính trên cây na ở một số tỉnh phía Nam.

pdf5 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Góp phần tìm hiểu thành phần loài rệp sáp (homoptera: coccoidea) hại cây na ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 45 7. Leslie J. F. and Summerell B.A. , 2006. The Fusarium Laboratory Manual. Blackwell Publishing, pp. 388. 8. Sood G. (1996). Production of chlamydospores by Fusarium in onion (Allium cepa) bulb extract. Mycologia, 88(6): pp. 1010-1013. 9. White T.J., Bruns T., Lee S. and Taylor J.W., 1990. Amplification and direct sequencing of fungal ribosomal RNA genes for phylogenetics. In: Innis MA, Gelfand DH, Sninsky J.J., White T.J., editor. PCR Protocols: A Guide to Methods and Applications. New York: Academic Press Inc., pp. 315–322. 10. Zaman N., Ahmed S. 2012. Survey of root rot of groundnut in rainfed areas of Punjab, Pakistan. Afr J Biotech, 11. pp. 4791-4794. Phản biện: TS. Lê Mai Nhất GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÀNH PHẦN LOÀI RỆP SÁP (Homoptera: Coccoidea) HẠI CÂY NA Ở VIỆT NAM Findings on Composition Species of Scale Insects (Homoptera: Coccoidea) Damaging Custard-Apple Trees in Viet Nam Nguyễn Văn Dân 1 , Nguyễn Văn Liêm 3 , Phạm Văn Lầm 2 , Lê Thị Tuyết Nhung 3 và Trƣơng Thị Hƣơng Lan 3 Ngày gửi bài: 11.06.2018 Ngày chấp nhận đăng: 27.06.2018 Abstract The survey for scale insects on custard-apple trees was conducted during period of 2013-2016. Thirteen species belonging to four families of scale insects have been recorded on custard-apple trees. Among them, three species, namely Coccus longulus, Paraputo errabundus and Pseudococcus odermatti are new for entomofaune of Vietnam and six species (including C. longulus, P. errabundus, P. odermatti, Maconellicoccus hirsutus, Planococcus dischidiae and Aonidiella orientalis) are newly recorded for the list of custard-apple pest in Vietnam. The four common species include Planococcus citri, P. dischidiae, Aspidiotus destructor and Chrysomphalus bifasciculatus. Keywords: Coccoidea, Coccus longulus, custard-apple trees, Paraputo errabundus, Pseudococcus odermatti 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Cây na là cây ăn quả phổ biến đã và đang được mở rộng ở nhiều vùng ở Việt Nam (như Sơn La, Bắc Giang, Hà Nam, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu,). Việc mở rộng diện tích trồng na cùng với sự thâm canh đã tạo điều kiện cho sâu hại phát sinh mạnh. Tuy nhiên, những nghiên cứu về thành phần sâu hại trên cây na còn rất ít và tản mạn, đặc biệt là nhóm rệp sáp (Coccoidea). Các loài rệp sáp gây ra thiệt hại đáng kể cho nghề trồng na, nếu 1. Cục Trồng trọt 2. Hội Côn trùng học Việt Nam 3. Viện Bảo vệ thực vật. không có biện pháp phòng chống kịp thời. Chúng chích hút dinh dưỡng từ lá, cành và thân cây na làm cây còi cọc, chậm phát triển, không thể ra hoa, đậu quả. Khi gây hại trên quả gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng quả na. Ngoài ra, chất thải do chúng tiết ra lên bề mặt lá na tạo điều kiện cho nấm muội đen phát sinh phát triển, dẫn đến làm giảm khả năng quang hợp tạo chất khô của cây na. Vì vậy, việc nghiên cứu xác định thành phần rệp sáp hại cây na ở Việt Nam là rất thiết thực. Bài viết này cung cấp những dẫn liệu về thành phần loài rệp sáp hại cây na đã ghi nhận được ở một số vùng trồng na của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 46 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Điều tra thành phần loài rệp sáp hại cây na được tiếnh hành theo phương pháp điều tra cơ bản sâu hại của Viện Bảo vệ thực vật (1997). Điều tra định kỳ 15 ngày/lần (2 lần/tháng) ở một số tỉnh trồng na phía Bắc (Bắc Giang, Hà Nam, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La) và điều tra bổ sung theo đợt tại tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu. Tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây na, tại mỗi tỉnh điều tra 3-5 vườn (mỗi vườn có diện tích ít nhất 1 ha) đại diện các chế độ canh tác khác nhau. Mỗi vườn điều tra theo 9 điểm trên hai đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 3-5 cây (tùy theo kích thước cây na). Trên mỗi cây na điều tra 4 cành ở 4 hướng trên các tầng lá khác nhau. Ngoài ra, có thể quan sát bổ sung trên các cây na ở ngoài điểm điều tra để tăng thêm sự bắt gặp loài rệp sáp. Khi điều tra, quan sát kỹ các lá, cành, quả na ở các tầng lá khác nhau trên cây na để phát hiện sự hiện diện của rệp sáp; khi có sự hiện diện của rệp sáp thì quan sát các triệu chứng gây hại và mức độ gây hại của chúng. Sau khi quan sát kỹ, tiến hành thu các bộ phận của cây na (thu cả cành lá, cành quả,) có rệp sáp đem về phòng thí nghiệm. Nếu mẫu thu chỉ gồm các rệp sáp non thì nuôi tiếp đến pha trưởng thành. Các cá thể trưởng thành rệp sáp được bảo quản trong cồn 75% có ghi đầy đủ các thông tin về bộ phận bị hại, địa điểm, thời gian thu và người thu mẫu. Mẫu tiêu bản rệp sáp để định loại được làm theo phương pháp của Waston (2007). Việc định loại tiến hành theo các tài liệu của Williams, Watson (1990), Williams (2004) và sự thẩm định mẫu vật của TS. Natalia von Ellenrieder tại Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và Thực phẩm bang California (Hoa Kỳ). 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài rệp sáp hại cây na Điều tra định kỳ ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Nam, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La và điều tra bổ sung theo đợt ở tỉnh Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu trong thời gian 2013-2016 trên cây na đã thu thập, xác định tên khoa học được 13 loài rệp sáp. Chúng thuộc 4 họ rệp sáp phổ biến. Trong đó, họ rệp sáp bột (Pseudococcidae) có số lượng loài nhiều nhất (6 loài) và họ rệp sáp vảy (Diaspididae) có 4 loài (bảng 1). Bảng 1. Các loài rệp sáp gây hại cây na ở một số tỉnh trồng na ở Việt Nam (2013-2016) TT Tên tiếng Việt Tên khoa học Bộ phận bị hại Tần suất bắt gặp Nơi phát hiện Họ Monophlebidae 1 Rệp sáp tua ai-cập Icerya aegyptiaca (Douglas) Lá, cành nhỏ + + Bắc Giang, Hà Nam, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La Họ Pseudococcidae 2 Rệp sáp giả màu hồng Maconellicoccus hirsutus (Green) 1 Quả - Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh 3 Rệp sáp giả Paraputo errabundus Williams 2 Gốc cây na + Hà Nam 4 Rệp sáp giả cam Planococcus citri (Risso) Quả + + + Bà Rịa-Vũng Tàu, Bắc Giang, Hà Nam, Lạng Sơn, Phú Thọ, Quảng Ninh 5 Rệp sáp giả Planococcus dischidiae (Takahashi) 1 Quả + + + Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh 6 Rệp sáp giả cà phê Planococcus lilacinus (Cockerell) Quả + Quảng Ninh 7 Rệp sáp giả Pseudococcus odermatti Miller & Williams 2 Quả - Lạng Sơn Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 47 TT Tên tiếng Việt Tên khoa học Bộ phận bị hại Tần suất bắt gặp Nơi phát hiện Họ Coccidae 8 Rệp sáp mềm hình mũ Ceroplastes rusci (Linnaeus) Lá, cành nhỏ + Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tây Ninh 9 Rệp sáp mềm dài màu nâu Coccus longulus (Douglas) 2 Lá, cành nhỏ + Phú Thọ, Quảng Ninh Họ Diaspididae 10 Rệp sáp vảy đỏ Aonidiella aurantii (Maskell) Lá ++ Hà Nam 11 Rệp sáp vảy tròn phương đông Aonidiella orientalis (Newstead) 1 Quả - Hà Nam, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tây Ninh 12 Rệp sáp vảy tròn Aspidiotus destructor Signoret Lá +++ Hà Nam, Lạng Sơn 13 Rệp sáp vảy Chrysomphalus bifasciculatus Feris Lá +++ Hà Nam, Lạng Sơn Ghi chú: -: tần suất bắt gặp rất thấp (dưới 5% số lần điều tra bắt gặp), +: tần suất bắt gặp thấp (6- 25% số lần điều tra bắt gặp), ++: tần suất bắt gặptrung bình (26-50% số lần điều tra bắt gặp), +++: tần suất bắt gặp cao (>50% số lần điều tra bắt gặp); 1 loài ghi nhận mới trên cây na; 2 loài ghi nhận mới cho Việt Nam. Hầu hết các loài rệp sáp đã ghi nhận được đều gây hại ở các bộ phận phía trên mặt đất. Có 6 loài (A. orientalis, M. hirsutus, P. citri, P. dischidiae, P. lilacinus, P. odermatti,) gây hại trên quả, 3 loài gây hại trên lá (A. aurantii, A. destructor, C. bifasciculatus), 3 loài (I. aegyptiaca, C. rusci, C. longulus) gây hại vừa trên lá vừa trên cành nhỏ, chỉ có 1 loài P. errabundus gây hại ở gốc cây na. Trong các loài rệp sáp đã phát hiện gây hại cây na, có 4/13 loài có tần suất bắt gặp cao. Đó là các loài rệp sáp giả cam P. citri, rệp sáp giả P. dischidiae, rệp sáp vảy tròn A. destructor và rệp sáp vảy C. bifasciculatus (bảng 1). Đặc biệt, hai loài rệp sáp giả cam P. citri và rệp sáp giả P. dischidiae có khả năng gia tăng mật độ quần thể rất nhanh chóng khi cây na ở giai đoạn sắp cho thu hoạch quả. Các nghiên cứu trước đây (Nguyễn Thị Chắt và nnk., 2005; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000; Đào Thị Hằng và nnk., 2017; Phạm Văn Lầm và nnk., 2013; Viện Bảo vệ thực vật, 1999) đã ghi nhận được tổng số 22 loài rệp sáp gây hại trên cây na ở Việt Nam. Trong đó, mỗi nghiên cứu này đã chỉ ghi nhận được từ 1 loài đến 11 loài rệp sáp. Như vậy, số lượng loài rệp sáp hại cây na ghi nhận được trong nghiên cứu này đã nhiều hơn từ 2 đến 12 loài so với từng nghiên cứu trước đây, nhưng chỉ chiếm 59,1% tổng số loài đã ghi nhận trên cây na ở Việt Nam (13/22 loài). Có tới 14 loài (Pulvinaria sp., Parasaissetia nigra, Dysmicoccus sp., Ferrisia virgata, Nipaecoccus sp., Aonidiella citrina, Lepidosaphes sp., Hemiberlesia lantaniae, H. palmae, Pseudaulacaspis cockerelli, Parlatoria sp., Pinnaspis aspidistrae, Pseudaonidia trilobitiformis, Unaspis sp.) mà các nghiên cứu trước đã ghi nhận được trên cây na, nhưng nghiên cứu này chưa ghi nhận được. Ngược lại, có tới 6 loài ghi nhận được trên cây na trong nghiên cứu này, nhưng các nghiên cứu trước lại chưa ghi nhận được (tức là nghiên cứu này ghi nhận mới trên cây na ở Việt Nam). Đó là các loài A. orientalis, C. longulus, M. hirsutus, P. dischidiae, P. errabundus, P. odermatti. Trong số các loài này, có 3 loài (C. longulus, P. errabundus, P. odermatti) là ghi nhận lần đầu cho khu hệ rệp sáp ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này đã đưa tổng số loài rệp sáp ghi nhận gây hại cây na ở Việt Nam lên 28 loài. Trong nghiên cứu này, tần suất bắt gặp của hai loài loài rệp sáp giả cam P. citri và rệp sáp tua ai-cập I. aegyptiaca đã ghi nhận được tương tự với nghiên cứu của Phạm Văn Lầm Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 48 và nnk. (2013). Tần suất bắt gặp của các loài rệp sáp vảy đỏ A. aurantii, rệp sáp vảy tròn A. destructor, rệp sáp vảy C. bifasciculatus tương tự như kết quả nghiên cứu của Đào Thị Hằng và nnk. (2017). Loài rệp sáp giả cà phê P. lilacinus trong nghiên cứu này chỉ ghi nhận có tần suất bắp gặp ở mức thấp, nhưng lại là sâu hại chính trên cây na ở đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000). Đối với vùng trồng na ở tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu, loài rệp sáp giả P. dischidiae là sâu hại chính trên cây na với tần suất bắt gặp ở mức cao, quần thể của nó gia tăng rất nhanh từ khi quả chưa chín sinh lý và đạt đỉnh điểm vào thời kỳ thu hoạch quả. 3.2 Đặc điểm hình thái chính của những loài đƣợc ghi nhận lần đầu ở Việt Nam Loài Coccus longulus (Douglas) Trưởng thành cái có cơ thể màu vàng nâu đến màu nâu, chiều dài cơ thể lớn hơn 2 lần chiều rộng cơ thể. Trên mẫu lam, râu đầu gồm 8 đốt, chân tương đối phát triển, bộ phận tiếp giáp giữa đỉnh đốt chày và gốc bàn chân hóa cứng, lỗ hậu môn hình tam giác, mép trước hậu môn hơi lõm xuống, mép sau hơi cong lên và có 4 lông cứng. Rãnh lỗ thở ngực trước (stigmatic cleft) rất phát triển, có 3 lông cứng, lông cứng ở giữa dài gấp 2-3 lần lông cứng ở bên. Lông cứng ở mép cơ thể thẳng dài và mảnh khảnh. Mặt lưng cơ thể có những lông cứng ngắn, đầu lông cứng cong, lỗ chân lông nổi hình vành khăn, lỗ chân lông nhỏ có rải rác cùng với u lồi, những u lồi có ở gần mép cơ thể. Mặt bụng có 3 đôi lông cứng dài ở trước lỗ sinh dục, cấu trúc lỗ năm ngăn xếp hàng đôi ở rãnh của lỗ thở ngực trước, cấu trúc lỗ nhiều ngăn (6-8 ngăn) có ở xung quanh lỗ sinh dục. Loài Paraputo errabundus Williams Trưởng thành cái có cơ thể màu hồng, hình ô van rộng, căng tròn gần giống hình bán cầu, mép cơ thể không có tua sáp. Trên mẫu lam, râu đầu có 7 đốt, cơ thể hình ô van mở rộng, mặt trước và mặt sau của đốt háng có những cụm lỗ chân lông trong mờ, những lỗ chân lông này cũng có rải rác ở trên mặt sau của đốt chày chân sau. Trên cơ thể có 17 lỗ sáp, lỗ sáp ở phần đầu và ngực có 3-5 gai hình nón, lỗ sáp gần hậu môn hóa cứng tập trung nhiều cấu trúc lỗ 3 ngăn và 8 gai hình nón với các kích thước khác nhau. Trên mặt lưng có những lông cứng ngắn, lỗ chân lông nổi hình vành khăn. Trên mặt bụng, lông cứng dài hình roi, một vài gai hình nón có rải rác ở mép hay sát mép cơ thể. Cấu trúc lỗ nhiều ngăn xếp hàng đơn ở giữa đốt bụng VI, xếp hàng đôi ở đốt bụng thứ VII. Ống sáp hình trụ (oral collar tubular duct) với 3 kích thước khác nhau có ở giữa 2 râu đầu và các đốt bụng thứ IV-VII. Coccus longulus Parputo errabundus Pseudococcus odermatti Hình 1. Các loài rệp sáp bột ghi nhận lần đầu cho khu hệ côn trùng Việt Nam Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 49 Loài Pseudococcus odermatti Miller & Williams Trưởng thành cái có màu xám, cơ thể hình ovan hơi rộng, xung quanh cơ thể có 16 đôi tua sáp ngắn bằng nhau, riêng đôi tua sáp ở cuối cơ thể dài gấp 3-4 lần các đôi tua sáp khác. Râu đầu có 8 đốt. Trên chân sau ở đốt háng không có những lỗ chân lông trong mờ, nhưng có tương đối nhiều ở mặt sau của đốt đùi và đốt chày. Có 17 lỗ tạo sáp xung quanh cơ thể, lỗ tạo sáp ở hậu môn có 2 gai hình nón và 6 lông cứng phụ. Có khoảng 70 lỗ chân lông 3 ngăn nằm trong vùng hóa cứng. Trên mẫu lam, thùy hậu môn (anal lobes) phát triển vừa phải, hình tam giác, hóa cứng, lông cứng ở đỉnh thùy (đỉnh hình tam giác) dài gần gấp 3 lần các lông cứng phía trước. Mặt lưng có lông cứng hình roi, lông cứng dài nhất có ở đốt bụng thứ VII, lỗ chân lông hình đĩa (discoidal pore) rất nhỏ nằm cạnh các ống tạo sáp hình trụ ở mép cơ thể. Ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn (oral rim tubular ducts) phân bố đơn lẻ sau lỗ sáp thứ nhất, gần các lỗ sáp ở mép phần ngực và các đốt bụng I-IV, cạnh các ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn có 1 hoặc 2 lỗ chân lông hình đĩa (discoidal pore). Các ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn có kích thước rộng như lỗ chân lông 3 ngăn phân bố gần các lỗ sáp và ở giữa ngực. Mặt bụng có tương đối nhiều lỗ chân lông tròn nhiều ngăn (multilocular disc pores) xếp hàng đơn, hàng đôi hay hàng ba ở phía góc cuối của các đốt bụng V-VII, xếp hàng đơn ở góc cuối của đốt bụng IV. Có 3-4 ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn ở mép sau lỗ thở ngực trước và 1 ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn ở gần lỗ thở ngực sau, cạnh ống sáp hình trụ miệng dạng vành khăn có 1-2 lỗ chân lông hình đĩa rất nhỏ. 4. KẾT LUẬN Đã xác định được 13 loài thuộc 4 họ rệp sáp gây hại cây na ở vùng nghiên cứu trong các năm 2013-2016. Trong đó, 3 loài Coccus longulus, Paraputo errabundus và Pseudococcus odermatti được ghi nhận lần đầu cho khu hệ rệp sáp ở Việt Nam và 6 loài (C. longulus, P. errabundus, P. odermatti, Maconellicoccus hirsutus, Planococcus dischidiae, Aonidiella orientalis) bổ sung vào danh sách rệp sáp hại cây na ở Việt Nam. Trong các loài rệp sáp đã phát hiện gây hại cây na, 4 loài (rệp sáp giả cam P. citri, rệp sáp giả P. dischidiae, rệp sáp vảy tròn A. destructor, rệp sáp vảy C. bifasciculatus) có tần suất bắt gặp cao trên cây na ở các tỉnh được nghiên cứu. Loài rệp sáp giả cam P. citri là sâu hại chính trên cây na ở các tỉnh phía Bắc và loài rệp sáp giả P. dischidiae là sâu hại chính trên cây na ở một số tỉnh phía Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đào Thị Hằng, Nguyễn Văn Liêm, Lê Đức Khánh, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Đức Việt, Nguyễn Văn Dân, 2017. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 6:36-39. 2. Nguyễn Thị Chắt, Vũ Thị Nga, Trần Thành Tân, Lê Thị Tuyết Nga, Trần Thị Quế Trân, Lê Minh Tâm, Lê Quang Tùng, Nguyễn Thị Hồng Thủy, 2005. Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần thứ 5. Hội Côn trùng học Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội: 19-24. 3. Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000. Côn trùng và nhện gây hại cây ăn trái vùng đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị. Nxb Nông nghiệp, Tp. Hồ Chí Minh: 201-211. 4. Phạm Văn Lầm, Bùi Văn Dũng, Lê Thị Tuyết Nhung, Thế Trường Thành, Trương Thị Hương Lan, 2013. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 4:18-24. 5. Viện Bảo vệ thực vật, 1997. Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật: Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng. Tập I. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 6. Viện Bảo vệ thực vật, 1999. Kết quả điều tra côn trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam 1997-1998. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội: 77. 7. Waston G., 2007. Identification of mealybug (Hemiptera: Pseudococcidae) 108p. 8. Williams D.J., 2004. Mealybugs of southern Asia. The Natural History Museum 9. Williams D.J. and G.W. Watson, 1990. The soft scales (Coccidoidae) and other families. CABI International Institute of Entomology. Phản biện: TS. Đào Thị Hằng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgop_phan_tim_hieu_thanh_phan_loai_rep_sap_homoptera_coccoide.pdf
Tài liệu liên quan