Loài Pseudococcus odermatti Miller &
Williams
Trưởng thành cái có màu xám, cơ thể hình
ovan hơi rộng, xung quanh cơ thể có 16 đôi tua
sáp ngắn bằng nhau, riêng đôi tua sáp ở cuối cơ
thể dài gấp 3-4 lần các đôi tua sáp khác. Râu
đầu có 8 đốt. Trên chân sau ở đốt háng không có
những lỗ chân lông trong mờ, nhưng có tương
đối nhiều ở mặt sau của đốt đùi và đốt chày. Có
17 lỗ tạo sáp xung quanh cơ thể, lỗ tạo sáp ở
hậu môn có 2 gai hình nón và 6 lông cứng phụ.
Có khoảng 70 lỗ chân lông 3 ngăn nằm trong
vùng hóa cứng.
Trên mẫu lam, thùy hậu môn (anal lobes)
phát triển vừa phải, hình tam giác, hóa cứng,
lông cứng ở đỉnh thùy (đỉnh hình tam giác) dài
gần gấp 3 lần các lông cứng phía trước. Mặt
lưng có lông cứng hình roi, lông cứng dài nhất
có ở đốt bụng thứ VII, lỗ chân lông hình đĩa
(discoidal pore) rất nhỏ nằm cạnh các ống tạo
sáp hình trụ ở mép cơ thể. Ống sáp hình trụ
miệng dạng vành khăn (oral rim tubular ducts)
phân bố đơn lẻ sau lỗ sáp thứ nhất, gần các lỗ
sáp ở mép phần ngực và các đốt bụng I-IV,
cạnh các ống sáp hình trụ miệng dạng vành
khăn có 1 hoặc 2 lỗ chân lông hình đĩa
(discoidal pore). Các ống sáp hình trụ miệng
dạng vành khăn có kích thước rộng như lỗ chân
lông 3 ngăn phân bố gần các lỗ sáp và ở giữa
ngực. Mặt bụng có tương đối nhiều lỗ chân lông
tròn nhiều ngăn (multilocular disc pores) xếp
hàng đơn, hàng đôi hay hàng ba ở phía góc
cuối của các đốt bụng V-VII, xếp hàng đơn ở
góc cuối của đốt bụng IV. Có 3-4 ống sáp hình
trụ miệng dạng vành khăn ở mép sau lỗ thở
ngực trước và 1 ống sáp hình trụ miệng dạng
vành khăn ở gần lỗ thở ngực sau, cạnh ống sáp
hình trụ miệng dạng vành khăn có 1-2 lỗ chân
lông hình đĩa rất nhỏ.
4. KẾT LUẬN
Đã xác định được 13 loài thuộc 4 họ rệp
sáp gây hại cây na ở vùng nghiên cứu trong
các năm 2013-2016. Trong đó, 3 loài Coccus
longulus, Paraputo errabundus và
Pseudococcus odermatti được ghi nhận lần
đầu cho khu hệ rệp sáp ở Việt Nam và 6 loài
(C. longulus, P. errabundus, P. odermatti,
Maconellicoccus hirsutus, Planococcus
dischidiae, Aonidiella orientalis) bổ sung vào
danh sách rệp sáp hại cây na ở Việt Nam.
Trong các loài rệp sáp đã phát hiện gây hại
cây na, 4 loài (rệp sáp giả cam P. citri, rệp sáp
giả P. dischidiae, rệp sáp vảy tròn A. destructor,
rệp sáp vảy C. bifasciculatus) có tần suất bắt gặp
cao trên cây na ở các tỉnh được nghiên cứu. Loài
rệp sáp giả cam P. citri là sâu hại chính trên cây
na ở các tỉnh phía Bắc và loài rệp sáp giả P.
dischidiae là sâu hại chính trên cây na ở một số
tỉnh phía Nam.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Góp phần tìm hiểu thành phần loài rệp sáp (homoptera: coccoidea) hại cây na ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
45
7. Leslie J. F. and Summerell B.A. , 2006. The
Fusarium Laboratory Manual. Blackwell Publishing,
pp. 388.
8. Sood G. (1996). Production of chlamydospores
by Fusarium in onion (Allium cepa) bulb extract.
Mycologia, 88(6): pp. 1010-1013.
9. White T.J., Bruns T., Lee S. and Taylor J.W.,
1990. Amplification and direct sequencing of fungal
ribosomal RNA genes for phylogenetics. In: Innis MA,
Gelfand DH, Sninsky J.J., White T.J., editor. PCR
Protocols: A Guide to Methods and Applications. New
York: Academic Press Inc., pp. 315–322.
10. Zaman N., Ahmed S. 2012. Survey of root rot of
groundnut in rainfed areas of Punjab, Pakistan. Afr J
Biotech, 11. pp. 4791-4794.
Phản biện: TS. Lê Mai Nhất
GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÀNH PHẦN LOÀI RỆP SÁP (Homoptera: Coccoidea)
HẠI CÂY NA Ở VIỆT NAM
Findings on Composition Species of Scale Insects (Homoptera: Coccoidea)
Damaging Custard-Apple Trees in Viet Nam
Nguyễn Văn Dân
1
, Nguyễn Văn Liêm
3
, Phạm Văn Lầm
2
, Lê Thị Tuyết Nhung
3
và Trƣơng Thị Hƣơng Lan
3
Ngày gửi bài: 11.06.2018 Ngày chấp nhận đăng: 27.06.2018
Abstract
The survey for scale insects on custard-apple trees was conducted during period of 2013-2016. Thirteen
species belonging to four families of scale insects have been recorded on custard-apple trees. Among them, three
species, namely Coccus longulus, Paraputo errabundus and Pseudococcus odermatti are new for entomofaune
of Vietnam and six species (including C. longulus, P. errabundus, P. odermatti, Maconellicoccus hirsutus,
Planococcus dischidiae and Aonidiella orientalis) are newly recorded for the list of custard-apple pest in Vietnam.
The four common species include Planococcus citri, P. dischidiae, Aspidiotus destructor and Chrysomphalus
bifasciculatus.
Keywords: Coccoidea, Coccus longulus, custard-apple trees, Paraputo errabundus, Pseudococcus odermatti
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Cây na là cây ăn quả phổ biến đã và đang
được mở rộng ở nhiều vùng ở Việt Nam (như
Sơn La, Bắc Giang, Hà Nam, Bình Thuận, Ninh
Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu,). Việc mở rộng
diện tích trồng na cùng với sự thâm canh đã
tạo điều kiện cho sâu hại phát sinh mạnh. Tuy
nhiên, những nghiên cứu về thành phần sâu
hại trên cây na còn rất ít và tản mạn, đặc biệt
là nhóm rệp sáp (Coccoidea). Các loài rệp sáp
gây ra thiệt hại đáng kể cho nghề trồng na, nếu
1.
Cục Trồng trọt
2.
Hội Côn trùng học Việt Nam
3.
Viện Bảo vệ thực vật.
không có biện pháp phòng chống kịp thời.
Chúng chích hút dinh dưỡng từ lá, cành và
thân cây na làm cây còi cọc, chậm phát triển,
không thể ra hoa, đậu quả. Khi gây hại trên
quả gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng quả
na. Ngoài ra, chất thải do chúng tiết ra lên bề
mặt lá na tạo điều kiện cho nấm muội đen phát
sinh phát triển, dẫn đến làm giảm khả năng
quang hợp tạo chất khô của cây na. Vì vậy,
việc nghiên cứu xác định thành phần rệp sáp
hại cây na ở Việt Nam là rất thiết thực. Bài viết
này cung cấp những dẫn liệu về thành phần
loài rệp sáp hại cây na đã ghi nhận được ở
một số vùng trồng na của Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
46
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Điều tra thành phần loài rệp sáp hại cây na
được tiếnh hành theo phương pháp điều tra cơ
bản sâu hại của Viện Bảo vệ thực vật (1997).
Điều tra định kỳ 15 ngày/lần (2 lần/tháng) ở một
số tỉnh trồng na phía Bắc (Bắc Giang, Hà Nam,
Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La) và điều tra bổ
sung theo đợt tại tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng
Tàu. Tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây
na, tại mỗi tỉnh điều tra 3-5 vườn (mỗi vườn có
diện tích ít nhất 1 ha) đại diện các chế độ canh tác
khác nhau. Mỗi vườn điều tra theo 9 điểm trên hai
đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 3-5 cây (tùy
theo kích thước cây na). Trên mỗi cây na điều tra
4 cành ở 4 hướng trên các tầng lá khác nhau.
Ngoài ra, có thể quan sát bổ sung trên các cây na
ở ngoài điểm điều tra để tăng thêm sự bắt gặp loài
rệp sáp. Khi điều tra, quan sát kỹ các lá, cành, quả
na ở các tầng lá khác nhau trên cây na để phát
hiện sự hiện diện của rệp sáp; khi có sự hiện diện
của rệp sáp thì quan sát các triệu chứng gây hại
và mức độ gây hại của chúng.
Sau khi quan sát kỹ, tiến hành thu các bộ
phận của cây na (thu cả cành lá, cành quả,) có
rệp sáp đem về phòng thí nghiệm. Nếu mẫu thu
chỉ gồm các rệp sáp non thì nuôi tiếp đến pha
trưởng thành. Các cá thể trưởng thành rệp sáp
được bảo quản trong cồn 75% có ghi đầy đủ các
thông tin về bộ phận bị hại, địa điểm, thời gian
thu và người thu mẫu.
Mẫu tiêu bản rệp sáp để định loại được làm
theo phương pháp của Waston (2007). Việc định
loại tiến hành theo các tài liệu của Williams,
Watson (1990), Williams (2004) và sự thẩm định
mẫu vật của TS. Natalia von Ellenrieder tại Trung
tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông
nghiệp và Thực phẩm bang California (Hoa Kỳ).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần loài rệp sáp hại cây na
Điều tra định kỳ ở các tỉnh Bắc Giang, Hà
Nam, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La và điều tra
bổ sung theo đợt ở tỉnh Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng
Tàu trong thời gian 2013-2016 trên cây na đã thu
thập, xác định tên khoa học được 13 loài rệp
sáp. Chúng thuộc 4 họ rệp sáp phổ biến. Trong
đó, họ rệp sáp bột (Pseudococcidae) có số lượng
loài nhiều nhất (6 loài) và họ rệp sáp vảy
(Diaspididae) có 4 loài (bảng 1).
Bảng 1. Các loài rệp sáp gây hại cây na ở một số tỉnh trồng na ở Việt Nam (2013-2016)
TT Tên tiếng Việt Tên khoa học
Bộ phận
bị hại
Tần suất
bắt gặp
Nơi phát hiện
Họ Monophlebidae
1 Rệp sáp tua
ai-cập
Icerya aegyptiaca (Douglas) Lá, cành
nhỏ
+ + Bắc Giang, Hà Nam, Lạng
Sơn, Quảng Ninh, Sơn La
Họ Pseudococcidae
2 Rệp sáp giả
màu hồng
Maconellicoccus hirsutus
(Green)
1
Quả - Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh
3 Rệp sáp giả Paraputo errabundus
Williams
2
Gốc cây na + Hà Nam
4 Rệp sáp giả cam Planococcus citri (Risso) Quả + + + Bà Rịa-Vũng Tàu, Bắc
Giang, Hà Nam, Lạng Sơn,
Phú Thọ, Quảng Ninh
5 Rệp sáp giả Planococcus dischidiae
(Takahashi)
1
Quả + + + Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh
6 Rệp sáp giả
cà phê
Planococcus lilacinus
(Cockerell)
Quả + Quảng Ninh
7 Rệp sáp giả Pseudococcus odermatti
Miller & Williams
2
Quả - Lạng Sơn
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
47
TT Tên tiếng Việt Tên khoa học
Bộ phận
bị hại
Tần suất
bắt gặp
Nơi phát hiện
Họ Coccidae
8 Rệp sáp mềm
hình mũ Ceroplastes rusci (Linnaeus)
Lá, cành
nhỏ
+ Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tây
Ninh
9 Rệp sáp mềm
dài màu nâu
Coccus longulus (Douglas)
2
Lá, cành
nhỏ
+ Phú Thọ, Quảng Ninh
Họ Diaspididae
10 Rệp sáp vảy đỏ Aonidiella aurantii (Maskell) Lá ++ Hà Nam
11 Rệp sáp vảy tròn
phương đông
Aonidiella orientalis
(Newstead)
1
Quả - Hà Nam, Lạng Sơn, Quảng
Ninh, Tây Ninh
12 Rệp sáp vảy tròn Aspidiotus destructor
Signoret
Lá +++ Hà Nam, Lạng Sơn
13 Rệp sáp vảy Chrysomphalus
bifasciculatus Feris
Lá +++ Hà Nam, Lạng Sơn
Ghi chú: -: tần suất bắt gặp rất thấp (dưới 5% số lần điều tra bắt gặp), +: tần suất bắt gặp thấp (6-
25% số lần điều tra bắt gặp), ++: tần suất bắt gặptrung bình (26-50% số lần điều tra bắt gặp), +++: tần
suất bắt gặp cao (>50% số lần điều tra bắt gặp);
1
loài ghi nhận mới trên cây na;
2
loài ghi nhận mới
cho Việt Nam.
Hầu hết các loài rệp sáp đã ghi nhận được
đều gây hại ở các bộ phận phía trên mặt đất.
Có 6 loài (A. orientalis, M. hirsutus, P. citri, P.
dischidiae, P. lilacinus, P. odermatti,) gây hại
trên quả, 3 loài gây hại trên lá (A. aurantii, A.
destructor, C. bifasciculatus), 3 loài (I.
aegyptiaca, C. rusci, C. longulus) gây hại vừa
trên lá vừa trên cành nhỏ, chỉ có 1 loài P.
errabundus gây hại ở gốc cây na. Trong các
loài rệp sáp đã phát hiện gây hại cây na, có
4/13 loài có tần suất bắt gặp cao. Đó là các
loài rệp sáp giả cam P. citri, rệp sáp giả P.
dischidiae, rệp sáp vảy tròn A. destructor và
rệp sáp vảy C. bifasciculatus (bảng 1). Đặc
biệt, hai loài rệp sáp giả cam P. citri và rệp sáp
giả P. dischidiae có khả năng gia tăng mật độ
quần thể rất nhanh chóng khi cây na ở giai
đoạn sắp cho thu hoạch quả.
Các nghiên cứu trước đây (Nguyễn Thị Chắt
và nnk., 2005; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000; Đào
Thị Hằng và nnk., 2017; Phạm Văn Lầm và nnk.,
2013; Viện Bảo vệ thực vật, 1999) đã ghi nhận
được tổng số 22 loài rệp sáp gây hại trên cây na
ở Việt Nam. Trong đó, mỗi nghiên cứu này đã chỉ
ghi nhận được từ 1 loài đến 11 loài rệp sáp. Như
vậy, số lượng loài rệp sáp hại cây na ghi nhận
được trong nghiên cứu này đã nhiều hơn từ 2
đến 12 loài so với từng nghiên cứu trước đây,
nhưng chỉ chiếm 59,1% tổng số loài đã ghi nhận
trên cây na ở Việt Nam (13/22 loài). Có tới 14
loài (Pulvinaria sp., Parasaissetia nigra,
Dysmicoccus sp., Ferrisia virgata, Nipaecoccus
sp., Aonidiella citrina, Lepidosaphes sp.,
Hemiberlesia lantaniae, H. palmae,
Pseudaulacaspis cockerelli, Parlatoria sp.,
Pinnaspis aspidistrae, Pseudaonidia
trilobitiformis, Unaspis sp.) mà các nghiên cứu
trước đã ghi nhận được trên cây na, nhưng
nghiên cứu này chưa ghi nhận được. Ngược lại,
có tới 6 loài ghi nhận được trên cây na trong
nghiên cứu này, nhưng các nghiên cứu trước lại
chưa ghi nhận được (tức là nghiên cứu này ghi
nhận mới trên cây na ở Việt Nam). Đó là các loài
A. orientalis, C. longulus, M. hirsutus, P.
dischidiae, P. errabundus, P. odermatti. Trong số
các loài này, có 3 loài (C. longulus, P.
errabundus, P. odermatti) là ghi nhận lần đầu cho
khu hệ rệp sáp ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
này đã đưa tổng số loài rệp sáp ghi nhận gây hại
cây na ở Việt Nam lên 28 loài.
Trong nghiên cứu này, tần suất bắt gặp của
hai loài loài rệp sáp giả cam P. citri và rệp sáp
tua ai-cập I. aegyptiaca đã ghi nhận được
tương tự với nghiên cứu của Phạm Văn Lầm
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
48
và nnk. (2013). Tần suất bắt gặp của các loài
rệp sáp vảy đỏ A. aurantii, rệp sáp vảy tròn A.
destructor, rệp sáp vảy C. bifasciculatus tương
tự như kết quả nghiên cứu của Đào Thị Hằng
và nnk. (2017). Loài rệp sáp giả cà phê P.
lilacinus trong nghiên cứu này chỉ ghi nhận có
tần suất bắp gặp ở mức thấp, nhưng lại là sâu
hại chính trên cây na ở đồng bằng sông Cửu
Long (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000). Đối với
vùng trồng na ở tỉnh Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng
Tàu, loài rệp sáp giả P. dischidiae là sâu hại
chính trên cây na với tần suất bắt gặp ở mức
cao, quần thể của nó gia tăng rất nhanh từ khi
quả chưa chín sinh lý và đạt đỉnh điểm vào thời
kỳ thu hoạch quả.
3.2 Đặc điểm hình thái chính của những
loài đƣợc ghi nhận lần đầu ở Việt Nam
Loài Coccus longulus (Douglas)
Trưởng thành cái có cơ thể màu vàng nâu
đến màu nâu, chiều dài cơ thể lớn hơn 2 lần
chiều rộng cơ thể.
Trên mẫu lam, râu đầu gồm 8 đốt, chân
tương đối phát triển, bộ phận tiếp giáp giữa đỉnh
đốt chày và gốc bàn chân hóa cứng, lỗ hậu môn
hình tam giác, mép trước hậu môn hơi lõm
xuống, mép sau hơi cong lên và có 4 lông cứng.
Rãnh lỗ thở ngực trước (stigmatic cleft) rất phát
triển, có 3 lông cứng, lông cứng ở giữa dài gấp
2-3 lần lông cứng ở bên. Lông cứng ở mép cơ
thể thẳng dài và mảnh khảnh. Mặt lưng cơ thể
có những lông cứng ngắn, đầu lông cứng cong,
lỗ chân lông nổi hình vành khăn, lỗ chân lông
nhỏ có rải rác cùng với u lồi, những u lồi có ở
gần mép cơ thể. Mặt bụng có 3 đôi lông cứng
dài ở trước lỗ sinh dục, cấu trúc lỗ năm ngăn
xếp hàng đôi ở rãnh của lỗ thở ngực trước, cấu
trúc lỗ nhiều ngăn (6-8 ngăn) có ở xung quanh
lỗ sinh dục.
Loài Paraputo errabundus Williams
Trưởng thành cái có cơ thể màu hồng, hình ô
van rộng, căng tròn gần giống hình bán cầu, mép
cơ thể không có tua sáp.
Trên mẫu lam, râu đầu có 7 đốt, cơ thể hình
ô van mở rộng, mặt trước và mặt sau của đốt
háng có những cụm lỗ chân lông trong mờ,
những lỗ chân lông này cũng có rải rác ở trên
mặt sau của đốt chày chân sau. Trên cơ thể có
17 lỗ sáp, lỗ sáp ở phần đầu và ngực có 3-5
gai hình nón, lỗ sáp gần hậu môn hóa cứng tập
trung nhiều cấu trúc lỗ 3 ngăn và 8 gai hình
nón với các kích thước khác nhau. Trên mặt
lưng có những lông cứng ngắn, lỗ chân lông
nổi hình vành khăn. Trên mặt bụng, lông cứng
dài hình roi, một vài gai hình nón có rải rác ở
mép hay sát mép cơ thể. Cấu trúc lỗ nhiều
ngăn xếp hàng đơn ở giữa đốt bụng VI, xếp
hàng đôi ở đốt bụng thứ VII. Ống sáp hình trụ
(oral collar tubular duct) với 3 kích thước khác
nhau có ở giữa 2 râu đầu và các đốt bụng thứ
IV-VII.
Coccus longulus Parputo errabundus Pseudococcus odermatti
Hình 1. Các loài rệp sáp bột ghi nhận lần đầu cho khu hệ côn trùng Việt Nam
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018
49
Loài Pseudococcus odermatti Miller &
Williams
Trưởng thành cái có màu xám, cơ thể hình
ovan hơi rộng, xung quanh cơ thể có 16 đôi tua
sáp ngắn bằng nhau, riêng đôi tua sáp ở cuối cơ
thể dài gấp 3-4 lần các đôi tua sáp khác. Râu
đầu có 8 đốt. Trên chân sau ở đốt háng không có
những lỗ chân lông trong mờ, nhưng có tương
đối nhiều ở mặt sau của đốt đùi và đốt chày. Có
17 lỗ tạo sáp xung quanh cơ thể, lỗ tạo sáp ở
hậu môn có 2 gai hình nón và 6 lông cứng phụ.
Có khoảng 70 lỗ chân lông 3 ngăn nằm trong
vùng hóa cứng.
Trên mẫu lam, thùy hậu môn (anal lobes)
phát triển vừa phải, hình tam giác, hóa cứng,
lông cứng ở đỉnh thùy (đỉnh hình tam giác) dài
gần gấp 3 lần các lông cứng phía trước. Mặt
lưng có lông cứng hình roi, lông cứng dài nhất
có ở đốt bụng thứ VII, lỗ chân lông hình đĩa
(discoidal pore) rất nhỏ nằm cạnh các ống tạo
sáp hình trụ ở mép cơ thể. Ống sáp hình trụ
miệng dạng vành khăn (oral rim tubular ducts)
phân bố đơn lẻ sau lỗ sáp thứ nhất, gần các lỗ
sáp ở mép phần ngực và các đốt bụng I-IV,
cạnh các ống sáp hình trụ miệng dạng vành
khăn có 1 hoặc 2 lỗ chân lông hình đĩa
(discoidal pore). Các ống sáp hình trụ miệng
dạng vành khăn có kích thước rộng như lỗ chân
lông 3 ngăn phân bố gần các lỗ sáp và ở giữa
ngực. Mặt bụng có tương đối nhiều lỗ chân lông
tròn nhiều ngăn (multilocular disc pores) xếp
hàng đơn, hàng đôi hay hàng ba ở phía góc
cuối của các đốt bụng V-VII, xếp hàng đơn ở
góc cuối của đốt bụng IV. Có 3-4 ống sáp hình
trụ miệng dạng vành khăn ở mép sau lỗ thở
ngực trước và 1 ống sáp hình trụ miệng dạng
vành khăn ở gần lỗ thở ngực sau, cạnh ống sáp
hình trụ miệng dạng vành khăn có 1-2 lỗ chân
lông hình đĩa rất nhỏ.
4. KẾT LUẬN
Đã xác định được 13 loài thuộc 4 họ rệp
sáp gây hại cây na ở vùng nghiên cứu trong
các năm 2013-2016. Trong đó, 3 loài Coccus
longulus, Paraputo errabundus và
Pseudococcus odermatti được ghi nhận lần
đầu cho khu hệ rệp sáp ở Việt Nam và 6 loài
(C. longulus, P. errabundus, P. odermatti,
Maconellicoccus hirsutus, Planococcus
dischidiae, Aonidiella orientalis) bổ sung vào
danh sách rệp sáp hại cây na ở Việt Nam.
Trong các loài rệp sáp đã phát hiện gây hại
cây na, 4 loài (rệp sáp giả cam P. citri, rệp sáp
giả P. dischidiae, rệp sáp vảy tròn A. destructor,
rệp sáp vảy C. bifasciculatus) có tần suất bắt gặp
cao trên cây na ở các tỉnh được nghiên cứu. Loài
rệp sáp giả cam P. citri là sâu hại chính trên cây
na ở các tỉnh phía Bắc và loài rệp sáp giả P.
dischidiae là sâu hại chính trên cây na ở một số
tỉnh phía Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Thị Hằng, Nguyễn Văn Liêm, Lê Đức
Khánh, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Đức Việt, Nguyễn
Văn Dân, 2017. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 6:36-39.
2. Nguyễn Thị Chắt, Vũ Thị Nga, Trần Thành Tân,
Lê Thị Tuyết Nga, Trần Thị Quế Trân, Lê Minh Tâm,
Lê Quang Tùng, Nguyễn Thị Hồng Thủy, 2005. Báo
cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc lần
thứ 5. Hội Côn trùng học Việt Nam. Nxb Nông nghiệp,
Hà Nội: 19-24.
3. Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000. Côn trùng và nhện
gây hại cây ăn trái vùng đồng bằng sông Cửu Long và
biện pháp phòng trị. Nxb Nông nghiệp, Tp. Hồ Chí
Minh: 201-211.
4. Phạm Văn Lầm, Bùi Văn Dũng, Lê Thị Tuyết
Nhung, Thế Trường Thành, Trương Thị Hương Lan,
2013. Tạp chí Bảo vệ thực vật, số 4:18-24.
5. Viện Bảo vệ thực vật, 1997. Phương pháp
nghiên cứu bảo vệ thực vật: Phương pháp điều tra cơ
bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng. Tập
I. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
6. Viện Bảo vệ thực vật, 1999. Kết quả điều tra côn
trùng và bệnh hại cây ăn quả ở Việt Nam 1997-1998.
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội: 77.
7. Waston G., 2007. Identification of mealybug
(Hemiptera: Pseudococcidae) 108p.
8. Williams D.J., 2004. Mealybugs of southern
Asia. The Natural History Museum
9. Williams D.J. and G.W. Watson, 1990. The soft
scales (Coccidoidae) and other families. CABI
International Institute of Entomology.
Phản biện: TS. Đào Thị Hằng
Các file đính kèm theo tài liệu này:
gop_phan_tim_hieu_thanh_phan_loai_rep_sap_homoptera_coccoide.pdf