Hành vi của người tiêu dùng đối với thực phẩm hữu cơ: Trường hợp nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu sử (lụng Bootstrap vói số lượng mầu lặp lại N = 1000 đổ kiểm định độ tin cậy của các ước lượng (Schumackcr & Lomax, 1996). Kết quả cho thấy độ lệch rất bé (P < 0,05) nên có the kết luận các ước lượng trong mô hình là tin cậy được. Nghiên cứu còn tiến hành phân tích đa nhóm theo biến giói tính và thu nhập (Bảng 5). Kết quả cho thấy mô hình khả biến và bất biến từng phần không khác biệt theo hai nhóm giói tính (nam hay nữ thì cả 5 nhân tố đều ảnh hưởng đến YD - mô hình bất biến được chọn) nhưng có sự khác biệt theo các nhóm thu nhập (nhân tố CQ, GC có ý nghĩa với nhóm thu nhập thấp nhưng không có ý nghĩa vói nhóm thu nhập cao, còn nhân tố se thì ngược lại - mô hình khả biến được chọn). 4. Kết Luận Các yếu tố: Thái độ đối vói TPHC, Chuẩn chủ quan, Sự quan tâm đến sức khỏe, Cảm nhận về giá và Sự sẵn có ảnh hưởng đến Y định và Hành vi tiêu dùng TPHC. Mô hình SEM chứng minh Y định tiêu dùng là dại diện cho sự sẵn sàng thực hiện một hành vi, có sự ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến Hành vi tiêu dùng. Bên cạnh dó, mức giá TPHC hiện tại cao hơn nhiều với các loại thực phẩm thông thường là rào cản trong việc thúc dẩy tiêu thụ. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố trong mô hình không có sự khác biệt theo giới tính nhưng có khác biệt theo các nhóm thu nhập. Mặc dù nghiên cứu này xác định dược các yếu tố quan trọng ảnh hưởng den hành vi tiêu dùng TPHC, do lường được mối (plan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng TPHC nhưng còn nhiều yếu tố khác như niềm tin, truyền thông, chất lượng, kiến thức TPHC và sự quan tâm den môi trường chưa dược do lường. Khi do lường mối quan hệ giữa các biến, nghiên cứu còn bó (pia dặc diem cá nhàn, tác dộng marketing và môi trường market¬ing. Những hạn chế này cần dược tiến hành khảo sát và tiếp tục nghiên cứu them.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hanh_vi_cua_nguoi_tieu_dung_doi_voi_thuc_pham_huu_co_truong.pdf


