Ghi chú: a, b- mặt bên; c- mặt miệng; 1a, 1b: Siphoniferoides siphonifera (Brady), ., x20, 1a-b=
No 10PVR3.2; 2a, 2b: Clavulina angularis d‟Orbigny, x20, No 10PVR4.1; 3a, 3b: Clavulina pacifica
Cushman, ., x20, No 10PVR4.5; 4a, 4b: Clavulina sp., ., x20, No 10PVR4.2; 5a, 5b: Valvulina
oviedoiana d‟Orbigny, x20, No 2PVR5.1; 6a, 6b: Spiroloculina sp. 1, x22, No 9PVR20.1; 7:
Spiroloculina sp.2, x22, No 11PV37.1; 8a, 8b, 8c: Quinqueloculina sulcata d‟Orbigny, x20, No
8PVR17.2; 9a, 9b, 9c: Quinqueloculina sp. 1, x16, No 8PVR18.1.
Ghi chú: 1a, 1b, 1c: Triloculina sp., x22, No 9PVR21.1; 2a, 2b, 2c: Triloculina elongotricarina
Debenay, x32, No 9PVR27.1; 3: Pyrgo sp., x64, No 8PVR16.1; 4a, 4b: Triloculina cf. sidebottomi,
x32, No 12PV34a-b; 5: Lagenosolenia sp., x42, No 8PVR16.2; 6a, 6b: Archaias angulatus (Fichtel et
Moll) (form A), x37, No 15PV50a-b; 7a, 7b: Archaias angulatus (Fichtel et Moll) (form B), x11, No
8PVR14.1; 8a, 8b, 8c: Peneroplis ex gr. planatus (Fichtel et Moll), x15, No 10PV50a-b; 9a, 9b:
Spirolina cylindracea Lamarck, x46, No 13PV39a-b; 10: Gypsins sp. x38, N0 PV26; 11a, 11b:
Parasorites sp., x21, No 10PV19h-i; 12a, 12b: Sorites sp., x27, No 10PVR23.3; 13a, 13b:
Amphisorus hemprichii Ehrenberg, x25, No 10PVR24.1.
Ghi chú: a- mặt bụng; b- lưng; c- mặt miệng; 1a, 1b, 1c: Amphistegina lessoni d‟Orbigny, x20,
No 15PV2.1; 2a, 2b, 2c: Aphistegina radiata (Fichtel et Moll), x20, No 15PVR7.1; 3a, 3b, 3c:
Aphistegina lobifera Larsen, x22, No 11PV3.1; 4: Acervulina inhaerens Schultz, x15, No
10PVR54.1; 5a, 5b, 5c: Pegidia ex gr. laculata McCulloch, x20, No 4PV13.1; 1a, 1b:
Globigerinoides trilobus (Reuss), x45, No 15PVR42a-b, 7a, 7b, 7c: Planorbulinella larvata (Parker
et Jones), x15, No 9PVR30.1; 8a, 8b, 8c: Cibicides lobatulus (Walker et Jacob), x22, No 10PV55a-c.
13 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hệ động vật trùng lỗ (foraminifera) holocen ở khu vực đảo Phan Vinh, quần đảo Trường Sa và một số vấn đề liên quan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
39
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 39-51
DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/12587
HỆ ĐỘNG VẬT TRÙNG LỖ (Foraminifera) HOLOCEN
Ở KHU VỰC ĐẢO PHAN VINH, QUẦN ĐẢO
TRƯỜNG SA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Nguyễn Ngọc
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
E-mail: ngoccdbk@gmail.com
Ngày nhận bài: 15-6-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 15-10-2016
TÓM TẮT: Hệ động vật Trùng lỗ (Foraminifera) Holocen ở khu vực đảo Phan Vinh, quần
đảo Trường Sa khá phong phú và đa dạng cả về thành phần phân loại và đặc điểm sinh thái. Kết
quả nghiên cứu bước đầu đã xác định được 69 loài (chưa kể một số dạng chưa xác định) thuộc
42 giống, 25 họ và 6 bộ. Trong đó, phát triển chiếm ưu thế là đại biểu của các giống:
Calcarina, Amphistegina, Heterostegina, Elphidium, Amphisorus, Marginopora, Sorites,
Parasorites, Peneroplis, Archaias, Siphonipheroides, Septotextularia,... thuộc các bộ Rotalida,
Miliolida, Textularida,... Chúng đặc trưng cho môi trường biển nông ấm áp của vùng quần đảo
Trường Sa và Biển Đông (nói chung) trong Holocen. Một số vấn đề liên quan đến hệ động vật
này ở khu vực đảo Phan Vinh như: Đa dạng sinh học của hệ sinh thái san hô Phan Vinh, ý
nghĩa địa tầng, cổ địa lý và vai trò tạo rạn của động vật Trùng lỗ cũng được đề cập đến. Ngoài
ra, đối với Trùng lỗ hiện đại, hiện nay trên thế giới chúng đang được sử dụng như những „chỉ
thị sinh học‟ (bioindicators) trong việc đánh giá và quan trắc chất lượng môi trường hệ sinh
thái rạn san hô nói riêng và môi trường biển nói chung. Ở Việt Nam phương pháp này chưa
được áp dụng, nhưng trong tương lai thì đây là một trong các phương pháp nên được quan tâm.
Thêm vào đó, việc nghiên cứu sinh vật ở đảo Phan Vinh còn phục vụ công tác xây dựng bộ sưu
tập mẫu vật bảo tàng.
Từ khóa: Trùng lỗ (Foraminifera), Holocen, đảo Phan Vinh, Quần đảo Trường Sa (Việt Nam).
MỞ ĐẦU
Trầm tích tầng mặt rạn san hô Phan Vinh
(kể cả phầ đảo nổi và bề mặt rạn) gồm chủ yếu
là di tích mảnh vụn khung xương của các sinh
vật biển như san hô (chủ yếu), rong tảo vôi, vỏ
của động vật thân mềm (Bivalvia,
Gastropoda), động vật da gai (Echinodermata:
Nhím biển, sao biển), Bọt biển (Spongia),
Trùng hạt đậu (Ostracoda), Phóng xạ trùng
(Radiolaria), Giun biển, động vật dạng rêu
(Bryozoa),... Trong đó, đặc biệt là các di tích
vỏ động vật đơn bào Trùng lỗ (Foraminifera)
khá phong phú, đa dạng, có độ bảo tồn tốt và
là một trong các thành phần quan trọng của
vật liệu trầm tích, đồng thời chúng có ý nghĩa
quan trọng trong nghiên cứu sinh vật tạo rạn,
địa tầng và địa chất nói chung, cổ địa lý và
môi trường trầm tích. Bài viết này giới thiệu
một số đặc điểm của hệ động vật Trùng lỗ
Holocen ở khu vực đảo và bề mặt rạn san hô
Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa và một
số vấn đề liên quan với chúng.
MỘT SỐ NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN,
ĐỊA MẠO VÀ ĐỊA CHẤT ĐẢO PHAN
VINH, QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
Đặc điểm điều kiện tự nhiên. Đảo Phan
Vinh (tên tiếng Anh là Pearson Reef, trước
Nguyễn Ngọc
40
kia gọi là Hòn Sập) thuộc cụm đảo Trường
Sa. Đảo mang tên anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân Nguyễn Phan Vinh trong cuộc
chiến tranh chống Mỹ cứu nước, có tọa độ
8
o58‟00” vĩ độ bắc và 113o41‟28” kinh độ
đông. Đảo nằm trên một rạn san hô ngầm có
hình dáng kéo dài theo hướng đông bắc-tây
nam, gồm 2 phần: Đảo nổi Phan Vinh A (nằm
ở phía đông bắc) và Phan Vinh B (ở phía tây
nam). Phần đảo nổi cao hơn mực triều cao
nhất khoảng trên 1 m, rộng 72 m, dài 132 m.
Phía tây nam là rạn ngần chỉ lộ ra khỏi mặt
nước khi triều kiệt, bãi ngầm kéo dài gần 10
km, chỗ rộng nhất khoảng 3 km, có một hồ
kín (lagoon) ở giữa (hẹp và dài nằm theo
hướng đông - tây), sâu khoảng 10 m. Rạn san
hô Phan Vinh thuộc kiểu rạn vòng đơn kín.
Trên đảo có cây xanh và các công trình xây
dựng kiên cố phục vụ cho dân sinh và
quốc phòng.
Hình 1. Bản đồ hình thái địa hình
đảo Phan Vinh [1]
Đặc điểm khí tƣợng thủy văn. Đảo Phan
Vinh nói riêng và quần đảo Trường Sa (Việt
Nam) nói chung nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa. Theo số liệu trạm khí
tượng trên đảo Trường Sa, nhiệt độ trung
bình năm là 27,7°C. Mùa hè (tháng 5-10),
trung bình 28,2°C; mùa đông (tháng 10-4),
trung bình 28,8°C. Ở quần đảo Trường Sa có
hai mùa: Mùa khô (tháng 2-4), mùa nưa
(tháng 5 - tháng 1 năm sau). Lượng mưa dao
động từ 1.800 mm đến 2.200 mm; Thủy triều
có xu hướng nhật triều không đều [Nguồn:
Internet]. Điều kiện nhiệt độ và môi trường
ảnh có hưởng lớn tới sự phát triển của sinh
vật Trùng lỗ.
Đặc điểm địa chất. Theo tác giả Đỗ Minh Tiệp
[2], rạn san hô Phan Vinh phát triển trên nền đá
granit và bazan, gồm 3 phần:
Tầng trên là đá granit, đá bazan phun trào
loại kiềm-vôi lẫn cát;
Tầng giữa là thân rạn gồm đá vôi san hô
rắn chắc;
Tầng trên (tầng mặt) là trầm tích vụn sinh
vật (các di tích Trùng lỗ nghiên cứu trong bài
viết này được thu thập từ tầng trầm tích này-
tương ứng với hệ tầng trầm tích Holocen ở các
đảo nổi Trường Sa của Nguyễn Ngọc, Nguyễn
Hữu Cử [3, 4].
TÀI LIỆU THỰC TẾ VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Tài liệu thực tế. Gồm 15 mẫu do đề tài “Xác
định địa chất, địa mạo, xây dựng phương án
mở luồng vào các đảo san hô” do PGS. TS.
Phạm Huy Tiến (chủ trì) [5] thu thập (trong
đó, tác giả bài viết này là một trong các tác
giả thực hiện đề tài nói trên) [6] và 4 (bốn
mẫu) do KS. Đỗ Minh Tiệp thu thập gửi xác
định. Tất cả các mẫu thu thập nằm trong
khung tọa độ của đảo là 8o59‟28”-8o58‟00”N
và 113
o37‟55”-113o43‟25”E.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Các mẫu được gia
công bằng phương pháp ngâm (với hóa chất),
rửa và lọc qua rây có cỡ mắt 63 μm, sấy khô và
nghiên cứu dưới kính hiển vi soi nổi để xác
định tên khoa học và các đặc điểm của sinh vật
(theo Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Bạt
[7]). Tài liệu chính để xác định mẫu gồm các
chuyên khảo và các ấn phẩn khác về
Foraminifera của các tác giả Cushman,
Debenay, Loeblich and Tappan [7, 8-13]
HỆ ĐỘNG VẬT TRÙNG LỖ (Foraminifera)
HOLOCEN ĐẢO PHAN VINH, QUẦN
ĐẢO TRƢỜNG SA
Hệ động vật Trùng lỗ Holocen ở một số
đảo thuộc quần đảo Trường Sa nói chung đã
được một số tác giả nghiên cứu như Nguyễn
Ngọc, Nguyễn Hữu Cử [3, 4, 12, 14-17],
nhưng ở đảo Phan Vinh thì đây là công trình
nghiên cứu lần đầu.
Hệ động vật Trùng lỗ (Foraminifera) Holocen
41
Sơ lƣợc về hệ động vật Trùng lỗ. Trùng lỗ là
động vật đơn bào (Protozoa), cơ thể chỉ có một
tế bào và nguyên sinh chất cùng với một hoặc
một số nhân, phần lớn được bảo vệ bởi lớp vỏ
cứng bằng các khoáng chất (chủ yếu bằng chất
vôi) nên chúng thường được bảo tồn tốt trong
các lớp đá trầm tích và cho phép nghiên cứu chi
tiết đặc điểm cấu tạo hình thái của chúng. Các
sinh vật này có một số đặc điểm ưu việt là do
có tốc độ tiến hóa tương đối nhanh tạo nên các
hóa thạch đặc trưng, chỉ đạo địa tầng; là các
sinh vật biển có thể tồn tại và phát triển trong
các điều kiện môi trường biển khác nhau nên
được coi là các sinh vật chỉ thị môi trường;
trong chúng có một số sống cộng sinh với các
sinh vật khác (chủ yếu là các loại tảo vôi) có
khả năng sản xuất ra các sản phẩm là cacbonat
tham gia vào quá trình tạo rạn nên còn được gọi
là sinh vật sản xuất vật liệu cacbonat
(carbonate producers. Theo Langer; Langer,
Silk and Lipps; Sorokin; Miyaima, Koike [18-
21]). Những đặc điểm này tạo nên các giá trị
của chúng trong nghiên cứu sinh địa tầng, cổ
địa lý và quá trình tạo rạn,...
Thành phần phân loại và đặc điểm sinh thái.
Thành phần phân loại: Kết quả nghiên cứu và
phân tích cho thấy hệ động vật Trùng lỗ
Holocen ở khu vực đảo Phan Vinh khá đa dạng
và có độ bảo tồn từ trung bình đến tốt. Về
thành phân phân loại: Gồm 69 loài (chưa kể
một số dạng chưa xác định) thuộc 42 giống, 25
họ và 6 bộ. Trong đó, phát triển chiếm ưu thế là
đại biểu của các giống: Calcarina, Aphistegina,
Heterostegina, Elphidium, Amphisorus,
Marginopora, Sorites, Parasorites, Peneroplis,
Archaias, Siphonipheroides, Septotextularia,...,
thuộc các bộ Rotaliida, Miliolida,
Textulariida,... (theo phân loại của Loeblich
and Tappan [11]) (bảng 1).
Bảng 1. Thành phần giống, loài của hệ động vật Trùng lỗ Holocen
ở khu vực đảo Phan Vinh, quần đảo Trường Sa (Việt Nam)
Giống loài Thành phần giống loài 1 (+) 2 (▲) 3 (●) 4 (■) Ghi chú
1 1 Acervulina inhaerens ▲ Sống bán cố định
2 2 Ammonia sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
3 3 Amphicoryna ? sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
4 4 Amphisorus hemprichii ● Sống đáy, vỏ vôi
5
5 Amphistegina lessoni ● Sống đáy, vỏ vôi
6 Amphistegina lobifera ● Sống đáy, vỏ vôi
7 Amphistegina radiata ● Sống đáy, vỏ vôi
8 Amphistegina cf. madagascariensis + Sống đáy, vỏ vôi
9 Amphistegina sp + Sống đáy, vỏ vôi
6 10 Anomalinella ? sp. + Sống đáy, vỏ vôi
7
11 Archaias angulatus ● Sống đáy, vỏ vôi
12 Archaias sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
8 13 Buchnerina ? sp. + Sống đáy, vỏ vôi
9
14 Calcarina hispida ● Sống đáy, vỏ vôi
15 Calcarina spengleri ■ Sống đáy, vỏ vôi
16 Calcarina defrancei ● Sống đáy, vỏ vôi
17 Calcarina sp. + Sống đáy, vỏ vôi
10
18 Cibicides lobatulus ▲ Sống bám đáy,
19 Cibicides sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
11
20 Clavulina pacifica ● Vỏ cát nhỏ-mịn
21 Clavulina sp. (C. cf. subangularis) ▲ Vỏ cát nhỏ-mịn
22 Clavulina sp. + Vỏ cát nhỏ-mịn
12 23 Cymbaloporella sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
13 24 Cymbaloporetta bradyi ▲ Sống đáy, vỏ vôi
14 25 Dícorbis sp. + ▲ Sống đáy, vỏ vôi
15
26 Elphidium crispum ▲ Sống đáy, vỏ vôi
27 Elphidium macelum ● Sống đáy, vỏ vôi
Nguyễn Ngọc
42
28 Elphidium sp. + Sống đáy, vỏ vôi
16
29 Globigerinoides trilobus + Sống trtôi nổi
Sông trôi noiỉ 30 Globigerinoides ruber +
17 31 Gypsina globula ▲ Sống đáy, vỏ vôi
18
32 Heterostegina depressa ● Sống đáy, vỏ vôi
33 Heterostegina sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
19 34 Lagenosolenia sp. + Sống đáy, vỏ vôi
20 35 Marginopora vertebralis ● Sống đáy, vỏ vôi
21 36 Miliolinella sp. + Sống đáy, vỏ vôi
22 37 Nonion sp. + Sống đáy, vỏ vôi
23 38 Pararotalia calcar Sống đáy, vỏ vôi
24 39 Parasorites sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
25 40 Parrina sp. + Sống đáy, vỏ vôi
26 41 Pegidia cf. dubia ▲ Sống đáy, vỏ vôi
27
42 Peneroplis planatus ● Sống đáy, vỏ vôi
43 Peneroplis sp. + Sống đáy, vỏ vôi
28 44 Planorbulinella larvata ▲ Sống đáy, vỏ vôi
29 45 Pyrgo sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
30
46 Quinqueloculina parker ▲ Sống đáy, vỏ vôi
47 Quinqueloculina pseudoreticulata ▲ Sống đáy, vỏ vôi
48 Quinqueloculina sulcata ● Sống đáy, vỏ vôi
49 Quinqueloculina sp.1 + Sống đáy, vỏ vôi
50 Quinqueloculina sp.2 + Sống đáy, vỏ vôi
31 51 Rectobolivina raphana ▲ Sống đáy, vỏ vôi
32 52 Schlumbergerella ? sp + Vỏ cát dính kết
33 53 Septotextularia rugosa ● Vỏ cát dính kết
34 54 Siphonipheroides siphoniferus ● Vỏ cát dính kết
35 55 Sorites sp. ● Sống đáy, vỏ vôi
36 56 Spirillina ? sp + Sống đáy, vỏ vôi
37 57 Spirolina acicularis + Sống đáy, vỏ vôi
38
58 Spiroloculina ex gr. antillarum ▲ Sống đáy, vỏ vôi
59 Spiroloculina sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
39
60 Textularia agglutinans ▲ Vỏ cát dính kết
61 Textularia corrugata ▲ Vỏ cát dính kết
62 Textularia sp. 1 ▲ Vỏ cát dính kết
63 Textularia sp. 2 ▲ Vỏ cát dính kết
40
64 Triloculina bicarinata ▲ Sống đáy, vỏ vôi
65 Triloculina tricarina ▲ Sống đáy, vỏ vôi
66 Triloculina sp. ▲ Sống đáy, vỏ vôi
41
67 Truongsaia phanvinhensis ▲ Sống bám đáy
68 Truongsaia sp. ▲ Sống bám đáy
42 69 Valvulina oviedoiana ● Vỏ cát dính kết
70 Một số dạng chưa xác định +
Ghi chú: +: Hiếm gặp; ▲: Thường gặp; ●: Phong phú; ■: Rất phong phú (phát triển ưu thế hay trội).
Đặc điểm sinh thái: Gần như toàn bộ các
giống, loài Foraminifera ở đảo Phan Vinh thuộc
nhóm sinh thái sống đáy (benthic
Foraminifera), chúng hoặc là sống tự do trên
nền đáy, sống bán vào các vật thể xung quanh
(kể cả bám vào thân và lá cỏ biển, rong biển,...)
hay sống trong trầm tích bề mặt đáy thủy vực,
trong các hang hốc, rất hiểm các dạng sống phù
du trôi nổi (planktonic Foraminifera) (ngoài hai
loài duy nhất là Globigerinoides triloibus và
Globigerinoides ruber, có thể các cá thể này là
do sóng hoặc dòng chảy ven đảo đưa vào đảo).
Vì là các sinh vật biển nông, sống trong môi
trường có động lực tương đối mạnh, nên cấu
tạo hình thái vỏ của chúng thường khá đa dạng:
Hình thấu kính, hình đĩa để giảm sự va chạm
Hệ động vật Trùng lỗ (Foraminifera) Holocen
43
với các vật thể xung quanh khi bị nhiễu động
mạnh, một số vỏ có gai phát triển để móc vào
các vật thể khác giữ cho sinh vật có thể sống cố
định ở một chỗ mà không bị nước cuốn trôi,
một số sống bán cố định vào bề mặt đáy hay
các vật thể khác nên một phần vỏ của chúng
thường có hình dáng không cố định, cấu tạo
không theo quy luật... Chúng là các sinh vật biển
điển hình, chủ yếu là các sinh vật hẹp muối cao
(môi trường nước có nồng độ muối cao và ổn
định, thường trên 30o/oo) và là cư dân của các
vùng biển nông ấm âp nhiệt đới và cận nhiệt đới
(hoàn toàn vắng mặt các dạng ôn đới và ưa lạnh).
Trùng lỗ-sinh vật rạn san hô. Nghiên cứu
thành phần vật chất của trầm tích ở đảo cho
thấy cát san hô cả ở phần đảo nổi và trên mặt
bằng rạn gồm chủ yếu là vât liệu vụn sinh vật
như các mảnh vụn xương san hô (là chủ yếu,
tới trên dưới 50%), rong tảo vôi (20-40%), vỏ
Trùng lỗ (15-30%, có mẫu tới 40% và lớn hơn),
vỏ động vật thân mền, gai nhím biển, giun biển,
xương cá,... (mỗi loại vài %). Như vậy, nếu tính
về các sinh vật tạo rạn chính thì vỏ Trùng lỗ chỉ
đứng sau san hô và rong tảo vôi. Thực tế này
phù hợp với kết quả nghiên cứu „hệ sinh thái
san hô‟ của của Sorokin; Yamato, Miyaima và
Koike [20, 21], theo đó Tùng lỗ là nhóm sinh
vật quan trọng thứ 3 trong việc cung cấp vật
liệu cacbonat xây dựng rạn san hô.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN HỆ
ĐỘNG VẬT TRÙNG LỖ ĐẢO PHAN
VINH
Kết quả nghiên cứu hệ động vật Trùng lỗ
Holocen ở đảo Phan Vinh cho thấy nhóm sinh
vật này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải
quyết một số vấn đề như địa tầng (xác định tuổi
trầm tích, phân chia và lên hệ địa tầng), sinh
vật tạo rạn, nghiên cứu cổ địa lý và đa dạng
sinh học, xây dựng mẫu vật bảo tàng,... Cụ thể
của từng vấn đề như sau:
Sự đa dạng sinh học của Trùng lỗ ở rạn san
hô. Rạn san hô là hệ sinh thái rất độc đáo về
điều kiện môi trường sống và là nơi rất thuận
tiện cho các nhóm sinh vật khác nhau sinh sống
và phát triển. Trên thế gới, sự đa dạng sinh học
rạn san hô được nghiên cứu khá chi tiết và toàn
diện (theo Debenay [10], Sorokin [20],
Yamato, Miyaima, Koike [21]). Ở Việt Nam,
đa dạng sinh học rạn san hô cũng đã được chú
ý nghiên cứu, nhưng chưa toàn diện, mới chỉ
tập trung váo các nhóm sinh vật lớn có giá trị
kinh tế cao như san hô, cá, động vật da gai,
giáp xác..., còn các nhóm sinh vật nhỏ, đặc biệt
là các vi sinh vật còn ít được chú ý. Ở mục
„Thành phần phân loại và đặc điểm sinh thái‟
ta thấy ở đảo Phan vinh có ít nhất 69 loài (chưa
kể một số dạng chưa xác định) thuộc 41 giống,
25 họ và 6 bộ. Con số thực tế sẽ lớn hơn nhiều
vì đây mới chỉ là một số mẫu ở mặt bằng rạn và
đảo nổi chứ chưa phải là Foraminifera của toàn
rạn (vì chưa có điều kiện nghiên cứu toàn rạn).
Ý nghĩa địa tầng. Tập hợp Trùng lỗ ở đảo
Phan Vinh bước đầu nghiên cứu đã phát hiện
được ít nhất 69 loài thuộc 42 giống (bảng 1),
trong đó, theo phân loại của tác giả Loeblich
and Tappan [11] thì ít nhất có 5 giống cho tới
nay trong văn liệu vi cổ sinh vật học thế giới
(nhóm Foraminifera) chỉ gặp trong Holocen-
hiện đại, đó là Cymbaloporella, Lagenosolenia,
Parrina, Septotextularia, Siphonipheroides,
Truongsaia?,... Do đó, những giống này có thể
coi như là „tiêu chuẩn‟ để phân biệt các trầm
tích Holocen với các trầm tích cổ hơn và liên
hệ địa tầng các trầm tích cùng tuổi ở khu vực
quần đảo Trường Sa.
Sinh vật tạo rạn. Như đã trình bày ở mục
„Trùng lỗ-sinh vật rạn san hô‟, Foraminifera là
một trong ba nhóm sinh vật tạo rạn quan trọng
của rạn san hô (sau san hô cứng và rong tảo
vôi) trong việc cung cấp vật liệu cacbonat xây
dựng các rạn san hô theo Langer, Silk and
Lipps [18], Nguyễn Ngọc [6] và Sorokin [20].
Sở dĩ chúng có tính chất này là do đại biểu của
nhiều giống (Amphistegiana, Heterostegina,
Amphisorus, Marginopora, Sorites,
Parasorites, Peneroplis, Archaias,...) là những
sinh vật sống cộng sinh với rong tảo, nhờ năng
lượng của quá trình quang hợp và trao đổi chất,
quá trình canxit hóa được đẩy mạnh tạo ra các
sản phẩm cacbonat tham gia vào quá trình xây
dựng rạn theo Langer, Silk and Lipps [18],
Langer [19]. Thêm vào đó, vòng đời của
foraminifera ít nhất có hai chu kỳ sinh sản nối
tiếp nhau là sinh sản vô tính và sinh sản hữu
tính nên số lượng cá thể của chúng tăng lên khá
nhanh. Vỏ vôi của chúng là thành phần quan
trọng của trầm tích rạn. Qua phân tích thấy
Nguyễn Ngọc
44
rằng, trong 100 hạt cát san hô ở rạn, có từ 20-
75 hạt là vỏ Trùng lỗ. Tỷ lệ này ở phần đảo nổi
thấp hơn so với ở mặt bằng rạn, đặc biệt là ở hồ
trung tâm (lagoon) rất cao. Có thể là ở phần
đảo nổi, dưới tác dụng của nắng-mưa-gió, một
số vỏ vôi nhỏ bé của chúng bị hóa tan và vỡ
vụn nên số lượng còn lại thấp so với ở những
địa hình trũng.
Cổ địa lý và môi trƣờng trầm tích.
Foraminifera ở đảo Phan Vinh là „cư dân‟ điển
hình của môi trường biển nông ấm áp của các
vùng biển nông nhiệt đới và cận nhiệt đới. Do
đó có thể kết luận rằng mặc dầu đảo Phan Vinh
nằm ở giữa Biển Đông sâu hàng ngàn mét,
nhưng phần đảo nổi và các rạn san hô hình thành
và phát triển trong điều kiện môi trường biển
nông, có chế độ thủy động lực tương đối mạnh.
Tập hợp sinh vật Trùng lỗ ở đây có thể coi là bộ
mẫu chuẩn của kiểu môi trường nói trên và có
thể dùng để so sánh khi nghiên cứu môi trường
của quá khứ địa chất ở các khu vực khác.
Sử dụng Foraminifera trong quan trắc môi
trƣờng. Hiện nay trên thế giới Foraminifera
được sử dụng như những „sinh vật chỉ thị môi
trường‟ (Foraminifera as Bioindicators) trong
quan trắc và đánh giá chất lượng môi trường hệ
sinh thái rạn san hô nói riêng và môi trường
biển nói chung theo Halock, Lidz [22],
Rechard, Tobsschall [23], Renema [13],
Reumond [24], Schuet [25]. Cơ sở của việc ứng
dụng phương pháp này là do Foraminifera là
những vi sinh vật đơn bào (Protozoa) rất nhậy
bén đối với những thay đổi các yếu tố của môi
trường sống. Khi các yếu tố của môi trường
sống thay đổi (kể cả bị ô nhiễm) sẽ tác động
vào hoạt động sống của sinh vật làm cho các
phòng tạo vỏ mới bị biến dạng (không bình
thường) kéo theo sự biến dạng hình thái chung
của toàn vỏ. Nghiên cứu các biến đổi này của
quần thể sinh vật sẽ biết được mức độ ô nhiễm
của môi trường. Ở Việt Nam phương pháp này
chưa được áp dụng ngoài một công bố duy nhất
của Rechard, Weiss, Tobsschall [23] về sự ô
nhiễm môi trường bởi kim loại nặng ở vùng
triều cửa sông Hồng.
Phục vụ công tác thu thập mẫu bảo tàng.
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam cũng như Bảo
tàng Địa chất Việt Nam là nơi lưu giữ và trưng
bày các mẫu vật địa chất, trong đó có các mẫu
cổ sinh vật quý hiến, độc đáo phục vụ công tác
phổ biến kiến thức về tính đa dạng và lịch sử
phát triển tiến hóa của sinh giới trên bề mặt
lãnh thổ Việt Nam nói riêng và bề mặt Trái đất
nói chung. Nghiên cứu kỹ lưỡng, chi tiết sưu
tập mẫu hệ động vật Trùng lỗ Holocen ở khu
vực đảo Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa
cho phép chọn ra được các mẫu vật đẹp, độc
đáo, có đô bảo tồn tốt và có giá trị khoa học để
xây dựng bộ sưu tập mẫu phục vụ cho công tác
Bảo tàng. Đó là các giống loài thuộc các Bộ
Rotaliida, Milioliida, Textulariida,... của ngành
Trùng lỗ.
KẾT LUẬN
Từ những điều trình bày ở trên có thể rút ra
một số kết luận sau về hệ động vật Trùng lỗ
Holocen ở khu vực đảo Phan Vinh như sau:
Hệ động vật Trùng lỗ Holocen ở khu vực
đảo Phan Vinh khá phong phú và đa dạng cả về
thành phần phân loại (gồm ít nhất 69 loài thuộc
41 giống, 25 họ và 6 bộ) và về đặc điểm sinh
thái. Chúng đặc trưng cho môi trường biển
nông ấm áp của vùng quần đảo Trường Sa
(Việt Nam) và Biển Đông Việt Nam (nói
chung) thời kỳ Holocen-hiện đại.
Một số vấn đề liên quan đến hệ động vật
nghiên cứu nói trên là:
Về ý nghĩa địa tầng: Sự có mặt của các
giống Cymbaloporella, Lagenosolenia,
Parrina, Septotextularia, Siphonipheroides,
Truongsaia?,... có thể coi là „tiêu chuẩn‟ để
phân biệt các trầm tích Holocen với các trầm
tích cổ hơn và liên hệ địa tầng giữa chúng ở
khu vực quần đảo Trường Sa;
Về cổ địa lý: Trên cơ sở đặc điểm sinh
thái của Trùng lỗ là các sinh vật biển nông của
các vùng biển nhiệt đới-cận nhiệt đới có thể kết
luận rằng mặc dầu nằm ở giữa Biển Đông sâu
hàng ngàn mét, nhưng các đảo nổi và các rạn san
hô ở quần đảo Trường Sa phát triển trong điều
kiện môi trường biển nông ấm áp;
Vai trò tạo rạn của động vật Trùng lỗ: Kết
quả nghiên cứu cho thấy Trùng lỗ là nhóm sinh
vật thứ ba (sau san hô cứng và rong tảo vôi) có
tầm quan trọng tham gia vào việc cung cấp vật
liệu cacbonat đóng góp vào việc tạo rạn;
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, môi
trường biển đâng bị ô nhiễm, hiện nay trên thế
giới đang có xu hướng sử dụng nhóm sinh vật
Hệ động vật Trùng lỗ (Foraminifera) Holocen
45
Trùng lỗ như những „chỉ thị sinh học‟
(bioindicators) trong việc đánh giá và quan trắc
chất lượng môi trường hệ sinh thái rạn san hô
nói riêng và môi trường biển nói chung. Ở Việt
Nam phương pháp này chưa được áp dụng,
nhưng trong tương lai thì đây là một trong các
phương pháp cần được quan tâm.
Nghiên cứu chi tiết hệ động vật Trùng lỗ
Holocen ở khu vực đảo Phan Vinh cho phép
lựa chọn được các mẫu vật đẹp, có giá trị khoa
học để phục vụ công tác xây dựng sưu tập mẫu
Bảo tàng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phùng Văn Phách (chủ biên), Nguyễn Như
Trung, Nguyễn Tiến Hải, Phí Trường
Thành, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Trung
Thành, Lê Đình Nam, Lê Đức Anh,
Nguyễn Quang Minh, Hoàng Văn Long,
2014. Cấu trúc kiến tạo và địa mạo khu vực
quần đảo Trường Sa và Tư Chính-Vũng
Mây. 246 tr. Nxb. Khoa học tự nhiên và
Công nghệ, Hà Nội.
2. Phạm Huy Tiến (chủ biên) và nnk., 2002.
Xác định địa chất, địa mạo, xây dựng
phương án mở luồng vào một số đảo san
hô. Báo táo đề tài KHCN NN, 1998-2001.
3. Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử, 1998. Về
ranh giới địa tầng Pleistocen-Holocen ở
khu vực đảo nổi Trường Sa. Tạp chí Dầu
khí, số 2, 15-20.
4. Nguyen Ngoc, Nguyen Huu Cu, 1998.
Foraminiferal assemblages and their
enclosing sediments in some islands of the
Truong Sa archipelago of Vietnam.
Petrovietnam Review, (2), 18-24.
5. Đỗ Minh Tiệp, 1992. Địa chất đảo Phan
Vinh. Tạp chí Dầu khí, Số 4, Tr. 1-7.
6. Nguyễn Ngọc, 1999. Rạn san hô và sinh vật
tạo rạn vùng quần đảo Trường Sa. Báo cáo
chuyên đề, 44 tr. Hà Nội.
7. Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Bạt,
2006. Hóa thạch (Foraminifera) Kainozoi
thềm lục địa và các vùng lân cận ở Việt
Nam. Chuyên khảo, 392 tr. Nxb. Khoa học
tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
8. Cushman, J. A., 1921. Foraminifera of the
Philippine and adjacent seas (Vol. 4, No.
100). Govt. Print. Off.
9. Cushman, J., 1933. The foraminifera of the
tropical Pacific collections of the
„Albatross‟. 1899-1900. Part 2. Lagenidae
to Alveolinellidae. US National Museum,
Bulletin, 161, 1-79.
10. Debenay, J. P., 2012. A guide to 1,000
foraminifera from Southwestern Pacific:
New Caledonia. IRD Editions.
11. Loeblich Jr, A. R., and Tappan, H., 1988.
For-aminiferal genera and their
classification. 970 p., 847 pls.
12. Nguyễn Ngọc, 1982. Foraminifera Đệ tứ
muộn quần đảo Trường Sa. Tuyển tập Cổ
sinh vật học. Tập 1, 34-45, b.a. 3-7. Nxb.
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
13. Renema, W., 2003. Larger foraminifera on
reefs around Bali (Indonesia). Zoologische
Verhandelingen, 337-366.
14. Nguyễn Ngọc, 1980. Trùng lỗ quần đảo
Trường Sa qua sưu tập của Đỗ Tuyết.
Những phát hiện mới Khảo cổ học 1980,
Viện KCH. Hà Nội. Tr. 16-18.
15. Nguyễn Ngọc, 1981. Một số dẫn liệu về
Trùng lỗ (Foraminifera) Đệ tứ ở quần đảo
Trường Sa. Tạp chí các Khoa học về Trái
đất, 3(2), 60-61.
16. Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử, Hà Văn
Chiến, 1997. Các di tích Foraminifera
trong trầm tích bãi biển đảo Nam Yết, quần
đảo Trường Sa (Việt Nam) và ý nghĩa của
chúng. Các công trình nghiên cứu Địa chất
và Địa vật lý biển, tập III, 271-277. Nxb.
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
17. Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử, 2001. Góp
phần nghiên cứu sinh vật tạo rạn và đa dạng
sinh học ở rạn san hô Thuyền Chài, quần
đảo Trường Sa. Tuyển tập Tài nguyên và
Môi trường biển, tập 8, 238-246. Nxb.
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
18. Langer, M. R., Silk, M. T., and Lipps, J. H.,
1997. Global ocean carbonate and carbon
dioxide production; the role of reef
Foraminifera. The Journal of Foraminiferal
Research, 27(4), 271-277.
19. Langer, M. R., 2008. Assessing the
contribution of foraminiferan protists to
global ocean carbonate production. Journal
of Eukaryotic Microbiology, 55(3), 163-169.
20. Sorokin Yu, I., 1990. Coral Reef
Ecosystems. 504 p. „Nauka‟. Moskow.
(tiếng Nga).
Nguyễn Ngọc
46
21. Yamano, H., Miyajima, T., and Koike, I.,
2000. Importance of foraminifera for the
formation and maintenance of a coral sand
cay: Green island, Australia. Coral Reefs,
19(1), 51-58.
22. Hallock, P., Lidz, B. H., Cockey-Burkhard,
E. M., and Donnelly, K. B., 2003.
Foraminifera as bioindicators in coral reef
assessment and monitoring: the FORAM
index. Environmental monitoring and
assessment, 81(1-3), 221-238.
23. Richard, H., Weiss, C., Tobschall, H. J.,
2005. Benthic Foraminifera Tests as Proxy
Indicators of Sediment Pollution in the
Macro-Tidal Red river Mouths (North
Vietnam). Intern. Conf. in Memory of
Geory D. Jones. Rice Univ., Houston,
Texas, USA, 6-11.
24. Reymond, C. E., Uthicke, S., & Pandolfi, J.
M., 2012. Tropical Foraminifera as
indicators of water quality and temperature.
In Proceedings of the 12
th
International
Coral Reef Symposium, Cairns, Australia
(pp. 9-13).
25. Schueth, J. D., and Frank, T. D., 2008. Reef
foraminifera as bioindicators of coral reef
health: Low Isles Reef, northern Great
Barrier Reef, Australia. The Journal of
Foraminiferal Research, 38(1), 11-22.
HOLOCENE FORAMINIFERAL FAUNA AT THE REGION
OF PHAN VINH ISLAND, TRUONG SA ARCHIPELAGO
AND SOME RELATED PROBLEMS
Nguyen Ngoc
Vietnam National Museum of Nature, VAST
ABSTRACT: Holocene Foraminiferal fauna at the area of Phan Vinh island, Truong Sa
archipelago is relatively abundant and diverse in both taxonomic composition and ecological
characteristics. The initial research results have identified 69 species (excluding several ones
unidentified) belonging to 42 genera, 25 families and 6 orders. Among them, the representatives of
the genera of Calcarina, Amphistegina, Heterostegina, Elphidium, Amphisorus, Marginopora,
Sorites, Parasorites, Peneroplis, Archaias, Siphonipheroides, Septotextularia are predominant.
They characterized by the shallow, transparent and warm marine environments of the region of
Truong Sa archipelago during Holocene. Some problems related to this fauna at the area of Phan
Vinh island such as biodiversity of coral-reef ecosystems, stratigraphic and paleogeographical
significances, and its role of reef - building are also mentioned in this article. In addition, for the
modern Foraminifera in the world, today they are being used as „biomarkers‟ (bioindicators) in
assessing and monitoring environmental quality of coral reef ecosystems in particular and marine
environment in general. In Vietnam, this method has not been applied, but in the future, this is one
of the methods that should be concerned. In addition, in aquaculture the Foraminifera is also a
source of nutrition that should not be ignored.
Keywords: Foraminiferal fauna, Holocene, Phan Vinh island, Truong Sa archipelago.
Hệ động vật Trùng lỗ (Foraminifera) Holocen
47
PHỤ LỤC: Bản ảnh hóa thạch Trùng lỗ (Foraminifera) ở đảo Phan Vinh
Bản ảnh 1. Bản ảnh Foraminifera đảo Phan Vinh
1a 1b 2 3
4a 4b 5a 5b 9b
6c 7c 8c 9c
6a 6b 7a 8b 9a
Ghi chú: Tất cả các mẫu trong các bản ảnh đều có xuất xứ từ tầng trầm tích Holocen, đảo Phan
Vinh, quần đảo Trường Sa (Việt Nam); a, b- các mặt bên; c- mặt miệng; 1a, 1b, 2, 3, 4a, 4b:
Truongsaia phanvinhensis gen. et sp. nov., x25; 1a, 1b: N
o
6PV52d; 2: x25, N
o
6PV2.3; 3: x25, N
o
6PV51b; 4a, 4b: x25, N
o
6PV51c-d; 5a, 5b: Truongsaia sp., x23, N
o
6PV52; 6a, 6b, 6c: Textularia
sp.1, x19, N
o
3PVR2.1; 7a, 7b: Textularia agglutinans d‟Orbigny, x19, No 3PVR2.2; 8a, 8b:
Textularia cf. candeiana d‟Orbigny, x22, No 15PV47.1; 9a, 9b, 9c: Septotextularia rugosa Zheng
and Cheng, 4a-c, x19 : N
o
5PVR1.6.
Nguyễn Ngọc
48
Bản ảnh 2. Bản ảnh Foraminifera đảo Phan Vinh
1b 2b 3b 4b 5a 5b
1a 2a 3a 4a 6a 6b
7 8a 8b 8c 9a 9b 9c
Ghi chú: a, b- mặt bên; c- mặt miệng; 1a, 1b: Siphoniferoides siphonifera (Brady), ., x20, 1a-b=
N
o
10PVR3.2; 2a, 2b: Clavulina angularis d‟Orbigny, x20, No 10PVR4.1; 3a, 3b: Clavulina pacifica
Cushman, ., x20, N
o
10PVR4.5; 4a, 4b: Clavulina sp., ., x20, N
o
10PVR4.2; 5a, 5b: Valvulina
oviedoiana d‟Orbigny, x20, No 2PVR5.1; 6a, 6b: Spiroloculina sp. 1, x22, No 9PVR20.1; 7:
Spiroloculina sp.2, x22, N
o
11PV37.1; 8a, 8b, 8c: Quinqueloculina sulcata d‟Orbigny, x20, No
8PVR17.2; 9a, 9b, 9c: Quinqueloculina sp. 1, x16, N
o
8PVR18.1.
Hệ động vật Trùng lỗ (Foraminifera) Holocen
49
Bản ảnh 3. Bản ảnh Foraminifera đảo Phan Vinh
1a 1b 1c 2a 2b 3
4a 4b 5 6a 6b
7a 7b 8a 8c 8b 9a 9b
10 11a 11b 12a 12b 13a 13b
Ghi chú: 1a, 1b, 1c: Triloculina sp., x22, N
o
9PVR21.1; 2a, 2b, 2c: Triloculina elongotricarina
Debenay, x32, N
o
9PVR27.1; 3: Pyrgo sp., x64, N
o
8PVR16.1; 4a, 4b: Triloculina cf. sidebottomi,
x32, N
o
12PV34a-b; 5: Lagenosolenia sp., x42, N
o
8PVR16.2; 6a, 6b: Archaias angulatus (Fichtel et
Moll) (form A), x37, N
o
15PV50a-b; 7a, 7b: Archaias angulatus (Fichtel et Moll) (form B), x11, N
o
8PVR14.1; 8a, 8b, 8c: Peneroplis ex gr. planatus (Fichtel et Moll), x15, N
o
10PV50a-b; 9a, 9b:
Spirolina cylindracea Lamarck, x46, N
o
13PV39a-b; 10: Gypsins sp. x38, N
0
PV26; 11a, 11b:
Parasorites sp., x21, N
o
10PV19h-i; 12a, 12b: Sorites sp., x27, N
o
10PVR23.3; 13a, 13b:
Amphisorus hemprichii Ehrenberg, x25, N
o
10PVR24.1.
Nguyễn Ngọc
50
Bản ảnh 4. Bản ảnh Foraminifera đảo Phan Vinh
1a 1b 1c 5a 5c
2a 2c 2b 4 5b
3a 3c 3b 6a 6b
7a 7c 7b 8a 8c 8b
Ghi chú: a- mặt bụng; b- lưng; c- mặt miệng; 1a, 1b, 1c: Amphistegina lessoni d‟Orbigny, x20,
N
o
15PV2.1; 2a, 2b, 2c: Aphistegina radiata (Fichtel et Moll), x20, N
o
15PVR7.1; 3a, 3b, 3c:
Aphistegina lobifera Larsen, x22, N
o
11PV3.1; 4: Acervulina inhaerens Schultz, x15, N
o
10PVR54.1; 5a, 5b, 5c: Pegidia ex gr. laculata McCulloch, x20, N
o
4PV13.1; 1a, 1b:
Globigerinoides trilobus (Reuss), x45, N
o
15PVR42a-b, 7a, 7b, 7c: Planorbulinella larvata (Parker
et Jones), x15, N
o
9PVR30.1; 8a, 8b, 8c: Cibicides lobatulus (Walker et Jacob), x22, N
o
10PV55a-c.
Hệ động vật Trùng lỗ (Foraminifera) Holocen
51
Bản ảnh 5. Bản ảnh Foraminifera đảo Phan Vinh
1a 1b 4a 4c 4b
2a 2b 5a 5c 5b
3a 3c 3b 6a 6c
7a 7b 7c 8a 8b 8c
Ghi chú: a- mặt bụng; b- lưng; c- mặt miệng; 1a, 1b: Calcarina defrancii D‟Orbigny,
x27, N
o
8PVR11.4; 2a, 2b: Calcarina hispida Brady, x25, N
o
8PVR11.4; 3a, 3b, 3c:
Calcarina spengleri (Gmelin), x22, N
o
9PVR10.1; 4a, 4b, 4c: Heterostegina depressa
d‟Orgny, x22, No 12PVR28; 5a, 5b, 5c: Heterostegina sp., x18, No 12PVR28.1; 6a, 6b:
Elphidium macelum (Fichtel et Moll), x39, N
o
14PVR12.1; 7a, 7b, 7c: Miliolinella sp., .,
x33, N
o
6PVR29.1; 8a, 8b, 8c: Ammonia sp., ., x25, N
o
9PVR25.1.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
he_dong_vat_trung_lo_foraminifera_holocen_o_khu_vuc_dao_phan.pdf