KẾT LUẬN
Sau hơn 2 thập kỷ thực hiện chính sách
GĐGR tại 2 làng vùng cao của tỉnh Bắc Kạn,
hầu hết các hộ gia đình dân tộc thiểu số đã nhận
được đất rừng sản xuất (trung bình 4,5 ha/hộ ở
làng A, 3,4 ha/hộ ở làng G) để quản lý và sử
dụng cho phát triển kinh tế hộ. Tại cấp huyện,
62,9% đất lâm nghiệp đã được giao cho hộ gia
đình và có đến 86,3% tổng diện tích rừng trồng
trong huyện là đang được quản lý bởi hộ gia
đình. Điều này khẳng định rằng, hộ gia đình đã
trở thành một trong những chủ thể chính theo
chủ trương xã hội hóa nghề rừng của nước ta.
Chính sách GĐGR đã giúp các hộ đồng bào
chuyển đổi hoạt động sinh kế, từ hoạt động canh
tác nương rẫy không bền vững sang trồng rừng
với các cây trồng chính là Mỡ, Quế, Trám trắng,
Lát hoa, Hồi. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ
ra, sự mở rộng diện tích trồng rừng tại đây vẫn
phụ thuộcnhiều vào sự hỗ trợ ban đầu của chính
phủ thông qua các chương trình trồng rừng quốc
gia, diện tích trồng rừng trung bình/hộ chỉ đạt
1,3ha ở cả 2 làng. Thiếu vốn để duy trì diện tích
rừng trồng gỗ do sự thu hồi vốn chậm, cộng với
nhu cầu tiêu dùng trước mắt có thể được xem là
rào cản lớn nhất trong phát triển rừng trồng
trên đất được giao cho hộ vùng cao hiện nay. Do
đó, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ
đầu tư cho phát triển lâm nghiệp và chính sách
khuyến khích các mô hình liên doanh, liên kết
giữa các chủ rừng với nhau, hoặc giữa chủ rừng
với tổ chức và doanh nghiệp.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hiện trạng hoạt động sử dụng đất rừng được giao của hộ đồng bào dân tộc thiếu số: Nghiên cứu điểm tại huyện chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 8: 607-615 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(8): 607-615
www.vnua.edu.vn
607
HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG ĐƯỢC GIAO
CỦA HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIẾU SỐ: NGHIÊN CỨU ĐIỂM TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN,
TỈNH BẮC KẠN
Nguyễn Thu Thùy*, Nguyễn Thanh Lâm
Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: nguyenthuy@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 12.05.2020 Ngày chấp nhận đăng: 25.06.2020
TÓM TẮT
Hoạt động quản lý và sử dụng có hiệu quả những diện tích đất rừng được giao cho hộ dân tộc thiểu số được
chính phủ Việt Nam thực sự chú trọng vì nó ảnh hưởng đến vốn rừng chung quốc gia. Nghiên cứu này được thực
hiện để đánh giá hiện trạng sử dụng đất rừng được giao cho các hộ tại 2 làng vùng cao thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh
Bắc Kạn. Nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn bán cấu trúc 72 hộ gia đình, phỏng vấn sâu các bên liên
quan trong hoạt động quản lý và sử dụng đất rừng. Kết quả cho thấy, hầu hết các hộ dân tộc thiểu số tại 2 làng vùng
cao đã được giao đất rừng sản xuất, và sử dụng đất cho trồng rừng tập trung với các cây trồng chính là Mỡ
(Manglietia glauca), Quế (Cinnamomum cassia), Trám trắng (Canarium album), Lát hoa (Chukrasia tabularis), và Hồi
(Illicium verum). Tuy nhiên, sự mở rộng diện tích trồng rừng của hộ đồng bào dân tộc nơi đây vẫn phụ thuộc nhiều
vào các chương trình trồng rừng quốc gia, diện tích trồng rừng trung bình/hộ chỉ đạt 1,3ha/hộ. Thiếu vốn để duy trì
những diện tích rừng trồng gỗ do thu hồi vốn chậm có thể được xem là rào càn lớn nhất trong phát triển rừng trồng
trên đất được giao cho hộ vùng cao hiện nay.
Từ khóa: Dân tộc thiểu số, đất rừng được giao, trồng rừng.
Current Status of Allocated Forestland Utilization of the Ethnic Minority Households:
A Case Study in Cho Don District, Bac Kan Province
ABSTRACT
The Vietnamese government has paid considerable attention to the effective allocated forestland management
and use to the households as it affects the Nation's forest resources. This study was conducted to assess the current
status of allocated forestland utilization of the ethnic minority households in two upland villages of Cho Don district,
Bac Kan province. The study was implemented throughtface-to-face interviews with the 72 households using semi-
structured questionnaires and in-depth interviews with the stakeholders. The results showed that most of the sample
households obtained production forestland, and almost all the forestland recipients in both villages had already
planted timber trees with the main crops such as Manglietia glauca, Cinnamomum cassia, Canarium album,
Chukrasia tabularis, and Illicium verum. However, the expansion of tree planting area largely depended on the
government reforestation programs. The mean of areas used for timber tree per household was 1.3 ha in both
villages. A lack of finance to maintain the area of tree planting due to a long business cycle has been considered as a
limitation for the expansion of tree planting area on allocated forestland to households in the current uplands
of Vietnam.
Keywords: Allocated forestland, ethnic minority, tree planting.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, các
lâm trường quốc doanh được thành lập để quản
lý và phát triển nguồn tài nguyên rừng. Tuy
nhiên, tốc độ suy giảm diện tích rừng diễn ra
mạnh nhất trong giai đoạn này, độ che phủ rừng
giảm từ 33,8% năm 1976 xuống chỉ còn 27,8%
Hiện trạng hoạt động sử dụng đất rừng được giao của hộ đồng bào dân tộc thiếu số: Nghiên cứu điểm tại huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
608
năm 1990 (de Jong & cs., 2006). Do đó, đầu
những năm 1990, chính sách giao đất giao rừng
(GĐGR) được khởi xướng như là một phản ứng
của chính phủ với sự suy giảm nghiêm trọngtài
nguyên rừng của nước ta, đặc trưng cơ bản của
chủ trương này là quá trình chuyển từ lâm
nghiệpdo quốc doanh quản lýsang lâm nghiệp có
nhiều thành phần kinh tế tham gia.
Bắc Kạn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông
Bắc, có tổng diện tích đất lâm nghiệp là
413.366ha, chiếm 85% đất tự nhiên (Bộ
TN&MT, 2019), do đó Bắc Kạn có tiềm năng rất
lớn cho phát triển lâm nghiệp. Trong những
năm qua, tỉnh Bắc Kạn cơ bản đã giao đất lâm
nghiệp cho các hộ gia đình, có 57% (210.864ha)
tổng diện tích đất đã được giao cho hộ (Chi cục
kiểm lâm Bắc Kạn, 2017). Khi hộ được coi là
một trong chủ thể nòng cốt, hoạt động quản lý
và sử dụng hiệu quả những diện tích đất rừng
sản xuất được giao cho hộ thực sự được tỉnh rất
chú trọng.
Chợ Đồn là huyện miền núi của tỉnh Bắc
Kạn, người dân trong huyện phần lớn là dân
tộc Tày với hoạt động sinh kế chủ yếu dựa vào
rừng và đất rừng. Rừng và đất rừng đã được
giao cho các hộ dân tộc thiểu số từ năm 1995
với mục tiêu nhằm ngăn chặn hoạt động canh
tác nương rẫy và mong đợi sẽ cải thiện sinh kế
hộ thông qua trồng rừng trên đất trống, đồi
trọc được giao. Thực tế, canh tác nương rẫy là
nguyên nhân chính gây mất rừng ở Việt Nam
trong suốt nhưng năm 1980 và đầu những năm
1990 (de Koninck, 1999). Do đó, làm thế nào để
thúc đẩy các hộ nhận đất tham gia trồng rừng
và duy trì hệ thống cây rừng trên đất lâm
nghiệp được giao cho hộ là yếu tố tiên quyết
cho phát triển lâm nghiệp bền vững hiện nay.
Thực tế, GĐGR không phải là vấn đề mới nên
được khá nhiều nghiên cứu thực hiện ngay sau
khi chính sách được triển khai để đánh giá ảnh
hưởng của chính sách GĐGR đối với sinh kế
của các hộ sống gần rừng (Castella & cs., 2006;
Jakobsen & cs., 2007; Clement & cs., 2009), tuy
nhiên có rất ít nghiên cứu quan tâm đến hoạt
động sử dụng đất rừng được giao cho các hộ. Do
vậy, nghiên cứu này được thực hiện để đánh
giá hiện trạng sử dụng đất rừng được giao cho
hộ đồng bào tại 2 làng vùng cao khu vực miền
núi phía Bắc, và chỉ ra những tiềm năng và
hạn chế trong phát triển rừng trồng của các hộ
nơi đây. Nghiên cứu hi vọng sẽ cung cấp thông
tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách,
nhà quản lý nhằm đưa ra các giải pháp quản lý
và sử dụng đất rừng được giao hiệu quả, giảm
áp lực vào rừng tự nhiên xung quanh, cải thiện
sinh kế cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số
sống gần rừng.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 2 làng vùng
cao của Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Hình 1).
Đây là nơi sinh sống của 3 nhóm dân tộc thiếu
số, Tày, Nùng, Dao. Người Tày là nhóm dân tộc
bản địa, các hộ Nùng, Dao là nhóm di cư từ các
tỉnh lân cận đến từ năm 1998 đến năm 2002.
Đất rừng được giao cho các hộtrong cả 2 làng từ
năm 1995. Các hộ này canh tác nương rẫy đến
tận đầu những năm 1990 khi chính sách GĐGR
được triển khai. Hiện tại, hoạt động sinh kế
chính của hộ nơi đây vẫn phụ thuộc chủ yếu vào
nông lâm nghiệp, nhất là trồng trọt và chăn
nuôi. Ngoài những điểm tương đồng trên, 2 làng
mẫu được lựa chọn khác nhau về điều kiện tiếp
cận, cụ thể hệ thống giao thông liên làng xã.
Làng A, xã Rã Bản kết nối với trung tâm xã
bằng đường đất, làng G, xã Phương Viên phân
bố dọc đường nhựa liên huyện.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thu thập thông tin thứ cấp
Cả thông tin định tính và định lượng được
thu thập từ các báo cáo, tài liệu nghiên cứu, văn
bản pháp quy liên quan đến hoạt động sản xuất
lâm nghiệp, công tác quản lý và sử dụng đất rừng
trên địa bàn nghiên cứu; số liệu thống kê chính
thức từ:Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn, Hạt Kiểm
lâm, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Phòng Tài nguyên và Môi Trường, Ủy ban
nhân dân (UBND) xã Rã Bản và xã
Phương Viên.
Nguyễn Thu Thùy, Nguyễn Thanh Lâm
609
Hình 1. Vị trí khu vực nghiên cứu
2.2.2. Thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp về hiện trạng đất rừng
được giao, và hoạt động sử dụng đất rừng được
giao cho các hộ đồng bào dân tộc thu được thông
qua phỏng vấn sâu đối với cán bộ chủ chốt cấp
làng/bản, xã, huyện và phỏng vấn bán cấu trúc
đối với 72 hộ gia đình, gồm 37 hộ của làng A
(100% tổng số hộ) và 33 hộ của làng G (50%).
Đối với làng G, do số lượng dân số đông hơn nên
chúng tôi chỉ chọn 50% số hộ trong làng, những
hộ mẫu được lựa chọn là những hộ có số thứ tự
lẻ trong danh sách hộ gia đình thuộc làng G.
Thông tin trong bảng phỏng vấn hộ gia đình
gồm những thông tin như đặc điểm chung của
hộ; hoạt động sử dụng rừng và đất lâm nghiệp
được giao cho các hộ; các nguồn đầu tư hỗ trợ
trong sản xuất lâm nghiệp; thuận lợi và khó
khăn trong sản xuất lâm nghiệp. Khảo sát thực
địa được tiến hành vào tháng 3/2017, tháng 2 và
tháng 3/2018.
2.2.3. Phân tích và xử lý số liệu
Kiểm định Chi - square và T-test được sử
dụng để so sánh diện tích đất rừng được giao/hộ,
diện tích loài cây trồng/hộ, và các kiểu sử dụng
đất rừng được giao ở 2 làng mẫu. Hệ số tương
quan Pearson (Pearson correlation coefficient)
dùng để kiểm tra mối liên hệ tuyến tính giữa
diện tích đất được giao và diện tích đất không
sử dụng cho trồng rừng. Nghiên cứu sử dụng
phần mềm SPSS để xử lý số liệu.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm các hộ điều tra
Kết quả chỉ ra rằng, trình độ học vấn của
các chủ hộ ở cả 2 làng đều rất thấp, trung bình
chỉ hết lớp 6, lớp 7 (Bảng 1). Cụ thể, có 16 người
(43,2%) ở làng A và 12 người (34,3%) ở làng G
chỉ học hết tiểu học. Độ tuổi trung bình của chủ
hộ khoảng 43 tuổi ở làng A và 44 tuổi làng G. Số
thành viên trung bình/hộ là 4,2 người ở làng A
và 4,6 người ở làng G, trong đó có 2,8 người ở
làng A và 2,9 người ở làng G tham gia lao động
trực tiếp vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
của hộ gia đình.
Hiện trạng hoạt động sử dụng đất rừng được giao của hộ đồng bào dân tộc thiếu số: Nghiên cứu điểm tại huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
610
Bảng 1. Thông tin chung của các hộ điều tra
Đặc điểm hộ
Làng A (n = 37) Làng G (n = 35)
Trung bình SD Trung bình SD
Số thành viên hộ (người) 4,2 1,2 4,6 0,9
Số lao động/hộ (người) 2,8 1,3 2,9 1,0
Tuổi của chủ hộ (năm) 42,9 8,0 44,1 10,6
Trình độ học vấn của chủ hộ (năm) 6,0 2,9 6,5 3,1
Bảng 2. Diện tích rừng và đất rừng phân theo chủ thể quản lý tại huyện Chợ Đồn
Chủ thể
Rừng tự nhiên Rừng trồng Tổng
Ha % Ha % Ha %
Hộ gia đình 35.850,7 58,7 9.545,7 86,3 45.396,4 62,9
UBND 22.261,6 36,5 1.496,9 13,5 23.758,5 32,9
Ban quản lý rừng đặc dụng 1.855,5 3,0 48,0 0,4 1.860,3 2,6
Quân đội 920,7 1,5 2,8 0,0 923,5 1,3
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 174,3 0,3 1,1 0,0 175,4 0,2
Các tổ chức khác 11,1 0,0 4,0 0,0 15,1 0,0
Tổng 61.074,0 100,0 11.055,3 100,0 72.129,3 100,0
Nguồn: Hạt kiểm lâm Chợ Đồn (2018).
Bảng 3. Diện tích rừng và đất rừng phân theo chủ thể quản lý ở xã Rã Bản và Phương Viên
Chủ thể
Xã Rã Bản Xã Phương Viên
Đất rừng phòng hộ
(ha)
Đất rừng sản xuất
(ha)
Tổng
(ha)
Đất rừng phòng hộ
(ha)
Đất rừng sản xuất
(ha)
Tổng
(ha)
Hộ gia đình 175 1.168 1.343 280 1.871 2.151
UBND 895 - 895 1.002 - 1.002
Tổng (ha) 1.070 1.168 2.238 1.282 1.871 3.153
Nguồn: UBND xã Rã Bản và Phương Viên (2018).
3.2. Hiện trạng rừng và đất rừng được giao
cho các chủ thể tại điểm nghiên cứu
Tính đến hết tháng 12/2017, Rừng và đất
rừng ở huyện Chợ Đồn đã được giao cho 6 chủ
thể quản lý, trong đó hộ gia đình và UBND là 2
chủ thể chính, chiếm 62,9% và 32,9% tổng diện
tích rừng toàn huyện (Bảng 2). Bên cạnh đó, số
liệu thống kê từ bảng 2 cũng cho thấy rừng
trồng hiện được quản lý chính bởi hộ gia đình,
chiếm 86,3% tổng diện tích rừng trồng của
huyện, các chủ thể khác có trách nhiệm chính
trong quản lý rừng tự nhiên.
Ở cấp xã, tổng diện tích đất lâm nghiệp của
xã Rã Bản là 2.238ha, xã Phương Viên là
3.153ha, trong đó rừng sản xuất chiếm 52,2% ở
xã Rã Bản và 59,3% ở xã Phương Viên (Bảng 3).
Cả 2 loại đất rừng sản xuất và rừng phòng hộ
đều được giao cho hộ quản lý và sử dụng, trong
khi UBND các xã chỉ được giao quản lý rừng
phòng hộ. Theo thông tin thu được từ các cán bộ
Hạt Kiểm lâm: trong giai đoạn đầu thực hiện
giaođất giao rừng cho hộ từ 1995, cả rừng sản
xuất và rừng phòng hộ đều được giao cho các hộ
và được cấp sổ xanh (Hồ sơ giao đất lâm nghiệp).
Tuy nhiên, đến năm 2001, chỉ có những khu rừng
sản xuất đã được giao cho hộ trước đó được cấp
Nguyễn Thu Thùy, Nguyễn Thanh Lâm
611
lại số đỏ và công nhận đầy đủ quyền lợi và trách
nhiệm của chủ rừng theo Quyết định
178/2001/QĐ-TTg, còn rừng phòng hộ đã được
giao cho hộ cùng thời điểm đó hiện được quản lý
theo hợp đồng khoán với Hạt Kiểm lâm. Do vậy,
nghiên cứu chỉ tập trung vào đánh giá hoạt động
sử dụng đất rừng sản xuất được giao cho hộ.
Kết quả điều tra cho thấy, tất cả các hộ điều
tra thuộc làng A, và 33 trên 35 hộ ở làng G
(94,3%) đều có đất rừng sản xuất và được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ). Thực tế, trong số những hộ có đất
rừng sản xuất hầu hết là những hộ được giao đất
trực tiếp từ chương trình GĐGR, một số thì được
thừa kế từ bố mẹ là những người được giao trực
tiếp, số còn lại là nhóm hộ người Nùng và Dao
mới nhập cư đến làng (sau khi chương trình
GĐGR tại địa phương kết thúc) nên phải mua lại
đất từ các hộ bản địa. Ở làng G có 2 hộ không có
đất rừng sản xuất cũng thuộc nhóm hộ mới nhập
cư đến và chưa có điều kiện để mua lại đất rừng
sản xuất. GDDR bắt đầu thực hiện ở 2 làng vào
năm 1995, lần giao thứ 2 ở làng A là năm 1998
và làng G là năm 2001. Kết quảcho thấy: diện
tích đất trung bình được giao/hộ ở làng A (4,55
ha/hộ) lớn hơn làng G (3,43 ha/hộ (Bảng 4). Diện
tích đất được giao/hộ của làng G nhỏ hơn một
phần là do mật độ dân số của làng G cao hơn, và
một lí do nữa là chính phủ đã thu hồi một phần
đất rừng sản xuất được giao cho hộ để làm
đường. Nhưng kết quả phân tích thống kê chỉ ra,
không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa diện tích
trung bình được giao cho các hộ của làng A và
làng G (t = 1,578, P >0,05). Tuy nhiên, diện tích
đất rừng sản xuất được giao/hộ trong mỗi làng có
sự chênh lệch nhau rất lớn, hộ được giao nhiều
nhất của làng A là 15,94ha, làng G là 8,10ha,
trong khi ở làng A diện tích đất rừng sản xuất
nhỏ nhất/hộ chỉ 0,10ha, và làng G là 0,40ha.
Những hộ có diện tích đất rừng sản xuất lớn, ví
dụ hộ có 15,94ha ở làng A và hộ có 8,10ha ở làng
G là những hộ đã nhận đất trực tiếp theo chương
trình GĐGR và tại thời điểm giao, hộ có số thành
viên trong gia đình lớn. Những hộ có diện tích
đất rừng sản xuất rất nhỏ, như 0,10 ha/hộ ở làng
A và 0,40 ha/hộ ở làng G là những hộ mới tách
khẩu, họ được chia đất từ bố mẹ, hoặc là những
nhóm hộ mới nhập cư đến.
3.3. Thực trạng sử dụng đất rừng sản xuất
được giao cho các hộ tại điểm nghiêm cứu
3.3.1. Hoạt động sử dụng đất rừng sản xuất
được giao cho hộ
Thực tế, trước khi chính sách GĐGR được
thực hiện tại 2 làng, người dân nơi đây đều canh
tác nương rẫy tại những vùng đất rừng xung
quanh, do đó đất rừng sản xuất được giao cho
các hộ chủ yếu là đất trống đồi trọc hoặc đất
rừng nghèo kiệt không có giá tr kinh tế, hiệu
quả phòng hộ và chức năng sinh thái kém.
Nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế trên những diện
tích đất rừng được giao, một số chương trình
trồng rừng như chương trình trồng rừng 327,
147, dự án trồng rừng 661 đã được triển khai để
cung cấp giống, kỹ thuật và một phần công
chăm sóc cho các hộ để trồng lại rừng.
Làng G với điều kiện đường xá tốt hơn nên
chương trình trồng rừng được triển khai ngay
sau khi giao đất, từ năm 1996 có 23/33 hộ nhận
đất của làng G bắt đầu trồng cây theo chương
trình trồng rừng 327, những hộ khác tiếp tục
tham gia trồng rừng theo dự án trồng rừng 661
và chương trình trồng rừng 147 triển khai những
năm sau đó. Trong khi làng A với sự tiếp cận
kém hơn, đến tận năm 2005 mới bắt đầu triển
khai trồng rừng theo dự án 661, trước khi có sự
hỗ trợ của chính phủ chỉ có 1 hộ tự mua giống về
trồng, thực tế trước khi có đường đất được mở
năm 2005, người làng A tiếp cận bên ngoài theo
đường mòn hoặc khe suối. Mặc dù thời gian bắt
đầu trồng rừng khác nhau tại 2 làng, tại thời
điểm khảo sát, hầu như tất cả các hộ nhận đất ở
cả 2 làng đã tham gia trồng rừng, có 36/37 hộ
nhận đất (97,3%) làng A, và 100% số hộ nhận đất
làng G có diện tích rừng trồng sản xuất. Bên
cạnh đó, diện tích trồng rừng trung bình của làng
A (1,39 ha/hộ) và làng G (1,38 ha/hộ) gần như
nhau (Bảng 5), và cũng không có sự khác nhau có
ý nghĩa thống kê giữa diện tích trồng rừng/hộ ở
làng A và làng G (t = 0,058, P >0,05). Những loài
cây được trồng trên diện tích đất rừng sản xuất
được giao cho hộ trong 2 làng chủ yếu: Mỡ
(Manglietia glauca), Quế (Cinnamomum cassia),
Trám trắng (Canarium album), Lát hoa
(Chukrasia tabularis), và Hồi (Illicium verum).
Hiện trạng hoạt động sử dụng đất rừng được giao của hộ đồng bào dân tộc thiếu số: Nghiên cứu điểm tại huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
612
Do đất nông nghiệp cho canh tác cây lương
thực,ở vùng miền núi rất hạn chế, chính phủ đã
cho phép các hộ nhận đất được sử dụng tối đa
không quá 20% diện tích đất lâm nghiệp chưa có
rừng để trồng cây nông nghiệp (QĐ 178/2001/
QĐ-TTg). Tại điểm nghiên cứu, đất canh tác
nông nghiệp chỉ chiếm 4,7% tổng diện tích đất tự
nhiên của xã Rã Bản, và 7,3% ở xã Phương Viên.
Kết quả khảo sátcũng chỉ ra, diện tích đất trồng
lúa trung bình ở làng A chỉ đạt 0,33 ha/hộ và
làng G là 0,28 ha/hộ. Do vậy, nhằm đáp ứng nhu
cầu lương thực thực phẩm trước mắt và cung cấp
các lợi ích ngắn hạn hơn so với cây gỗ, các hộ
nhận đất đã trồng thêm cây ăn quả và cây nông
nghiệp ngắn ngày trên đất rừng sản xuất
được giao.
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng, có 18/37 hộ
nhận đất ở làng A và 14/33 hộ nhận đất ở làng
G đã trồng thêm cây ăn quả trên đất rừng sản
xuất được giao. Các loài cây ăn quả được trồng
chủ yếu là cam, quýt, hồng không hạt, mận.
Hầu hết giống của các loài cây này được cung
cấp từ chương trình hỗ trợ phát triển cây ăn quả
của huyện Chợ Đồn giai đoạn 2010-2015, một số
hộ nhận giống từ dự án 661 và bắt đầu trồng từ
năm 2005, một số hộ khác tự mua hoặc tự lai
tạo giống. Trong khi chờ thu nhập từ gỗ thì
người dân có thể có thu nhập sớm hơn từ cây ăn
quả vì chúng có thể cho thu hoạch chỉ sau 5
năm. Diện tích trồng cây ăn quả trung bình/hộ
của làng A là 0,43ha và làng G là 0,41ha (Bảng
5) và không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa
diện tích trồng cây ăn quả/hộ của làng A và làng
G (t = 0,246, P >0,05).
Bảng 4. Đất rừng sản xuất được giao cho hộ gia đình
Diện tích được giao/hộ (ha) Làng A (n = 37) Làng G (n = 33)
Min 0,10 0,40
Max 15,94 8,10
SD 4,23 2,10
Trung bình 4,55 3,43
Bảng 5. Thực trạng sử dụng đất rừng sản xuất được giao cho các hộ
Tổng diện tích rừng được giao (ha)
Làng A (n = 37) Làng G (n = 33)
167,74 113,26
Số hộ trồng cây (%):
Cây lâu năm
Cây gỗ 18 48,6 19 57,6
Cây gỗ + cây ăn quả 18 48,6 14 42,4
Không trồng 1 2,7 - -
Cây hàng năm
Hộ trồng 35 94,6 25 75,8
Không trồng 2 5,4 8 24,2
Tổng diện tích (Trung bình)
Cây gỗ 49,90 1,39 45,62 1,38
Cây ăn quả 7,75 0,43 5,69 0,41
Cây hàng năm 6,32 0,20 5,29 0,26
Biến động diện tích (ha) trên hộ
Cây gỗ 0,10-3,35 0,30-5,00
Cây ăn quả 0,10-1,25 0,11-1,25
Cây hàng năm 0,05-0,50 0,05-0,55
Nguyễn Thu Thùy, Nguyễn Thanh Lâm
613
Hình 2. Tương quan giữa diện tích đất rừng được giao/hộ
và đất chưa sử dụng cho trồng rừng
Các loại cây lương thực được trồng chủ yếu
làngô và sắn. Hộ thường trồng xen canh cây
nông nghiệp trên những diện tích mới trồng
rừng hay cây ăn quả trong khoảng 3-4 năm đầu,
hoặc cũng có thể trồng riêng ở vùng đất thấp
phía dưới. Ngô, sắn được trồng trên đất rừng
sản xuất được giao chủ yếu làm thức ăn cho gia
súc, gia cầm trong cả 2 làng. Tại thời điểm khảo
sát năm 2017, số hộ canh tác cây lương thực
trên đất rừng ở làng A (94,6%) cao hơn làng G
(75,8%) (Bảng 5), phân tích thống kê cũng chỉ ra
sự khác nhau có ý nghĩa về số hộ canh tác cây
lương thực trên đất được giao giữa 2 làng
(Pearson’s chi-square test, df = 1, 2 = 5,055,
P <0,05). Thực tế, làng A với sự tiếp cận kém
hơn, có ít cơ hội sinh kế hơn, họ có xu hướng phụ
thuộc nhiều hơn vào các hoạt động trồng trọt,
chăn nuôi để duy trì sinh kế.
3.3.2. Khả năng mở rộng diện tích trồng
rừng trên diện tích đất sản xuất được giao
của các hộ
Ở làng A, các hộ nhận đất đã sử dụng tổng
49,90ha đất rừng sản xuất được giao (chiếm
29,7% tổng diện tích đất được giao cho các hộ) để
trồng rừng. Ở làng G, tổng diện tích đất được
giao sử dụng cho trồng cây gỗ là 45,62ha (chiếm
40,4%) (Bảng 4). Mặc dù tỉ lệ đất được giao
chuyển sang trồng rừng ở làng G cao hơn, nhưng
như đã đề cập ở trên, không có khác nhau về diện
tích đất trung bình sử dụng cho cây gỗ và cây ăn
quả ở 2 làng. Bên cạnh đó, dù hầu hết các hộ
nhận đất đã trồng cây trên đất được giao, nhưng
diện tích đất thực tế được hộ sử dụng cho trồng
rừng chiếm tỉ lệ nhỏ (Hình 2). Khi phân tích mối
tương quan giữa diện tích đất được giao và diện
tích đất không sử dụng cho trồng cây gỗ, kết quả
chỉ ra rằng có mối tương quan chặt chẽ giữa diện
tích được giao và đất chưa sử dụng ở cả 2 làng A
(Pearson’s two-sided r = 0,968) và làng G
(r = 0,879), điều này có nghĩa là những hộ nhận
diện tích lớn cũng chỉ sử dụng một phần diện tích
nhỏ để trồng rừng. Nói cách khác, diện tích được
sử dụng cho trồng cây gỗ của các hộ nhận đất gần
như nhau, không liên quan đến diện tích đất
được giao lớn hay nhỏ. Bên cạnh đó, mặc dù làng
G có điều kiện đường xá thuận lợi hơn trong việc
thu mua gỗ nhưng diện tích rừng trồng/hộ cũng
không lớn hơn so với làng A. Từ kết quả nghiên
cứu, có thể kết luận rằng việc mở rộng diện tích
Hiện trạng hoạt động sử dụng đất rừng được giao của hộ đồng bào dân tộc thiếu số: Nghiên cứu điểm tại huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
614
trồng cây trên đất được giao cho hộ đồng bào dân
tộc tại 2 làng A và làng G vẫn phụ thuộc vào sự
hỗ trợ của chính phủ cho giai đoạn kiến tạo ban
đầu. Tuy nhiên, theo thông tin từ cán bộ Hạt
Kiểm lâm, tạm thời những hộ đã từng nhận
giống và kinh phí hỗ trợ cho trồng rừng sẽ không
được hỗ trợ sau khi khai thác do các chương trình
trồng rừng hiện tại đã kết thúc. Do đó, nếu các hộ
không chủ động trồng lại rừng sau khai thác
hoặc sử dụng đất rừng saimục đích thì sẽ gây ra
những hậu quả rất nghiêm trọng.
3.3.3. Tiềm năng và hạn chế trong phát
triển rừng trồng trên đất rừng được giao
cho hộ tại điểm nghiên cứu
Qua điều tra phỏng vấn các bên liên quan
cùng với kết quả điều tra, nhìn chung tiềm năng
và hạn chế trong phát triển rừng trồng trên đất
rừng được giao cho hộ có một số điểm chính sau:
a. Tiềm năng
Hầu hết các hộ điều tra đã được nhận đất
rừng và được cấp GCNQSDĐ. Điều này tạo điều
kiện cho các chủ rừng chủ động đầu tư, yên tâm
canh tác trên mảnh đất của mình.
Đặc biệt, các hộ đồng bào nơi đây có truyền
thống sử dụng rừng và đất rừng trong hoạt động
sinh kế. Do đó, họ có kinh nghiệm trong trồng,
chăm sóc và thu hoạch các loại cây rừng. Hay
kiến thức bản địa của người dân cũng là một lợi
thế trong phát triển rừng trồng.
Chủ chương, chính sách của tỉnh Bắc Kạn
nói chung, huyện Chợ Đồn nói riêng đều quan
tâm đến phát triển kinh tế lâm nghiệp từ rừng
trồng sản xuất trên diện tích đất đã được giao
cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng
nhằm cải thiện sinh kế của họ.
Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ gỗ nội địa
tại huyện Chợ Đồn tương đối thuận lợi vì ngay
trên địa bàn huyện đã có 73 cơ sở chế biến và
kinh doanh gỗ với đa dạng các loại hình sản
xuất như gỗ bóc, xẻ, băm dăm, đồ mộc, ván ép...
b. Hạn chế
Các hộ nhận đất ở cả 2 làng đều cho rằng
trồng cây gỗ lâu cho thu hoạch, không giải quyết
được nguồn thu trước mắt, lợi nhuận thấp hơn
so với trồng cây ăn quả, đôi khi gặp rủi ro nếu bị
sâu bệnh. Đây chính là một trong những lý do
người dân đã trồng bổ sung một số loại cây ăn
quả và cây nông nghiệp ngắn ngày trong hệ
thống để đa dạng sản phẩm, cải thiện sinh kế
hộ. Hầu hết diện tích trồng rừng trên đất giao
cho các hộ đều được hỗ trợ từ các chương trình
trồng rừng của chính phủ. Bên cạnh đó, thông
tin thu được từ phỏng vấn những bên liên quan
cho rằng: một trong những rào cản hiện nay
trong mở rộng diện tích trồng rừng tại đây là do
điều kiện kinh tế của các hộ đồng bào vẫn còn
nhiều khó khăn, nên vốn để đầu tư phát triển
sản xuất dài hạn như hoạt động trồng rừng còn
rất hạn chế.
Diện tích đất được giao cho mỗi hộ không
tập trung mà phân tán, manh mún. Trung bình
mỗi hộ được giao 1,8 mảnh, hộ nhiều nhất có 4
mảnh. Hơn nữa, vị trí giữa các mảnh cách xa
nhau nên khó khăn cho việc sử dụng và quản lý
những diện tích này.
Đặc biệt, riêng đối với làng A, do điều kiện
đường xá không thuận lợi khiến cho chi phí vận
chuyển và khai thác gỗ rất tốn kém. Đây cũng
là một rào cản rất lớn trong mở rộng diện tích
trồng rừng ở làng A.
Ngoài ra, các hộ nhận đất trong 2 làng cũng
cảm thấy khó khăn trong tìm nguồn giống cây
trồng rừng có chất lượng, đảm bảo tỉ lệ sống cao.
3.4. Đề xuất một số giải pháp tăng hiệu
quả sử dụng đất lâm nghiệp được giao cho
các hộ
Đất lâm nghiệp được Nhà nước quy hoạch
sử dụng cho mục đích lâm nghiệp, chúng giữ vai
trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ môi trường
sinh thái, hạn chế thiên tai. Do đó, nó sẽ gây ra
vấn đề cực kỳ nghiệm trọng nếu các hộ được
giao đất nhưng để trống hoặc canh tác nông
nghiệp độc canh giống hoạt động canh tác nương
rẫy trước đây. Dựa trên kết quả nghiên cứu hiện
tại, cùng tham khảo ý kiến của các chuyên gia,
nhà khoa học, chúng tôi xin đưa ra một số giải
pháp sau:
Do cây lâm nghiệp thường phải đợi thời
gian dài mới đến tuổi khác thác, do đó có thể
khuyến khích hộ nhận đất chưa có rừng phát
triển các mô hình NLKH vừa nhằm phục hồi
Nguyễn Thu Thùy, Nguyễn Thanh Lâm
615
cảnh quan rừng, nhưng vẫn đóng góp thu nhập
cho hộ và giải quyết được lợi ích trước mắt.
Trong mô hình được đề xuất này thì cây lâm
nghiệpvẫn phải là thành phần chủ đạo, ưu tiên
chọn những loài cây bản địa đa tác dụng trong
hệ thống, cây ăn quả, cây nông nghiệp ngắn
ngày nên được trồng xen canh cùng trong hệ
thống chứ không phải độc canh. Thực tế, lợi ích
của hệ thống NLKH trong duy trì tính bền vững
của sử dụng đất vùng cao khu vực nhiệt đới và
tăng an toàn sinh kế hộ đã được chứng minh
trong rất nhiều nghiên cứu liên quan đến
NLKH (PanNature, 2017; Schick & cs., 2018).
GĐGR đã tạo động lực cho các hộ phát
triển diện tích rừng trồng trêndiện tích đất được
giao,góp phần làm gia tăng độ che phủ của rừng
toàn quốc. Tuy nhiên, để hộ có thể sử dụng đất
hiệu quả, đòi hỏi phải có những cơ chế chính
sách phù hợp, đặc biệt là các chính sách tiếp cận
nguồn vốn ưu đãi cho hộ, tiếp cận cây giống và
khoa học kỹ thuật như một số chương trình
trồng rừng quốc gia đã triển khai (dự án 661,
chương trình 147).
Bên cạnh đó cũng cần có chính sách nhằm
khuyến khích các hộ có đất nhưng không có
tiềm lực đầu tư trồng rừng tham gia vào liên
doanh liên kết. Khuyến khích mô hình liên
doanh, liên kết giữa chủ rừng với các tổ chức,
doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo chu trình
khép kín từ khâu trồng rừng đến khai thác, chế
biến và tiêu thụ sản phẩm.
4. KẾT LUẬN
Sau hơn 2 thập kỷ thực hiện chính sách
GĐGR tại 2 làng vùng cao của tỉnh Bắc Kạn,
hầu hết các hộ gia đình dân tộc thiểu số đã nhận
được đất rừng sản xuất (trung bình 4,5 ha/hộ ở
làng A, 3,4 ha/hộ ở làng G) để quản lý và sử
dụng cho phát triển kinh tế hộ. Tại cấp huyện,
62,9% đất lâm nghiệp đã được giao cho hộ gia
đình và có đến 86,3% tổng diện tích rừng trồng
trong huyện là đang được quản lý bởi hộ gia
đình. Điều này khẳng định rằng, hộ gia đình đã
trở thành một trong những chủ thể chính theo
chủ trương xã hội hóa nghề rừng của nước ta.
Chính sách GĐGR đã giúp các hộ đồng bào
chuyển đổi hoạt động sinh kế, từ hoạt động canh
tác nương rẫy không bền vững sang trồng rừng
với các cây trồng chính là Mỡ, Quế, Trám trắng,
Lát hoa, Hồi. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ
ra, sự mở rộng diện tích trồng rừng tại đây vẫn
phụ thuộcnhiều vào sự hỗ trợ ban đầu của chính
phủ thông qua các chương trình trồng rừng quốc
gia, diện tích trồng rừng trung bình/hộ chỉ đạt
1,3ha ở cả 2 làng. Thiếu vốn để duy trì diện tích
rừng trồng gỗ do sự thu hồi vốn chậm, cộng với
nhu cầu tiêu dùng trước mắt có thể được xem là
rào cản lớn nhất trong phát triển rừng trồng
trên đất được giao cho hộ vùng cao hiện nay. Do
đó, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ
đầu tư cho phát triển lâm nghiệp và chính sách
khuyến khích các mô hình liên doanh, liên kết
giữa các chủ rừng với nhau, hoặc giữa chủ rừng
với tổ chức và doanh nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2019). Quyết định
2908/QĐ-BTNMT về phê duyệt và công bố kết
quả thống kê diện tích đất đai năm 2018. ngày
13/11/2019. Hà Nội.
Castella J.C., Boissau S., Nguyen H.T. & Novosad P.
(2006). Impact on forestland allocation on land use
in a mountainous province of Vietnam. Land Use
Policy. 23:147-160.
Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn (2017). Báo cáo tổng kết về
công tác nông lâm nghiệp năm 2016, Bắc Kạn.
Clement F. & Amezaga J.M. (2009). Afforestation and
forestry land allocation in northern Vietnam:
analysing the gap between policy intentions and
outcomes. Land Use Policy. 26(2): 458-470.
de Jong W., Do D.S. & Trieu V.H. (2006). Forest
rehabilitation in Vietnam: histories, realities and
future. Central and International Forest Research
JI. CIFOR, Situ Gede. ISBN. 979-244652-4.
de Koninck R. (1999) Deforestation in
Vietnam. International Development Research
Centre, Ottawa.
Jakobsen J., Rasmussen K., Leisz S., Folving R. &
Nguyen V.Q. (2007). The effects of land tenure
policy on rural livelihoods and food suffciency in
the upland village of Que, North Central Vietnam.
Agric Syst. 94(2): 209-319.
Trung tâm con người và thiên nhiên (PANNature)
(2017). Nông nghiệp Tây Bắc: Nhận diện thách
thức và định hướng phát trin trong bối cảnh biến
đổi khí hậu. Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội.
Schick A., Wieners E., Schwab N. & Schickhoff U.
(2018). Sustainable Disaster Risk Reduction in
Mountain Agriculture: Agroforestry Experiences in
Kaule, Mid-Hills of Nepal. Springer, Cham.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hien_trang_hoat_dong_su_dung_dat_rung_duoc_giao_cua_ho_dong.pdf