Biểu hiện của chó sau khi tiêm hormone PGF2α Hormone PGF2α tác động lên cơ trơn cổ tử cung nên có thể gây ra các biểu hiện không mong muốn sau tiêm như bồn chồn, nôn mửa hoặc đi vệ sinh mất kiểm soát, bao gồm đi phân và đi tiểu riêng rẽ hoặc cả hai cùng lúc. Do vậy, chúng tôi quan sát các biểu hiện này và tổng hợp ở đồ thị dưới đây: Qua biểu đồ trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết các trường hợp đều có biểu hiện bất thường sau tiêm. Kết quả này của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả của France O. Smith (2006) khi nghiên cứu về điều trị bệnh viêm tử cung ở chó. Trong đó, nôn là biểu hiện chiếm tỷ lệ cao nhất, đi vệ sinh không kiểm soát chiếm tỷ lệ thứ hai, sau đó là biểu hiện chảy dãi và cuối cùng là biểu hiện bồn chồn. Từ biểu đồ nhận thấy rằng, các biểu hiện trên xảy ra theo thứ tự bồn chồn, chảy dãi, nôn và đi vệ sinh mất kiểm soát. Trên thực tế, có những trường hợp xuất hiện biểu hiện lâm sàng sau tiêm ở phút thứ 60, do vậy, có thể kết luận rằng các biểu hiện kéo dài từ 0-60 phút sau tiêm. Trong khi đó, một số nghiên cứu lại đưa ra kết quả khác như Sokolowski (1977) và F. Fieni (2014) cho rằng các biểu hiện có thể xảy ra sau tiêm trong khoảng 2 giờ hoặc từ 15-45 phút như trong nghiên cứu của France O. Smith (2006). Vì liều lượng được sử dụng và thể trạng của các giống chó được nghiên cứu khác nhau nên thời gian của các biểu hiện sau tiêm cũng khác nhau. Để hạn chế tối đa các biểu hiện sau tiêm PGF2α, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện như Edward C. B. (1982) đã đưa ra khuyến cáo rằng chó được cho nhịn ăn trong vòng 24h trước khi bắt đầu điều trị thì chỉ có biểu hiện nôn hoặc đi vệ sinh 1 lần sau tiêm. Nghiên cứu của Gábor G. (1999) trên 17 cá thể chó cái bị viêm tử cung được điều trị bằng cách truyền trực tiếp PGF2α vào lòng âm đạo thì không có biểu hiện nào được ghi nhận, sau quá trình điều trị, đã có 15 cá thể được điều trị thành công và động dục trở lại.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hiệu quả điều trị chậm động dục bằng Prostaglandin F2A trên đàn chó Bắc Hà và H'Mông cộc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
75
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
HIEÄU QUAÛ ÑIEÀU TRÒ CHAÄM ÑOÄNG DUÏC BAÈNG
PROSTAGLANDIN F2α TREÂN ÑAØN CHOÙ BAÉC HAØ VAØ H'MOÂNG COÄC
Sử Thanh Long1, Nguyền Thị Thu Hiền2, Võ Duy Thành2
TÓM TẮT
Chậm động dục là một rối loạn sinh sản phổ biến, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đàn chó nuôi với mục đích sinh
sản. Nghiên cứu này được thực hiện tại trại chó sinh sản huyện Ba Vì, Hà Nội trong thời gian từ tháng 8 đến tháng
12 năm 2017 với mục đích đánh giá về hiệu quả điều trị bệnh chậm động dục bằng cách tiêm Prostaglandin F2α
cho đàn chó Bắc Hà và H’mông cộc, đồng thời theo dõi biểu hiện động dục của chó sau khi tiêm. Trong tổng số 67
trường hợp được theo dõi thì có 28 trường hợp (41,79%) mắc bệnh chậm động dục và trong 21 trường hợp được
điều trị thì có 14 trường hợp động dục trở lại (66,67%). Các biểu hiện lâm sàng ở chó sau khi tiêm Prostaglandin
F2α được ghi nhận như sau: thở nhanh, bồn chồn, chảy dãi, nôn và đi vệ sinh không kiểm soát.
Từ khoá: chó cái, chậm động dục, Prostaglandin F2α, biểu hiện sau tiêm.
The efficiency of Prostaglandin F2α in treatment of delayed oestrus
in Bac Ha and H’mong coc bitches
Su Thanh Long, Nguyen Thi Thu Hien, Vo Duy Thanh
SUMMARY
Delayed oestrus is a common reproductive disorder causing direct influence to the reproduction of
bitches. The study was conducted at a breeding dog farm in Ba Vi district, Ha Noi from August to December
2017 with the aim to determine the efficiency of Prostaglandin F2α injection in treating the reproductive
disorder in Bac Ha and H’mong coc bitches. All the side effects after injection of the hormone were
monitored and recorded. In a total of 67 cases, there were 28 cases (41.79%) diagnosed to be suffered
with delayed oestrus. Of which, 21 cases were treated with prostaglandin F2α. Consequently, there were
14 heat cases (66.67%) detected. The clinical signs of bitches after injection of hormone were observed,
including hyperpnoea, restlessness, salivation, vomiting, uncontrol urination and defecation.
Keywords: bitch, delayed oestrus, Prostaglandin F2α, side effect.
1. Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2. Viện NC Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Bệnh nhiệt đới
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam vốn nổi tiếng với “Tứ đại danh khuyển”
với các giống chó như Bắc Hà, H’mông cộc, Phú
Quốc và Dingo Đông Dương bởi các đặc tính như
thông minh, dễ huấn luyện, khỏe mạnh và trung
thành. Với mục đích bảo tổn và phát triển những
giống chó quý hiếm của Việt Nam, đồng thời tạo
dựng sân chơi chuyên nghiệp cho những người nuôi
chó thì nhiều hiệp hội nuôi chó giống đã ra đời. Tuy
nhiên, việc người chăn nuôi còn thiếu kiến thức căn
bản về chu kỳ sinh sản cộng với việc chạy theo lợi
nhuận, ít quan tâm tới chế độ chăm sóc, dinh dưỡng
khiến cho bệnh sinh sản như viêm tử cung, chậm
động dục trên chó ngày càng phổ biến (Nguyễn Thị
Hoa và cs., 2017).
Đối với những chủ nuôi chó nhằm mục đích sinh
sản, do đặc tính sinh lý của chó là động dục theo năm
và thường không theo mùa, khoảng cách giữa các
lần động dục có thể kéo dài từ 5-12 tháng, thường
là từ 6-7 tháng (Concannon, 2010). Nếu trong thời
kỳ động dục, chó cái không được giao phối hoặc
không có chửa sau khi phối thì chủ nuôi phải đợi
nhiều tháng sau chó cái mới có thể động dục trở lại,
làm giảm đáng kể hiệu quả kinh tế. Trên thế giới, các
phương pháp điều trị chậm động dục ở chó đã được
nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn cho kết quả khả
quan. Theo Nelson et al. (1982), 14/17 chó được điều
trị chậm động dục thành công bằng Prostaglandin
F2α (PGF2α), hay theo Gábor et al. (1999) thì 15/17
chó cũng được điều trị chậm động dục thành công
bằng phương pháp trên. Tại nước ta, phương pháp
PGF2α đã bước đầu được ứng dụng và mang lại hiệu
quả cao với các nghiên cứu của Sử Thanh Long và
cs. (2017) trên tất cả các giống chó trên địa bàn Hà
Nội với các kết quả khả quan lần lượt là 64,86% và
69,23% chó động dục trở lại sau điều trị. Dựa trên
76
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
thành quả của các nghiên cứu trước đây, chúng tôi
thực hiện đề tài ứng dụng “Đánh giá hiệu quả điều trị
chậm động dục bằng prostaglandin F2α trên đàn chó
Bắc Hà và H’mông cộc” với mục đích nâng cao khả
năng sinh sản trên đàn chó đặc hữu bản địa, góp phần
bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam.
II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng: đàn chó sinh sản Bắc Hà và H’mông
cộc trên 15 tháng tuổi chậm động dục
Địa điểm: trại chó sinh sản ở Ba Vì, Hà Nội
Thời gian: tháng 8/2017 đến tháng 12/2017.
2.2. Nội dung
- Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh chậm động dục trên
đàn chó.
- Điều trị bệnh chậm động dục bằng hormone
PGF2α.
- Đánh giá hiệu quả điều trị chậm động dục bằng
hormone PGF2α.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng
Tìm hiểu thông tin về con vật như chế độ chăm
sóc, nuôi dưỡng, lứa tuổi, thời gian động dục, số lứa
đẻ...
Khám cơ quan sinh dục: Trước tiên quan sát
thể trạng con vật, sau đó kiểm tra cơ quan sinh dục
có những biểu hiện bất thường hay có dịch chảy ra
không. Sờ và kiểm tra phần âm đạo xem có nóng,
sưng, cứng hay mềm, kiểm tra mùi của dịch chảy ra
từ âm đạo (nếu có).
2.3.2. Phác đồ điều trị
Những cá thể chó đến tuổi trưởng thành chưa
động dục hoặc những cá thể không động dục trở lại
trong vòng 6 tháng sau đẻ hoặc chưa động dục trong
thời gian dài, sau khi khám lâm sàng được kết luận
chậm động dục và điều trị theo phác đồ sau:
Tiêm PGF2α 0,4-1 ml/10 kg khối lượng cơ thể và
vitamin A.D.E bổ sung vào thức ăn hàng ngày. Chó
sau tiêm sẽ được theo dõi trong vòng 7 ngày, nếu có
biểu hiện động dục thì tiến hành cho ghép với đực
giống vào thời điểm thích hợp, nếu chó không có
biểu hiện động dục thì sẽ tiếp tục được tiêm PGF2α
lần 2 hoặc lần 3. Các biểu hiện lâm sàng sau tiêm đều
được quan sát và theo dõi cẩn thận. Ngừng theo dõi
sau khi các biểu hiện lâm sàng kết thúc hoàn toàn.
Chó được đánh giá là khỏi bệnh khi xuất hiện chu
kỳ động dục sau khi điều trị.
Nếu có biểu hiện động dục thì tiến hành ghép với
chó đực vào thời điểm thích hợp và theo dõi giao
phối.
2.3.3. Phát hiện động dục
Chó cái được quan sát động dục 1 lần/ngày, dựa
vào các biểu hiện như âm môn sưng đỏ, hoặc có máu
ở âm môn.
2.3.4. Xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thu thập và xử lý bằng phương
pháp thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft
Excel.
Ngoài ra, các biểu hiện lâm sàng sau tiêm cũng
được quan sát theo thời gian và tính theo công thức
tính thời gian trung bình:
t
tb
=
T
n (phút)
Trong đó : t
tb
: thời gian trung bình (phút), T: tổng
thời gian xuất hiện biểu hiện ở các cá thể (phút), n:
các cá thể có xuất hiện biểu hiện sau tiêm (con).
77
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tỷ lệ mắc bệnh chậm động dục
Trong quá trình theo dõi và điều trị tại trại, chúng
tôi tiến hành đánh giá tỷ lệ chó cái mắc bệnh chậm
động dục. Kết quả được thể hiện ở bảng 1 dưới đây.
Bảng 1. Tỷ lệ mắc bệnh chậm động dục
Số chó theo dõi (con) Số chó mắc chậm động dục (con) Tỷ lệ (%)
67 28 41,79
Qua bảng 1 chúng tôi nhận thấy, chậm động dục
là bệnh khá phổ biến, chiếm 41,79% trong tổng đàn
chó sinh sản tại trại Ba Vì, Hà Nội. Sau khi điều tra
về chế độ dinh dưỡng và chăn thả, chúng tôi thấy
rằng, 67 trường hợp nêu trên đều được nuôi dưỡng
bằng cháo thịt nhưng được ninh trong thời gian rất
lâu nên có thể hầu hết các vitamin cần thiết bị biến
chất dẫn đến ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ
thể. Denise Hewitt et al. (2016) cho rằng nếu thiếu
vitamin và khoáng chất sẽ ảnh hưởng đến khả năng
sinh sản ở chó.
Sự thay đổi của môi trường sống cũng là yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của loài chó. Trong
trường hợp này, hai giống chó Bắc Hà và H’mông
cộc thường được nuôi theo hình thức thả rông ở vùng
miền núi phía Bắc có khí hậu mát mẻ với biên độ nhiệt
dao động giữa tháng thấp nhất và cao nhất là 14-290C
(Nguyễn Khanh Vân, 2015). Trong khi đó trại chó của
Ba Vì khi đưa chó về trại, hầu hết chó nuôi bị xích,
nhốt trong các ô chuồng với biên độ nhiệt cao đã làm
thay đổi môi trường sống của chúng, hơn nữa, nhiệt độ
môi trường và cường độ chiếu sáng cao vào mùa hè
cũng khiến khả năng sinh sản và động dục của chó cái
giảm (K. Chatdarong et al., 2007).
Ở chó, sự thành thục về tính bắt đầu từ 6 đến
12 tháng tuổi, đôi khi có thể kéo dài đến 24 tháng
tuổi ở một vài giống chó vóc lớn (Bhagat S., 2002).
Chó cái có thể giao phối và có chửa ngay trong lần
động dục lần đầu tiên này. Tuy nhiên, nhiều trường
hợp chó mới chỉ thành thục về giới tính, nhưng chưa
thành thục về thể vóc, kích thước xoang chậu nhỏ,
khi chửa đẻ dẫn tới tổn thương niêm mạc đường sinh
dục, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhiễm gây
viêm đường sinh dục, không được điều trị kịp thời
làm ức chế khả năng tiết PGF2α của niêm mạc tử
cung, khiến cho thể vàng không bị phá huỷ, duy trì
nồng độ progesterone cao trong huyết thanh, nên chó
không thể bước vào chu kỳ động dục mới mặc dù
không mang thai (Sử Thanh Long và Trần Lê Thu
Hằng, 2014).
3.2. Hiệu quả điều trị chậm động dục bằng
hormone PGF2α
Sau khi khám và kiểm tra các trường hợp mắc
bệnh chậm động dục, chúng tôi tiến hành điều
trị bệnh bằng sản phẩm có thành phần chính là
hormone PGF2α và thu được kết quả thể hiện qua
bảng 2 dưới đây.
Bảng 2. Kết quả điều trị bằng PGF2α
Số chó điều trị
(con)
Số chó điều trị có hiệu quả (con)
Tỷ lệ (%)
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Tổng
21 4 4 6 14 66,67
Từ bảng 2 chúng tôi nhận thấy, trong 21 trường
hợp được can thiệp hormone thì có 14 trường hợp
động dục trở lại, chiếm 66,67%. Trên thực tế, số
trường hợp được điều trị chậm động dục là 28,
tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài này có
1 trường hợp phản ứng mạnh với thuốc sau tiêm và
chết chưa rõ nguyên nhân, ngoài ra, 6 trường hợp bị
thất lạc thông tin nên chúng tôi không đưa vào tổng
mẫu. Ngoài ra, các trường hợp trên đây chỉ được theo
dõi đến khi được điều trị khỏi chậm động dục chứ
không theo dõi thời gian lên giống.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thu được tương
tự như kết quả của nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoa và
cs. (2017) thực hiện trên các giống chó khác nhau có
biểu hiện chậm động dục (P>0,05). Nghiên cứu của
78
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Ohmura et al. (2011) gây động dục với PGF2α kết
hợp leuprolide trên 19 cá thể chó cái đạt tỷ lệ 94,73%
động dục, tỷ lệ có chửa trở lại đạt 52,63%.
Để kiểm soát sự sinh sản trên chó cái, đã có rất
nhiều phương pháp được đưa ra như sử dụng các hợp
chất chủ vận dopamine như cabergoline (Verstegen,
1999; Umut Cirit, 2007) hay chất chủ vận GnRH
(Gonadotropin releasing hormone) như lutrein
(Concannon, 2006).
Ở chó, nồng độ progesterone trong huyết
thanh cao do thể vàng tiết ra ở pha sau động dục
và giai đoạn đầu pha cân bằng sinh học làm ức
chế chu kỳ động dục mới. Do đó, khi tiêm PGF2α
vào cơ thể sẽ thúc đẩy quá trình thoái hóa thể
vàng, khiến cho chó động dục trở lại (Nguyễn
Thị Hoa, 2017).
Trong nghiên cứu này, việc bổ sung vitamin cho
tổng đàn chó nhằm mục đích bổ sung các vitamin
thiết yếu cho sự sinh trưởng và sinh sản, trong đó,
vitamin A đóng vai trò quan trọng đối với sự sinh
sản và phát triển phôi của con cái (Margaret C.
et al., 2002); vitamin D giúp giảm nguy cơ mắc
bệnh, tăng hiệu quả điều trị, hồi phục sau bệnh
và có thể sử dụng như dấu ấn sinh học trong tiên
lượng bệnh (Nicole W. et al., 2016); vitamin E có
tác dụng chống liệt cơ, suy nhược cơ tứ chi, giúp
lông, da của chó khỏe khoắn và bóng mượt, đồng
thời, nó cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch (James
Watts, 2011).
Bên cạnh đó, hiệu quả của việc sử dụng PGF2α
trong điều trị được Edward C. B. (1982) mô tả
trong cơ chế làm tiêu biến thể vàng như sau: sự đối
kháng với LH hoặc prolactin; thúc đẩy sự bào mòn
lysosomes; hiệu ứng co hẹp mạch quản tử cung-
buồng trứng, làm giảm lượng máu chảy qua buồng
trứng; giảm trữ lượng của tiền progesterone và
cholesterol esters; hay làm giảm sự hoạt động của
esterase.
3.3. Biểu hiện của chó sau khi tiêm hormone
PGF2α
Hormone PGF2α tác động lên cơ trơn cổ tử
cung nên có thể gây ra các biểu hiện không mong
muốn sau tiêm như bồn chồn, nôn mửa hoặc đi vệ
sinh mất kiểm soát, bao gồm đi phân và đi tiểu
riêng rẽ hoặc cả hai cùng lúc. Do vậy, chúng tôi
quan sát các biểu hiện này và tổng hợp ở đồ thị
dưới đây:
Qua biểu đồ trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết các
trường hợp đều có biểu hiện bất thường sau tiêm. Kết
quả này của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả
của France O. Smith (2006) khi nghiên cứu về điều
trị bệnh viêm tử cung ở chó. Trong đó, nôn là biểu
hiện chiếm tỷ lệ cao nhất, đi vệ sinh không kiểm soát
chiếm tỷ lệ thứ hai, sau đó là biểu hiện chảy dãi và
cuối cùng là biểu hiện bồn chồn.
Ngoài ra, chúng tôi cũng theo dõi thời gian xuất
hiện các biểu hiện lâm sàng sau tiêm và thu được kết
quả như đồ thị dưới đây:
Biểu đồ 2. Thời gian trung bình xuất hiện
biểu hiện sau tiêm
Từ biểu đồ nhận thấy rằng, các biểu hiện trên xảy
ra theo thứ tự bồn chồn, chảy dãi, nôn và đi vệ sinh mất
kiểm soát. Trên thực tế, có những trường hợp xuất hiện
biểu hiện lâm sàng sau tiêm ở phút thứ 60, do vậy, có thể
kết luận rằng các biểu hiện kéo dài từ 0-60 phút sau tiêm.
Trong khi đó, một số nghiên cứu lại đưa ra kết quả khác
như Sokolowski (1977) và F. Fieni (2014) cho rằng các
biểu hiện có thể xảy ra sau tiêm trong khoảng 2 giờ hoặc
từ 15-45 phút như trong nghiên cứu của France O. Smith
(2006). Vì liều lượng được sử dụng và thể trạng của các
giống chó được nghiên cứu khác nhau nên thời gian của
các biểu hiện sau tiêm cũng khác nhau.
Biểu đồ 1. Tỷ lệ chó có biểu hiện sau tiêm
79
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Để hạn chế tối đa các biểu hiện sau tiêm PGF2α,
nhiều nghiên cứu đã được thực hiện như Edward C.
B. (1982) đã đưa ra khuyến cáo rằng chó được cho
nhịn ăn trong vòng 24h trước khi bắt đầu điều trị thì
chỉ có biểu hiện nôn hoặc đi vệ sinh 1 lần sau tiêm.
Nghiên cứu của Gábor G. (1999) trên 17 cá thể chó
cái bị viêm tử cung được điều trị bằng cách truyền trực
tiếp PGF2α vào lòng âm đạo thì không có biểu hiện
nào được ghi nhận, sau quá trình điều trị, đã có 15 cá
thể được điều trị thành công và động dục trở lại.
IV. KẾT LUẬN
Bệnh chậm động dục phổ biến trên đàn chó sinh
sản Bắc Hà và H’mông cộc tại huyện Ba Vì, Hà Nội
do chế độ chăm sóc chưa đúng phương pháp, rối loạn
hormone, không cho sinh sản đúng chu kỳ, môi trường
sống không phù hợp.
Sử dụng PGF2α điều trị bệnh chậm động dục
mang lại hiệu quả khả quan, tỷ lệ động dục trở lại
cao.
Các biểu hiện sau tiêm xảy ra phổ biến theo thứ
tự như bồn chồn, lo lắng, chảy dãi, nôn và đại tiểu
tiện mất kiểm soát.
Lời cảm ơn: Nhóm tác giả xin chân thành cám
ơn Công ty TNHH Bayer Việt Nam, phòng khám và
chăm sóc thú cưng GAIA và nhóm sinh viên nghiên
cứu khoa học bộ môn Ngoại – Sản (Học viện Nông
nghiệp Việt Nam) đã tạo điều kiện về hormone, cơ
sở vật chất để chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Annual Weather Averages Near Ha Noi, truy cập ngày
6/2/2018 từ https://www.timeanddate.com/weather/
vietnam/hanoi/climate.
2. Bhagat S. 2002. “Canis lupus familiaris” (On-line), Animal
Diversity Web. Accessed December 12, 2017 at http://
animaldiversity.org/accounts/Canis_lupus_familiaris/
3. Denise Hewitt and Gary England (2016), Sexual
Development and Puberty in the Bitch. Veterinary
nursing, 14: 131-135.
4. Edward C. Briles, Lawrence E. Evans (1982), Clinical
Applications of Prostaglandins in Dogs and Cats. Iowa
State University, Digital Repository, 44(2): 90-98.
5. F. Fieni, E. Topic, A. Gogny (2014), Medical Treament for
Pyometra in Dogs. Reprod Dom Anim, 49: 28-32.
6. France O. Smith (2006), Canine Pyometra.
Theriogenology, 66: 610-612. Available online at www.
sciencedirect.com.
7. Gábor G., Siver L., Szenci O. (1999), Intravaginal
prostaglandin F2 alpha for the treatment of metritis and
pyometra in the bitch. Acta Vet Hung., 47(1): 103-8.
8. K. Chatdarong, P. Tummaruk, S. Sirivaidyapong and S.
Raksil (2007), Seasonal and breed effects on reproductive
parameters in bitches in the tropics: a retrospective study.
Journal of Small Animal Practice, 48: 444–448.
9. Nelson R.W., Feldman E.C., Stanbenfeldt G.H. (1982),
Treatment of canine pyometra and endometritis with
prostaglandin F2 alpha. J Am Vet Med Assoc, 181(9)L
899-903.
10. Nguyễn Thị Hoa và Sử Thanh Long (2017), Vai trò
Prostaglandin F2α trong điều trị chậm động dục trên chó.
Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, 220: 83-87.
11. James Watts (2011). The Importance of Vitamin E in
Dogs. Available on: https://petsci.co.uk/nutrition/the-
importance-of-vitamin-e-in-dogs/.
12. Ohmura M., Torii R., Hatoya S., Sugiura K., Tamada
H., Kawate N., Takahashi M., Sawada T. and Inaba T.
(2011), Induction of fertile oestrus in dioestrous bitches
using prostaglandin F2α and a GnRH agonist. Veterinary
Record, 168: 669.
13. Margaret Clagett-Dame, Hector F. DeLuca (2002),
The role of vitamin A in mammalian reproduction and
embryonic development. Annu. Rev. Nutr., 22:347–81.
14. Nicole Weidner, Adronie Verbrugghe (2016),
Current knowledge of vitamin D in dogs. Critical
Reviews in Food Science and Nutrition, DOI:
10.1080/10408398.2016.1171202
15. Patrick W. Concannon (2010), Reproductive cycles of the
domestic bitch. Animal Reproduction Science, 4231: 11.
16. Sokolowski J. H. and Geng S. (1977), Effects of
prostaglandin F2-THAM in the bitch. J. Am. Vet. Med.
Assoc. 170, 536-537.
17. Sử Thanh Long và Nguyễn Thị Hoa (2017), Hiệu quả điều
trị viêm tử cung trên chó bằng hormone PGF2. Tạp chí
Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, 219: 87-92.
18. Umut Cirit, Suleyman Bacinoglu, I. Taci Cangul, Huriye
Horoz Kaya, Muzaffer Tas, Kemal Ak (2007), The effects
of a low dose of cabergoline on induction of estrus and
pregnancy rates in anestrous bitches. Animal Reproduction
Science, 101(1-2): 134-144.
19. Verstegen J.P., Onclin K., Silva L.D., Concannon P.W.
(1999), Effect of stage of anestrus on the induction of
estrus by the dopamine agonist cabergoline in dogs.
Theriogenology, 51(3): 597-611.
Ngày nhận 20-1-2018
Ngày phản biện 25-3-2018
Ngày đăng 1-6-2018
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hieu_qua_dieu_tri_cham_dong_duc_bang_prostaglandin_f2a_tren.pdf