Hiệu quả xử lí nhiệt độ cao đến những bất thường nhiễm sắc thể trong nguyên phân ở hành (allium fistulosum L)
Effect of seed storage and exposure of pre-soaked seeds to dry treatment (55◦C)
on chromosome aberrations were examined. Stored seeds of Allium fistulosum L.
which was bought at markets and harvested in a field in Hanoi were used in the
present investigation. Chromosome aberrations at mitotic meta- and anaphase were
examined in the primary root tips of germinated seeds. The duration of pre-soaking
and of dry treatment effected germinated seed rate and frequency of mitotic chromosome aberrated cells. High frequency of the cells with spontaneous chromosome
aberrations (mean 36.1%) and major abberation was fragmentations of chromosometype (48%) was observed in the stored seed. While in the newly havested seed, these
frequencies were 23.17% and 28.2% respectively. And the major abberation was the
chromosome bridge of the chromatid-type.
Dry treatment (55◦C) of pre-soaked seeds of Allium fistulosum using incubate
may only be induced in a rooted source with many chromosome abberations, which
is mutated materials for practical teaching of the mutation chromosome types.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hiệu quả xử lí nhiệt độ cao đến những bất thường nhiễm sắc thể trong nguyên phân ở hành (allium fistulosum L), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Natural Sci., 2011, Vol. 56, No. 3, pp. 43-50
HIỆU QUẢ XỬ LÍ NHIỆT ĐỘ CAO ĐẾN NHỮNG BẤT THƯỜNG
NHIỄM SẮC THỂ TRONG NGUYÊN PHÂN
Ở HÀNH (Allium fistulosum L.)
Nguyễn Xuân Viết
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
E-mail: vietnhunhat@yahoo.com
1. Mở đầu
Phương pháp gây đột biến thực nghiệm đã được ứng dụng thành công trong
chọn giống cây trồng. Các tia phóng xạ (tia X, tia Gamma,...) hoặc hóa chất gây
đột biến (NMU, DMS,...) thường được dùng như tác nhân gây đột biến ADN hoặc
nhiễm sắc thể (NST) trong tế bào mô thực vật, cung cấp vật liệu khởi đầu cho chọn
giống [3, 4, 6, 7]. Những bất thường nhiễm sắc thể trong nguyên phân hoặc trong
giảm phân có thể dẫn tới xuất hiện các thể đột biến. Đã có nhiều công trình báo
cáo về những bất thường nhiễm sắc thể ở thực vật do tác động xử lí phóng xạ lên
giai đoạn hạt khô hay giai đoạn hạt nẩy mầm [3, 6, 7] hoặc xử lí hạt khô bằng các
hóa chất gây đột biến như MNU, NEU [2]. Những bất thường nhiễm sắc thể ở hành
hoa (Allium fistulosum L.) do xử lí chiếu tia Laser đã được Dragan và Khrapunov
báo cáo [4, 5]. Tuy nhiên, theo Anderson (1972), xử lí lạnh hạt trước khi gieo hoặc
xử lí nhiệt độ cao cũng gây hậu quả bất thường cho nhiễm sắc thể tương tự như
chiếu xạ bằng tia X. Xử lí nhiệt độ cao đối với hạt hành ngâm gây ra những bất
thường nhiễm sắc thể trong nguyên phân đã được quan sát ở tế bào chóp rễ. Trong
bài viết này chúng tôi báo cáo hiệu quả xử lí nhiệt độ cao đến sự bất thường nhiễm
sắc thể trong nguyên phân ở hành và thảo luận về khả năng ứng dụng tạo nguồn rễ
đột biến phục vụ giảng dạy thực hành Di truyền trong các trường học.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu là hạt hành giống mua ở chợ và ở một số
vùng trồng hành quanh Hà Nội. 500 hạt đã được dùng cho mỗi thí nghiệm; các đĩa
hạt (100 hạt/đĩa) được ngâm nước trong những thời gian khác nhau (6h, 12h và
43
Nguyễn Xuân Viết
18h). Hạt ngâm sau đó được thấm khô bề mặt bằng khăn giấy và chuyển vào các
đĩa pêtri mới. Các đĩa hạt được đặt vào tủ ấm ở nhiệt độ 55◦C trong những thời
gian khác nhau (1h, 2h, 3h, 4h và 5h). Hạt ngâm đã xử lí nhiệt được đưa ra và để
trong bóng tối ở nhiệt độ phòng khoảng một ngày đêm rồi gieo vào các đĩa pêtri có
lót giấy thấm ướt nước vừa đủ, hạt nảy mầm ở điều kiện 19 - 22◦C.
Rễ từ hạt nảy mầm đã qua tiền xử lí bằng nước đá (xấp xỉ 0◦C) trong 24h và
cố định qua đêm trong dung dịnh cố định (3 phần cồn : 1 phần axit axêtic) được
dùng để làm tiêu bản quan sát nhiễm sắc thể ở kì giữa. Các rễ không qua tiền xử lí
lạnh trước khi cố định đã được dùng làm tiêu bản quan sát những bất thường của
nhiễm sắc thể ở kì sau của phân bào nguyên phân.
Tiêu bản quan sát nhiễm sắc thể được tiến hành theo Sigh có cải tiến [10]. Rễ
cố định được rửa qua nước cất, thủy phân trong HCl 1N ở 60◦C trong 5 phút và
nhuộm bằng dung dịch aceto-carmin 2% trong 1 giờ. Chuẩn bị tiêu bản nhiễm sắc
thể bằng phương pháp nén và quan sát dưới kính hiển vi quang học thông thường.
Những bất thường nhiễm sắc thể trong nguyên phân được quan sát trên tế bào phân
chia ở kì giữa và kì sau. Tần số tế bào có bất thường nhiễm sắc thể ở mỗi kì được
tính bằng tỉ lệ % so với tổng số tế bào phân chia ở các kì tương ứng đã quan sát.
2.2. Kết quả và thảo luận
Thời gian bảo quản hạt, thời gian xử lí nhiệt độ cao hạt ngâm có ảnh hưởng
rõ rệt đến tỉ lệ nảy mầm của hạt, tần số tế bào phát sinh những bất thường nhiễm
sắc thể trong nguyên phân cũng như các dạng bất thường nhiễm sắc thể (Bảng 1
và Bảng 2).
Bảng 1. Tần số tế bào có bất thường NST ở kì sau và kì giữa
của phân bào nguyên phân ở chóp rễ mầm mọc
từ hạt hành Allium fistulosum được xử lí nhiệt độ cao (55◦C)
Mẫu thí
nghiệm
Thời kì
quan sát
Số tế
bào
quan sát
Số tế bào
có bất
thường
NST
Tỉ lệ tế
bào có
bất
thường
NST (%)
Tỉ lệ
nảy
mầm
(%)
Hạt mua năm
2005
Thu 2007 860 396 36,1 61,5
Hạt thu hoạch
tháng 10 năm
2007
Xuân
2008
2793 614 23,17 80,3
44
Hiệu quả xử lí nhiệt độ cao đến những bất thường nhiễm sắc thể...
Kết quả nghiên cứu ở Bảng 1 cho thấy hạt hành thu hoạch và được gieo ngay
ở mùa xuân năm sau cho tỉ lệ nảy mầm cao (trung bình 80,3%) nhưng tần số phát
sinh những bất thường nhiễm sắc thể trung bình đạt thấp (23,17%). Trong khi đó,
hạt mua từ thị trường và đã qua thời gian bảo quản, tuy tỉ lệ nảy mầm thấp (61,5%)
nhưng tần số phát sinh bất thường NST trong nguyên phân ở kì giữa và kì sau cao
(36.1%).
Thời gian ngâm hạt và xử lí nhiệt độ cao hạt hành ngâm (quan sát trong mùa
xuân 2008) đã ảnh hưởng đến tần số xuất hiện các tế bào có bất thường NST ở kì
sau và kì giữa của quá trình nguyên phân. Kết quả được trình bày ở Bảng 2.
Bảng 2. Hiệu quả của thời gian xử lí nhiệt độ cao và thời gian
ngâm hạt đến tần số xuất hiện tế bào có bất thường NST
ở chóp rễ mầm của hành A. fistulosum
Thời gian hạt
ngâm nước (h)
Thời gian
xử lí
nhiệt độ
cao (h)
Tỉ lệ nảy
mầm
trung
bình
Số tế bào
quan sát
Số tế bào
có bất
thường
NST
Tỉ lệ tế
bào bất
thường
NST (%)
1h 91% 647 105 16,22
2h 90% 598 128 21,4
6h 3h 87% 571 127 22,24
4h 84% 507 133 26,2
5h 79% 470 121 25,7
Trung
bình
86,2% 22,35
1h 86,6% 657 114 17,35
2h 83% 536 123 22,94
12h 3h 82% 537 120 23,4
4h 81% 515 135 26,21
5h 78% 483 130 26,91
Trung
bình
82,12% 23,36
1h 78,6% 557 114 20,47
2h 73% 536 121 22,57
18h 3h 72% 517 123 23,8
4h 71% 514 135 26,26
5h 68% 463 120 25,92
Trung
bình
72,52% 23,79
45
Nguyễn Xuân Viết
Kết quả ở Bảng 2 cho thấy tỉ lệ nảy mầm của hạt xử lí nhiệt độ cao sau ngâm
là khá cao (80,28% ). Tỉ lệ nảy mầm trung bình cao nhất ở hạt ngâm 6h và xử lí
nhiệt 55◦C kéo dài trong 1h (đạt 91%). Thời gian ngâm hạt kéo dài (12h và 18h)
làm giảm tỉ lệ hạt nảy mầm. Ở hạt ngâm trong 18h, nhiều hạt đã nảy mầm ngay
trong thời giam ngâm. Các hạt nảy mầm như thế không thể dùng cho thí nghiệm
xử lí nhiệt độ cao. Thời gian xử lí nhiệt độ cao kéo dài cũng làm giảm tỉ lệ nảy mầm
của hạt.
Ảnh hưởng của xử lí nhiệt độ cao đối với hạt hành ngâm đến tần số tế bào
có bất thường nhiễm sắc thể trong nguyên phân ở chóp rễ là khá rõ. Tần số trung
bình này phát sinh ở hạt hành ngâm 6h là 22,35%, 12h là 23,35% và 18h là 23,79%.
Các dạng bất thường nhiễm sắc thể có thể quan sát thấy trong các tế bào
phân chia ở kì giữa và kì sau của quá trình phân bào nguyên phân của tế bào chóp
rễ mầm của hạt xử lí nhiệt độ 55◦C. Kết quả quan sát các dạng bất thường nhiễm
sắc thể và tần số xuất hiện các dạng bất thường NST trong tế bào chóp rễ của hạt
qua thời gian bảo quản và của hạt mới thu hoạch được trình bày trong Bảng 3.
Bảng 3. So sánh tần số tế bào có bất thường NST và bất thường
crômatit trong kì sau của nguyên phân của tế bào chóp rễ mầm mọc
từ hạt hành ngâm 12h và xử lí nhiệt 55◦C trong 2h
Mẫu thí
nghiệm
Số tế bào bất
thường đã
quan sát
Tế bào
bất thường
nhiễm sắc ở
kì giữa (%)
Tần số tế bào có bất thường
crômatit ở kì sau (%)
Cầu
crômatit
Đoạn
crômatit
Tổng
cộng
Hạt mua năm
2005
178 48,0 33,7 18,3 52,0
Hạt thu hoạch
tháng 10 năm
2007
123 28,2 47,6 24,2 71,8
Trong các tế bào có bất thường nhiễm sắc thể ở nguyên phân (Bảng 3), hạt đã
qua thời gian bảo quản dài, xuất hiện các bất thường hình thái và cấu trúc nhiễm
sắc thể với tần số cao hơn (48%) và dạng thường gặp là NST bị đứt tạo ra nhiều
đoạn quan sát thấy trong kì giữa (Hình 1c). Ngược lại, các bất thường nhiễm sắc
tử (crômatit) quan sát thấy nhiều hơn (71,8%) ở hạt hành chưa qua thời gian bảo
quản dài. Những biến dị sai hình nhiễm sắc tử quan sát thấy trong kì sau khá đa
dạng: dạng cầu đơn, cầu đôi, nhiều cầu; các đoạn nhiễm sắc hoặc nhiều cầu và đoạn
(Hình 2).
46
Hiệu quả xử lí nhiệt độ cao đến những bất thường nhiễm sắc thể...
Hình 1. NST kì giữa ở tế bào đỉnh rễ hành không xử lí nhiệt (a)
và một số bất thường NST trong nguyên phân với nhiều đoạn
thể nhiễm sắc (b và c)
Hình 2. Các dạng bất thường NST khác nhau quan sát thấy trong kì sau của
nguyên phân ở tế bào chóp rễ mọc từ hạt hành ngâm được xử lí nhiệt độ cao
a: Cầu đơn NST; b: Cầu đôi; c: Nhiều cầu; d: Kì sau có NST lạc (do tâm động bị tổn
thương); e. Đoạn và nhiều đoạn NST; f: Vòng đơn NST (mũi tên)
47
Nguyễn Xuân Viết
Kết quả nghiên cứu cho thấy tần số phát sinh các bất thường nhiễm sắc thể
trung bình trong tế bào chóp rễ của hạt hành ngâm được xử lí nhiệt độ là khá cao.
Tần số phát sinh tế bào có bất thường nhiễm sắc thể đạt cao hơn ở rễ của hạt hành
đã có thời gian bảo quản 3 năm (36.1%) so với ở hạt chưa trải qua thời gian bảo
quản dài (23,17%). Thời gian lưu giữ hạt và điều kiện bảo quản không tốt không
chỉ ảnh hưởng đến sinh lí nảy mầm, làm giảm tỉ lệ hạt nảy mầm, mà sự phát sinh
đột biến tự nhiên trong thời gian bảo quản có thể đã góp phần làm tăng tần số tế
bào có bất thường NST trong nguyên phân. Tần số bất thường nhiễm sắc thể trong
nguyên phân phát sinh ở rễ hạt ngâm 6h và hạt ngâm 12h là sai khác có ý nghĩa.
Tần số này đạt cao hơn ở hạt ngâm 12h và hạt ngâm 18h so với ở rễ của hạt ngâm
6h. Ở hạt ngâm 12h hoặc lâu hơn, tỉ lệ ngậm nước cao, sự chuyển hóa trong hạt
được thúc đẩy, khả năng mẫn cảm với nhiệt độ xử lí cao có thể là nguyên nhân làm
tăng tần số các bất thường nhiễm sắc thể. Thời gian xử lí nhiệt cũng ảnh hưởng rõ
rệt đến tần số phát sinh các bất thường NST. Tần số tế bào có bất thường NST
tương đối thấp quan sát thấy ở rễ mầm của hạt xử lí nhiệt độ 55◦C trong 1h. Thời
gian xử lí dài hơn (2h) có hiệu quả làm tăng tần số tế bào có bất thường NST.
Yamae (1976) đã báo cáo rằng sự gia tăng nhiệt độ nước ngâm hạt có hiệu quả làm
tăng tần số xuất hiện các đột biến soma ở lúa nước. Tần số tế bào phát sinh bất
thường NST (đứt, gẫy nhiễm sắc thể) cao hơn ở rễ thu từ hạt đã qua thời gian bảo
quản khá dài trước khi thí nghiệm so với ở hạt mới thu hoạch cho thấy các đột biến
đã xảy ra khá cao trong thời kì ngủ nghỉ của hạt khô. Các bất thường nhiễm sắc tử
phát sinh với tần số cao ở kì sau chủ yếu là do sự tác động của nhiệt độ lên NST
sau khi đã tái bản.
3. Kết luận
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kết hợp xử lí ngâm hạt (trong
khoảng 12h), thấm khô hạt và xử lí nhiệt độ cao (55◦C) trong khoảng 2h có hiệu
quả tạo ra và làm tăng cao tần số tế bào xuất hiện các bất thường NST trong phân
bào nguyên phân. Thời gian và chế độ bảo quản hạt giống, đặc biệt là độ ẩm và
nhiệt độ có thể làm giảm tỉ lệ nảy mầm của hạt và làm tăng tần số xuất hiện bất
thường NST trong nguyên phân.
Phân bào và các dạng đột biến về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể là những
nội dung kiến thức lí thuyết và thực hành quan trọng trong chương trình giảng dạy
Di truyền học và cơ sở chọn giống cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng
sư phạm ngành Sinh học cũng như thực hành ở các trường THPT. Trong các giáo
trình giảng dạy, vật liệu là rễ dùng để quan sát với nội dung thực hành chủ yếu
được tạo ra bằng chiếu xạ củ hành [1]. Việc sử dụng nguồn vật liệu chiếu xạ cho tần
48
Hiệu quả xử lí nhiệt độ cao đến những bất thường nhiễm sắc thể...
số và sai hình NST cao. Tuy nhiên, hầu hết các trường ở cách xa hoặc quá xa các
Trung tâm chiếu xạ nên không có điều kiện để có thể tiến hành xử lí chiếu xạ mẫu.
Với những trường ở gần Trung tâm chiếu xạ có thể tiến hành xử lí chiếu xạ mẫu,
song cũng cần có kinh phí cho chiếu xạ khá lớn. Thêm vào đó, vật liệu sau chiếu xạ
thường mọc rễ kém, nguồn rễ có tế bào mang đột biến cấu trúc NST cần thiết cho
thực hành rất hạn chế. Có lẽ vì thế, ở hầu hết các trường sư phạm không thể thực
hiện nội dung thực hành này. Kết quả trong nghiên cứu này có thể là một chỉ dẫn
lí thú và có hiệu quả để các trường có thể tạo nguồn rễ đột biến cho các bài thực
hành chỉ với những trang thiết bị đơn giản sẵn có ở các phòng thí nghiệm.
Từ khóa : Xử lí nhiệt độ cao, nguyên phân, tế bào chóp rễ, hành (Allium
fistulosum L.).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đặng Hữu Lanh, Nguyễn Minh Công, Lê Đình Trung, 1984. Thực hành Di truyền
học và Cơ sở chọn giống. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[2] Ngô Trực Nhã, 2001. Số lượng thể nhiễm sắc của các loài cây thuộc chi hành
tỏi (Allium) phổ biến ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Tạp chí Sinh học, số 23(3c), tr.
166-169.
[3] Nguyễn Minh Công, Đỗ Hữu Ất, Bùi Huy Thủy, 1999. Nghiên cứu chọn tạo
giống lúa tám thơm đột biến. Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số
5, tr. 210-215.
[4] ADragan, A. I. And S. N. Khrapunov, 1992. Study of the mutagenic effect of
laser radiation in Allium fistulosum. Tsitologya genetica 26(3):3 pp. 2-36. Kiev
State Univ. Kiev, Ukraine.
[5] Dragan, A. I. And S. N. Khrapunov, 1993. Mechanism of cytogenetics action
of laser radiation. Tsitologya genetica 27(6): pp. 20-24. Kiev State Univ. Kiev,
Ukraine.
[6] Flouris, C., P. Meletti and M. C. Anguilles, 1975. Respont to X-Rays of dormant
and non-dormant seed of Triticum durum Desf. Mutation Res. 28: pp. 63-67.
[7] L M Lazarenko, V F Bezrukov. Dynamics of the induced chromosomal instability
in welsh onion (Allium fistulosum L.): gamma irradiation of the seeds of different
storage periods.
[8] ToSitologiioai genetika. 40(4): pp. 6-31.
[9] Novik, I. J., 1974. The changes of karyotype in callus of Allium sativum L. Cary-
ologia 27: pp. 45-54.
[10] Sharma, A. K. And A. Sharma, 1994. Chromosome techniques - A manual.
Harwood Akaademic Publisher, India, Japan, Malaysia, Russia, Singapore, USA:
pp. 1-32.
49
Nguyễn Xuân Viết
ABSTRACT
Effect of high temperature on chromosome aberrations
at mitotic meta- and anaphase of Allium fistulosum L.
Effect of seed storage and exposure of pre-soaked seeds to dry treatment (55◦C)
on chromosome aberrations were examined. Stored seeds of Allium fistulosum L.
which was bought at markets and harvested in a field in Hanoi were used in the
present investigation. Chromosome aberrations at mitotic meta- and anaphase were
examined in the primary root tips of germinated seeds. The duration of pre-soaking
and of dry treatment effected germinated seed rate and frequency of mitotic chro-
mosome aberrated cells. High frequency of the cells with spontaneous chromosome
aberrations (mean 36.1%) and major abberation was fragmentations of chromosome-
type (48%) was observed in the stored seed. While in the newly havested seed, these
frequencies were 23.17% and 28.2% respectively. And the major abberation was the
chromosome bridge of the chromatid-type.
Dry treatment (55◦C) of pre-soaked seeds of Allium fistulosum using incubate
may only be induced in a rooted source with many chromosome abberations, which
is mutated materials for practical teaching of the mutation chromosome types.
50
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hieu_qua_xu_li_nhiet_do_cao_den_nhung_bat_thuong_nhiem_sac_t.pdf