Ảnh hưởng của thời gian đồng nuôi cấy đến hiệu quả tạo rễ tơ Lá Tía tô sau khi được tạo vết thương, ngâm trong dịch khuẩn 20 phút và đồng nuôi cấy trong các khoảng thời gian khác nhau (24, 48, 72 và 96 giờ). Kết quả (Bảng 6) cho thấy đồng nuôi cấy trong 72 giờ cho hiệu quả tạo rễ tơ tốt nhất (68,33 ± 3,51 % số mẫu lá tạo rễ tơ), còn đồng nuôi cấy trong 24 giờ cho hiệu quả tạo rễ tơ thấp nhất (6,33 ± 0,58 % số mẫu lá tạo rễ tơ). Các kết quả thu được chứng tỏ thời gian đồng nuôi cấy có ảnh hưởng đến hiệu quả tạo rễ tơ. Sự chuyển T-DNA từ Ri-plasmid vào tế bào thực vật sẽ không hiệu quả nếu thời gian đồng nuôi cấy ngắn (24 hoặc 48 giờ), ngược lại, đồng nuôi cấy quá dài (96 giờ trở lên) gây tác động ngược đến việc tạo rễ tơ do sự phát triển quá mức của vi khuẩn dẫn đến ức chế cạnh tranh34,35. Chứng minh sự hiện diện của gen chuyển Khi thực hiện phản ứng PCR cho DNA bộ gen rễ tơ (được cảm ứng từ lá Tía tô) với các primer đặc hiệu, kết quả PCR (Hình 4) cho thấy có sự hiện diện của gen rolB (423 bp) nhưng không có sự hiện diện của gen virG (1030 bp). Từ kết quả này, có thể kết luận rằng: T-DNA trong Ri-plasmid của A. rhizogenes ATCC 15834 đã chèn thành công vào bộ gen rễ tơ Tía tô.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hoạt tính kháng oxi hóa, kháng khuẩn của cao chiết ethanol từ cây tía tô (Perilla frutescens) và thử nghiệm cảm ứng tạo rễ tơ bằng chủng vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
Open Access Full Text Article
1PTN. Công nghệ Sinh học Phân tử,
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM
2Khoa Sinh học – Công nghệ sinh học,
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM
Liên hệ
Quách Ngô Diễm Phương, Khoa Sinh học –
Công nghệ sinh học, Trường ĐH Khoa học Tự
nhiên, ĐHQG-HCM
PTN. Công nghệ Sinh học Phân tử, Trường
ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
Email: qndphuong@hcmus.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 2020-05-28
Ngày chấp nhận: 2020-12-21
Ngày đăng: 2021-1-28
DOI : 10.32508/stdjns.v5i1.917
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Hoạt tính kháng oxi hóa, kháng khuẩn của cao chiết ethanol từ cây
tía tô (Perilla frutescens) và thử nghiệm cảm ứng tạo rễ tơ bằng
chủng vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes
Trà Đông Phương1,2, Lê Thị Mộng Vương2, Quách Ngô Diễm Phương1,2,*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Tía tô (Perilla frutescens) – một loài thực vật thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) – được sử dụng phổ
biến trong y học cổ truyền để chữa nhiều loại bệnh thường gặp (cảm lạnh, đau đầu, ho, đầy bụng,
chướng bụng, ngộ độc, ) do chứa nhiều hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học. Khi tiến hành
điều chế cao ethanol từ các cơ quan rễ, thân và lá rồi khảo sát khả năng kháng oxi hóa bằngphương
pháp bắt gốc tự do DPPH và khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp đục lỗ thạch, kết quả cho
thấy cao chiết ethanol từ các cơ quan cây Tía tô đều có hoạt tính kháng oxi hóa và kháng khuẩn.
Bằng các phản ứng đặc trưng, tất cả cao chiết ethanol từ rễ, thân và lá Tía tô đều có chứa các nhóm
phenol, flavonoid, saponin, alkaloid và glycoside, nhưng triterpenoid chỉ có ở lá. Các hợp chất thứ
cấp này có liên quan đến hoạt tính kháng oxi hóa và kháng khuẩn của cây Tía tô. Bên cạnh đó,
khi thử nghiệm khả năng cảm ứng tạo rễ tơ bằng chủng vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes ATCC
15834 trên các cơ quan cây Tía tô thì lá là cơ quan tạo rễ tơ tốt nhất (67,67 3,51% số mẫu cảm
ứng tạo rễ tơ). Hiệu quả tạo rễ tơ ở lá cao nhất với thời gian ngâm mẫu 20 phút và đồng nuôi cấy
trong 72 giờ. Các kết quả này là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo liên quan đến nuôi cấy rễ tơ
để thu nhận các hợp chất có hoạt tính sinh học.
Từ khoá: Hợp chất thứ cấp, kháng khuẩn, kháng oxi hóa, rễ tơ, Tía tô
TỔNGQUAN
Tía tô (Perilla frutescens) là một loài thực vật thuộc
họ Hoa môi (Lamiaceae). Tía tô được trồng chủ yếu
ở các nước châu Á từ hơn 2000 năm về trước và là
một trongnhững loài cây trồng quan trọng trongnông
nghiệp 1,2. Ngoài việc dùng Tía tô như là một loại
thực phẩm thông thường, Tía tô còn được sử dụng
như là một loại thuốc trong y học cổ truyền châu Á
để chữa nhiều loại bệnh thường gặp (cảm lạnh, đau
đầu, ho, đầy bụng, chướng bụng, ngộ độc, ) do nó
chứa nhiều hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học 3.
Tại Việt Nam, cây Tía tô cũng hiện đang được tập
trung nghiên cứu để phát hiện các hợp chất thứ cấp
và các hoạt tính sinh học tiềm năng4–6, nhưng có sự
khác nhau về hoạt tính sinh học lẫn hợp chất thứ cấp
được tích lũy trong Tía tô khi trồng tại những khu
vực địa lý khác nhau. Do đó, nghiên cứu này nhằm
mục đích xác định hoạt tính kháng oxi hóa và kháng
khuẩn của cao chiết ethanol từ cây Tía tô được trồng
tại huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Đồng thời, nghiên
cứu này cũng thử nghiệm cảm ứng tạo rễ tơ Tía tô
với chủng vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes ATCC
15834 nhằm tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp
theo trong lĩnh vực nuôi cấy rễ tơ Tía tô để thu nhận
hợp chất thứ cấp có giá trị.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu sinh học
Hạt giống Tía tô được mua từ công ty TNHH TM
Trang Nông. Cây Tía tô 3 tháng tuổi (trồng tại thị
trấn PhúThứ, huyện TâyHòa, tỉnh Phú Yên) được thu
hoạch vào buổi sáng để điều chế cao chiết ethanol.
Các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus, Bacil-
lus subtilis, Acetobacterium sp., Streptococus sp.,
Salmonella typhi, Escherichia coli và Pseudomonas
aeruginosa do phòng thí nghiệm Vi sinh (khoa Sinh
học – Công nghệ Sinh học, trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, ĐHQG – HCM) cung cấp.
Chủng Agrobacterium rhizogenes ATCC 15834 được
mua từ ngân hàng RIKEN-BRC thông qua dự án
MEXT Nhật Bản.
Môi trường và điều kiện nuôi cấy
Môi trường Luria-Bertani (LB) có pH 7,0 0,1 dùng
để nuôi cấy các chủng vi khuẩn S. aureus, B. subtilis,
Acetobacterium sp., Streptococus sp., S. typhi, E. coli
và P. aeruginosa. Môi trường Yeast Mannitol Broth
(YMB) có pH 7,0 0,1 dùng để nuôi cấy vi khuẩn A.
rhizogenes ATCC 15834. Môi trường Murashige and
Skoog (MS) bổ sung đường sucrose 30 g/L, agar 8 g/L
Trích dẫn bài báo này: Phương T D, Vương L T M, Phương Q N D. Hoạt tính kháng oxi hóa, kháng khuẩn
của cao chiết ethanol từ cây tía tô (Perilla frutescens) và thử nghiệm cảm ứng tạo rễ tơ bằng chủng
vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes. Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 5(1):975-983.
975
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
và pH 5,80 0,05 dùng cho nuôi cấy mô cây Tía tô.
Tất cả các môi trường đều được hấp khử trùng trong
15 phút bằng nồi hấp ở nhiệt độ 121oC, 1 atm.
Các chủng vi khuẩn được tăng sinh trong các môi
trường lỏng thích hợp trên máy lắc ở 37oC, tốc độ lắc
130 vòng/phút và không có ánh sáng. Các mẫu mô
thực vật được nuôi trong phòng nuôi cấy ở nhiệt độ
25oC.
Phương pháp điều chế cao chiết ethanol
Phương pháp điều chế cao chiết ethanol được thực
hiện theo Basri và Fan (2005)7, nhưng có một số thay
đổi. Mỗi cơ quan rễ, thân và lá Tía tô sau khi thu
hoạch được sấy khô ở 37oC cho đến khi trọng lượng
không thay đổi. Sau đó, 500 gam bột khô của mỗi
cơ quan được ngâm chìm trong 2 lít ethanol ở nhiệt
độ phòng. Sau 48 giờ ngâm, dịch chiết của mỗi cơ
quan được lọc qua giấy lọc Whatman. Phần bã thực
vật còn lại tiếp tục sử dụng cho 5 lần chiết kế tiếp, mỗi
lần chiết sử dụng 1 lít ethanol và ngâm trong 48 giờ.
Toàn bộ dịch chiết thu được sau mỗi lần chiết được
cô đặc lại bằng thiết bị cô quay chân không ở 50oC,
thu được cao chiết ethanol (cao chiết thô). Cao chiết
ethanol củamỗi cơ quan được làm khô trong tủHood
(ở nhiệt độ phòng) cho đến khi đạt khối lượng không
đổi.
Phương phápDPPH
Hoạt tính kháng oxi hóa của cao chiết ethanol được
đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp DPPH
(2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl hydrate) của Brand-
Williams và cộng sự 8, nhưng cómột số biến đổi. Hoà
0,5 mL cao chiết ethanol ở các nồng độ khác nhau
(mg/mL) vào 3,5 mL dung dịch DPPH 0,09 mM (pha
trong ethanol). Ethanol và vitamin C tương ứng được
sử dụng như là chứng âm và chứng dương của phản
ứng. Dung dịch được giữ trong điều kiện tối 30 phút,
ở nhiệt độ phòng. Sau đó, độ hấp thụ của dung dịch
được đo ở bước sóng 517 nm. Hoạt tính kháng oxi
hóa được biểu thị bằng % ức chế DPPH theo công
thức [(Ao – Am)/Ao]100%, trong đó Ao là độ hấp
thụ của mẫu chứng âm và Am là độ hấp thụ của mẫu
thử nghiệm.
Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng
khuẩn
Phương pháp đục lỗ thạch9 được sử dụng để khảo
sát hoạt tính kháng khuẩn (kháng S. aureus, B. sub-
tilis, Acetobacterium sp., Streptococus sp., S. typhi, E.
coli và P. aeruginosa) của các cao chiết ethanol từ cây
Tía tô. Môi trường LB-agar (LB bổ sung 15 gam agar,
pH 7,0 0,1) được chuẩn bị trong các đĩa vô trùng
cho thử nghiệm này. Dịch khuẩn được hoạt hóa trong
môi trường LB lỏng qua đêm, rồi được điều chỉnh độ
đục sao cho giá trị OD620 = 0,10 0,01 (tương đương
108 tế bào vi khuẩn/mL). Vi khuẩn được trải đều trên
bề mặt đĩa môi trường (100 m l/đĩa) trước khi đục lỗ
thạch bằng cách sử dụng que trải vô trùng. Cao chiết
ethanol của từng cơ quan (rễ, thân và lá) cây Tía tô
được pha trong DMSO 10% để đạt đến nồng độ 6
mg/mL. Sau đó, 50 m l cao chiết này được thêm vào
mỗi lỗ thạch (mỗi lỗ thạch có đường kính 9 mm và
cách nhau ít nhất 30 mm). Sau 24 giờ khảo sát (ở
37oC, trong điều kiện hiếu khí), khả năng ức chế sự
phát triển của vi khuẩn được ghi nhận bằng cách đo
đường kính vòng vô khuẩn (lấy đường kính vòng vô
khuẩn đo được trên đĩa trừ đi đường kính lỗ thạch)
theo đơn vị mm. Chloramphenicol (1 mg/mL) và
DMSO 10% tương ứng được sử dụng như là chứng
dương và chứng âm cho thử nghiệm.
Phương pháp định tính các hợp chất thứ cấp
Định tính phenol10 : cao chiết ethanol được trộn với
2 mL dung dịch FeCl3 2%. Sự xuất hiện màu xanh
lamhoặc đen trong dung dịch cho thấy có phenol hiện
trong mẫu.
Định tính flavonoid10 :
Tác dụng với H2SO4 đậm đặc: nhỏ từ từ 0,5 mL
H2SO4 đậmđặc vào 1mLdungdịch cao chiết ethanol.
Nếu dung dịch xuất hiệnmàu vàng đậm, cam, đỏ xanh
hoặc đỏ sậm thì trong mẫu có chứa flavonoid.
Tác dụng với tác nhân kiềm: cao chiết ethanol được
hòa tan trong 2 mL dung dịch NaOH 2%. Màu vàng
xuất hiện trong dung dịch sau đó trở thành không
màu khi thêm vài giọt acid loãng chứng tỏ có sự hiện
hiện của flavonoid trong mẫu.
Định tính saponin10 : cao chiết ethanol được trộn với
5 mL dung dịch HCl 0,1 N hoặc NaOH 0,1 N, rồi lắc
mạnh. Sự hình thành cột bọt bền là một dấu hiệu cho
thấy có sự hiện diện của saponin trong mẫu.
Định tính steroid – triterpenoid 10 :
Phản ứng Rosenhein: hòa 0,2 mL acid tricloroacetic
vào 1 mL dung dịch cao chiết ethanol rồi quan sát
trong 20 phút. Phản ứng dương tính (có saponin
triterpenoid) khi dung dịch chuyển sang màu xanh
dương.
Định tính alkaloid10 : và 2 gamKI trong 100mLnước
cất). Sự xuất hiện của các kết tủa màu nâu lơ lửng
chứng minh sự hiện diện của alkaloid trong mẫu thử.
Định tính glycoside10 :
Phản ứng Salkowski: cao chiết ethanol được trộn với
2 mL chloroform, sau đó, 2 mL H2SO4 đậm đặc được
thêm vào từ từ rồi lắc nhẹ. Màu đỏ gạch hoặc nâu
xuất hiện trong dung dịch cho thấy có sự hiện diện
của vòng steroid, là phần aglycone của glycoside.
976
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
Phản ứng với thuốc thử Molisch: cao chiết ethanol
được trộn với 1 mL H2SO4 đậm đặc và 0,5 mL dung
dịch thuốc thử Molisch (a-napthol 1% hoặc resorci-
nol 5%, trong dung môi ethanol 80%). Sự xuất hiện
một vòng màu tím hoặc đỏ ở mặt phân cách giữa hai
dung dịch chứng tỏ trongmẫu thử có sự hiện diện của
đường aldose hoặc ketose.
Phương pháp khử trùng hạt tạo cây con in
vitro
Hạt cây Tía tô được rửa sạch bằng nước xà phòng
trong 30 phút, rồi lần lượt được khử trùng bằng
ethanol 70% trong 1,5 phút và nước Javel 20% trong
15 phút. Sau khi khử trùng bềmặt, hạt Tía tô được rửa
sạch 5 lần bằng nước cất (đã được hấp khử trùng), cấy
trải hạt trên môi trường MS và cho nảy mầm trong
phòng nuôi cấy (cường độ ánh sáng 2500 lux, chiếu
sáng 16 giờ/ngày).
Phương pháp cảmứng tạo rễ tơ
Cây Tía tô in vitro sau 45 5 ngày nảy mầm được
tách riêng từng cơ quan (rễ, thân và lá), tạo vết thương
trên mẫu mô bằng dao cấy, rồi nhúng vào dịch khuẩn
A. rhizogenes ATCC 15834 (dịch khuẩn được chuẩn
bị bằng cách tăng sinh vi khuẩn A. rhizogenes ATCC
15834 trong môi trường YMB lỏng lắc cho đến khi
giá trị OD600 của dịch khuẩn đạt 0,50 0,05) trong
một khoảng thời gian thích hợp. Sau đó, các mẫu mô
được thấmbớt dịch khuẩn bằng giấy thấm vô trùng và
được đồng nuôi cấy trênmôi trườngMS (không chiếu
sáng) trong một khoảng thời gian thích hợp. Sau thời
kỳ đồng nuôi cấy, các mẫu mô sẽ được cấy chuyền
sang môi trường MS mới (có bổ sung 250 mg/L ce-
fotaxime) để loại bỏ vi khuẩn11. Các rễ mọc ra từ vị
trí vết thương được giả định là rễ tơ.
Phần trăm số mẫu tạo rễ tơ (%) = ((Số mẫu tạo rễ
tơ)/(Tổng số mẫu xâm nhiễm))x100%
Phương pháp PCR phát hiện gen chuyển
Rễ tơ giả định được thu nhận để tách DNA bộ gen
theo phương pháp CTAB của Doyle & Doyle12. Mỗi
phản ứng PCR có thể tích 25 m l (gồm 1U Taq poly-
merase, 0,5 mM primer, 2 m l DNA và dung dịch đệm
1X cho phản ứng PCR) được thiết lập để phát hiện
các gen rolB và virG với trình tự primer được liệt kê ở
Bảng 1.
Phản ứng PCR được thực hiện gồm các giai đoạn: 1
giai đoạn biến tính ban đầu (95oC trong 5 phút), 35
chu kỳ lặp lại (mỗi chu kỳ có 3 bước: 94oC trong 0,5
phút, 54oC trong 0,5 phút và 72oC trong 1 phút) và 1
giai đoạn kéo dài sau cùng (72oC trong 5 phút). Sản
phẩm thu được sau khi kết thúc phản ứng PCR được
phân tích trên gel agarose 1% (w/v). Bảng gel sau khi
điện di được nhuộm với ethidium bromide rồi được
soi trên bàn đèn UV để phát hiện sự hiện diện của
phân đoạn DNA mục tiêu.
Phương pháp xử lý số liệu thống kê
Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần (với số mẫu từ 30
đến 35 mẫu cho mỗi lần lặp lại). Kết quả được xử lý
thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0 (phân nhóm các
giá trị bằng phương pháp Duncan với độ tin cậy là
95%) và được trình bày dưới dạng Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn. Đồ thị được vẽ bằng phần mềm
Microsoft Excel 2016.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Hoạt tính kháng oxi hóa của cao chiết
ethanol từ các cơ quan cây Tía tô
Hoạt tính kháng oxi hóa của cao chiết ethanol từ các
cơ quan rễ, thân và lá Tía tô được đánh giá bằng
phương pháp DPPH. Kết quả thu được (Hình 1) cho
thấy giá trị IC50 ở cao chiết ethanol của thân (3,30
0,30 mg/mL) cao hơn cao chiết ethanol của rễ (2,16
0,16 mg/ml) và lá (1,30 0,63 mg/mL), điều này
chứng tỏ các hợp chất chiết bởi dung môi ethanol từ
lá và rễ cây Tía tô có hoạt tính kháng oxi hóa cao hơn
so với các hợp chất chiết từ thân.
Tía tô là loài thực vật phổ biến ở Việt Nam và châu Á.
Các nghiên cứu cho thấy Tía tô là một nguồn nguyên
liệu tự nhiên chứa nhiều chất chống oxy hóa13–15. Li
và cộng sự (2014) chứng minh cao chiết ethanol từ lá
Tía tô có khả năng bắt gốc tự doDPPH với giá trị IC50
= 0,1482 mg/mL16. Trong khi đó, cao chiết methanol
của thân và lá Tía tô cũng có khả năng bắt gốc tự do
DPPH với giá trị IC50 tương ứng là 5,92 mg/mL và
7,97 mg/mL17. Các kết quả kháng oxi hóa (ở các công
trình đã đề cập và trong nghiên cứu này) cho thấy hoạt
tính kháng oxi hóa của Tía tô phụ thuộc vào các hợp
chất thứ cấp được tích lũy khi được trồng ở các vùng
địa lý khác nhau và loại dung môi dùng để chiết.
Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết
ethanol từ các cơ quan cây Tía tô
Cao chiết ethanol từ các cơ quan Tía tô cũng được thử
nghiệm hoạt tính kháng khuẩn bằng phương pháp
đục lỗ thạch. Kết quả cho thấy các loại cao chiết
ethanol từ các cơ quan Tía tô đều có khả năng kháng
khuẩn (Bảng 2 vàHình 2), với đường kính vòng kháng
khuẩn dao động từ khoảng 3,33 mm đến 7,50 mm.
Cao chiết lá Tía tô có khả năng kháng khuẩn thấp
hơn (đối với S. aureus và Streptococus sp.) hoặc bằng
(B. subtilis, Acetobacterium sp., S. typhi, E. coli và P.
aeruginosa) so với thân và rễ. Tính kháng S. aureus
977
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
Bảng 1: Trình tự primer dùng để phát hiện các gen rolB và virG
Gen Tên primer Trình tự primer (5’! 3’)
rolB rolB F GCT CTT GCA GTG CTA GAT TT
rolB R GAA GGT GCA AGC TAC CTC TC
virG virG F TTA TCT GAG TGA AGT CGT CTC
virG R CGT CGC CTG AGA TTA AGT GTC
Hình1: Khảnăngbắt gốc tựdoDPPH (giá trị IC50)
của cao chiết ethanol từ các cơquan rễ, thânvà lá
Tía tô. Ký hiệu a, b và c thể hiện sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê ở mức a = 0,05 giữa các loại cao
chiết ethanol trong cùngmột nhóm thí nghiệm.
của cao chiết từ rễ và thân cao hơn đáng kể so với lá,
còn tính kháng Streptococus sp. của cao chiết từ rễ lại
cao hơn đáng kể so với các cơ quan còn lại. Dungmôi
DMSO 10% được sử dụng để hòa tan cao chiết luôn
cho kết quả âm tính (không xuất hiện vòng kháng
khuẩn), cho thấy dungmôi này không ảnh hưởng đến
hoạt tính kháng khuẩn của các cao chiết được thử
nghiệm.
Một số nghiên cứu trước đây cũng cho thấy Tía tô có
hoạt tính kháng khuẩn. Kim và cộng sự (2007) nhận
thấy cao chiết ethanol từ lá Tía tô có hoạt tính kháng
S. aureus, B. subtilis và P. aeruginosa, nhưng không có
khả năng kháng E. coli18. Cao chiết ethanol cũng thể
hiện hoạt tính kháng khuẩn yếu đối với Aeromonas
hydrophila và Edwardsiella ictaluri19. Như vậy, tùy
thuộc vào loài vi khuẩn mà cao chiết Tía tô thể hiện
hoạt tính kháng khuẩn khác nhau.
Sự hiện diện của các hợp chất thứ cấp trong
cao chiết ethanol từ các cơ quan cây Tía tô
Cao chiết ethanol từ các cơ quan cây Tía tô được phân
tích định tính các hợp chất, kết quả cho thấy ở tất cả
các cao chiết đều có chứa phenol, flavonoid, saponin,
glycoside và alkaloid, nhưng triterpenoid chỉ có ở lá
(Bảng 3). Thông thường, các hợp chất thứ cấp này
được biết là có hoạt tính sinh học để bảo vệ cơ thể
thực vật chống chịu các stress sinhhọc và phi sinhhọc.
Hoạt tính kháng oxi hóa của lá Tía tô cao hơn các cơ
quan còn lại có thể là do sự đóng góp của triterpenoid
hiện diện trong lá (nhưng không có ở thân và rễ).
Trong các nghiên cứu in vitro, phenol, flavonoid,
saponin, triterpenoid và alkaloid đã được báo cáo là
có hoạt tính kháng oxi hóa và kháng khuẩn20,21. Hoạt
tính chống oxi hóa là do các chất này có khả năng cho
nguyên tử hidro, electron hoặc tạo phức với các ion
kim loại22–24, ngoài ra, chúng có khả năng làm thay
đổi tính thấm của màng tế bào hoặc liên kết với các
enzyme để làm thay đổi một số chức năng nội bào
ở vi sinh vật, do đó, chúng cũng có hoạt tính kháng
khuẩn25–27. Như vậy, sự hiện diện của các hợp chất
thứ cấp trong cao chiết ethanol đã tạo nên hoạt tính
kháng oxi hóa và kháng khuẩn in vitro.
Ảnh hưởng của các loại cơ quan khác nhau
đến hiệu quả tạo rễ tơ ở Tía tô
Một cách thức mới để tăng cường sản xuất các hợp
chất thứ cấp trong nuôi cấy mô và tế bào thực vật là
sử dụng A. rhizogenes để cảm ứng tạo rễ tơ trên thực
vật. Rễ tơ –một sản phẩm chuyển gen tự nhiên bởiA.
rhizogenes – có khả năng tăng trưởng không giới hạn
trong môi trường nuôi cấy mà không cần chất điều
hòa sinh trưởng thực vật và có thể sản xuất hợp chất
thứ cấp tương đương hoặc thậm chí lớn hơn cả cây
mẹ28,29. Do đó, bước tiếp theo của nghiên cứu này
đã tiến hành cảm ứng tạo rễ tơ Tía tô bằng chủng vi
khuẩnA. rhizogenesATCC 15834 trên các cơ quan rễ,
thân và lá Tía tô (ngâmmẫu 20 phút và đồng nuôi cấy
72 giờ). Kết quả cho thấy tất cả các cơ quan rễ, thân
và lá đều có thể cảm ứng tạo rễ tơ (Bảng 4 và Hình 3),
trong đó lá là cơ quan có khả năng tạo rễ tơ cao nhất
(67,67 3,51% số mẫu cảm ứng tạo rễ tơ). Hiệu quả
tạo rễ tơ có sự phụ thuộc vào cơ quanmàA. rhizogenes
xâm nhiễm, trong đó lá là cơ quan có hiệu quả xâm
nhiễm cao nhất30–32. Do đó, lá Tía tô được sử dụng
để làm vật liệu cho các thí nghiệm kế tiếp.
Ảnh hưởng của thời gian ngâm mẫu trong
dịch khuẩn A. rhizogenes ATCC 15834 đến
hiệu quả tạo rễ tơ
Lá Tía tô được ngâm trong dịch khuẩn A. rhizogenes
ATCC 15834 trong các khoảng thời gian khác nhau
978
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
Bảng 2: Đường kính vòng kháng khuẩn của cao chiết ethanol từ các cơ quan rễ, thân và lá cây Tía tô
Đường kính vòng kháng khuẩn (mm)
Chứng
âm
Chứng dương Cao chiết ethanol của rễ Cao chiết ethanol của thân Cao chiết ethanol của lá
– 26,83 0,58 7,33 0,29a 6,67 0,29a 5,67 0,76b
– 25,17 1,53 6,17 0,58a 4,83 0,29a 5,50 0,20a
– 22,50 0,87 4,33 1,53a 3,33 1,53a 3,50 0,50a
– 25,33 0,58 7,50 1,00a 5,00 1,32b 5,00 0,87b
– 22,50 1,00 4,83 0,76a 4,00 0,50a 4,83 1,04a
– 21,83 0,76 4,17 1,26a 3,83 1,26a 4,33 1,44a
– 22,67 1,53 3,83 2,36a 4,17 1,61a 4,17 0,58a
Ghi chú: ký hiệu a và b thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức a = 0,05 giữa các loại cao chiết ethanol trong cùng một nhóm thí
nghiệm.
Hình 2: Khả năng kháng khuẩn của cao chiết từ rễ (R), thân (T) và lá (L) Tía tô với các loài vi khuẩn S. aureus (A), B.
subtilis (B), Acetobacterium sp. (C), Streptococus sp. (D), S. typhi (E), E. coli (F) và P. aeruginosa (G) khi được khảo
sát bằng phương pháp đục lỗ thạch. Chloramphenicol là đối chứng dương (+) và DMSO 10% là đối chứng âm (–).
Thước đơn vị (thanh ngang màu trắng): 1 cm.
Bảng 3: Một số hợp chất có trong cao chiết ethanol từ các cơ quan rễ, thân và lá cây Tía tô
Cao chiết ethanol của
rễ
Cao chiết ethanol của thân Cao chiết ethanol của lá
Phenol + + +
Flavonoid + + +
Saponin + + +
Triterpenoid – – +
Alkaloid + + +
Glycoside + + +
Ghi chú: ký hiệu “+” hoặc “–” tương ứng thể hiện phản ứng dương tính hoặc âm tính với thuốc thử
979
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
Bảng 4: Tỷ lệ mẫu tạo rễ tơ ở các cơ quan rễ, thân và lá Tía tô khi được cảm ứng bằng Agrobacterium rhizogenes
ATCC 15834
Cơ quan Rễ Thân Lá
Tỉ lệ mẫu tạo rễ tơ (%) 30,33 4,51c 53,33 3,06b 67,67 3,51a
Ghi chú: ký hiệu a, b và c thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức a = 0,05 giữa các nghiệm thức trong cùng một nhóm thí nghiệm.
Hình 3: Sự tạo rễ tơ trên các cơ quan lá (A), thân (B) và rễ (C) Tía tô khi được cảm ứng bởi Agrobacterium rhizogenes
ATCC 15834
Bảng 5: Phần trăm sốmẫu lá tạo rễ tơ khi được xử lý với vi khuẩn A. rhizogenes ATCC 15834 ở những khoảng
thời gian khác nhau
Thời gian ngâmmẫu (phút) 10 20 30
Tỉ lệ mẫu tạo rễ tơ (%) 6,67 1,15c 68,00 3,00a 22,67 1,53b
Ghi chú: ký hiệu a, b và c thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức a = 0,05 giữa các nghiệm thức trong cùng một nhóm thí nghiệm.
(10, 20 và 30 phút) và đồng nuôi cấy 72 giờ. Kết quả
(Bảng 5) cho thấy khi ngâm mẫu 20 phút trong dịch
khuẩn thì hiệu quả tạo rễ tơ tốt nhất (68,00 3,00 %
số mẫu lá tạo rễ tơ). Khi ngâm mẫu vào dịch khuẩn,
các tín hiệu giải phóng từ vị trí vết thương trênmẫu lá
giúp kích hoạt gen vir trong Ri-plasmid của vi khuẩn
A. rhizogenes ATCC 15834, tạo điều kiện cho sự bám
của vi khuẩn lên vết thương ở mẫu lá Tía tô33. Kết
quả nghiên cứu cho thấy 20 phút là thời gian tốt nhất
để ngâmmẫu lá Tía tô trong dịch khuẩnA. rhizogenes
ATCC 15834.
Ảnhhưởng của thời gian đồngnuôi cấy đến
hiệu quả tạo rễ tơ
Lá Tía tô sau khi được tạo vết thương, ngâm trong
dịch khuẩn 20 phút và đồngnuôi cấy trong các khoảng
thời gian khác nhau (24, 48, 72 và 96 giờ). Kết quả
(Bảng 6) cho thấy đồng nuôi cấy trong 72 giờ cho hiệu
quả tạo rễ tơ tốt nhất (68,33 3,51 % số mẫu lá tạo rễ
tơ), còn đồng nuôi cấy trong 24 giờ cho hiệu quả tạo rễ
tơ thấp nhất (6,33 0,58 % số mẫu lá tạo rễ tơ). Các
kết quả thu được chứng tỏ thời gian đồng nuôi cấy có
ảnh hưởng đến hiệu quả tạo rễ tơ. Sự chuyển T-DNA
từ Ri-plasmid vào tế bào thực vật sẽ không hiệu quả
nếu thời gian đồng nuôi cấy ngắn (24 hoặc 48 giờ),
ngược lại, đồng nuôi cấy quá dài (96 giờ trở lên) gây
tác động ngược đến việc tạo rễ tơ do sự phát triển quá
mức của vi khuẩn dẫn đến ức chế cạnh tranh 34,35.
Chứngminh sự hiện diện của gen chuyển
Khi thực hiện phản ứng PCR cho DNA bộ gen rễ
tơ (được cảm ứng từ lá Tía tô) với các primer đặc
hiệu, kết quả PCR (Hình 4) cho thấy có sự hiện diện
của gen rolB (423 bp) nhưng không có sự hiện diện
của gen virG (1030 bp). Từ kết quả này, có thể kết
luận rằng: T-DNA trong Ri-plasmid củaA. rhizogenes
ATCC 15834 đã chèn thành công vào bộ gen rễ tơ Tía
tô.
KẾT LUẬN
Từ các kết quả thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy cao
chiết ethanol từ các cơ quan cây Tía tô có hoạt tính
kháng oxi hóa và hoạt tính kháng khuẩn. Đồng thời,
các cao chiết ethanol này đều chứa phenol, flavonoid,
glycoside, saponin và alkaloid khi được định tính
bằng các phản ứng đặc trưng, nhưng triterpenoid chỉ
có ở lá. Bên cạnh đó, các cơ quan rễ, thân và lá Tía
tô đều có thể tạo rễ tơ khi được cảm ứng bởi A. rhi-
zogenes ATCC 15834, trong đó lá là cơ quan tạo rễ tơ
tốt nhất. Ngâm mẫu 20 phút và đồng nuôi cấy 72 giờ
980
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
Bảng 6: Phần trăm sốmẫu lá rễ tơ khi được đồng nuôi cấy trong những khoảng thời gian khác nhau
Thời gian đồng nuôi cấy (giờ) 24 48 72 96
Tỉ lệ mẫu tạo rễ tơ (%) 6,33 0,58d 17,33 2,31c 68,33 3,51a 50,33 6,81b
Ghi chú: ký hiệu a, b, c và d thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức a = 0,05 giữa các nghiệm thức trong cùng một nhóm thí nghiệm.
Hình 4: Kết quả PCR sử dụng primer đặc hiện cho
gen rolB (423 bp) và virG (1030 bp), trong đó: “–” là
đối chứng âm, “+” là đối chứngdươngvà “L” là thang
chuẩn 100 bp plus
cho hiệu quả tạo rễ tơ tốt nhất ở lá. Bằng primer đặc
hiệu cho gen rol B ở phản ứng PCR, nghiên cứu này
đã chứng minh gen rol B chèn thành công vào bộ gen
rễ tơ Tía tô. Các kết quả này sẽ làm tiền đề cho các
nghiên cứu tiếp theo trong việc ứng dụng công nghệ
nuôi cấy rễ tơ nhằm sản xuất hợp chất thứ cấp có giá
trị.
DANHMỤC TỪ VIẾT TẮT
CTAB : Cetyl trimethylammonium bromide
DMSO : Dimethyl sulfoxide
DPPH : 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl hydrate
LB : Lysogeny broth
MS : Murashige and Skoog
PCR : Polemerase chain reaction
YMB : Yeast mannitol broth
XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Các tác giả tuyên bố rằng họ không có sự xung đột lợi
ích trong nghiên cứu.
LỜI CẢMƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi TrườngĐại họcKhoa
học Tự nhiên, ĐHQG-HCM trong khuôn khổ đề tài
cấp Trường mã số T2017-46.
ĐÓNGGÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Trà Đông Phương đóng góp vào việc thu thập số liệu
về hoạt tính kháng oxi hóa, kháng khuẩn và viết bản
thảo bài báo. Lê Thị Mộng Vương đóng góp vào việc
thu thập số liệu về hoạt tính kháng oxi hóa, kháng
khuẩn, định tính hợp chất thứ cấp và cảm ứng tạo rễ
tơ. Quách Ngô Diễm Phương đóng góp vào việc thu
thập các số liệu cảm ứng tạo rễ tơ và góp ý chỉnh sửa
bản thảo bài báo.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. Lee JK, Kim NS. Genetic diversity and relationships of cul-
tivated and weedy types of Perilla frutescens collected from
East Asia revealed by microsatellite markers. Korean J. Breed.
Sci. 2007;39(4):491–499.
2. Lee JK, Ohnishi O. Geographic differentiation of morpholog-
ical characters among Perilla crops and their weedy types in
East Asia. Breeding science. 2001;51(4):247–255. Available
from: https://doi.org/10.1270/jsbbs.51.247.
3. Ahmed HM. Ethnomedicinal, Phytochemical and Pharmaco-
logical Investigations of Perilla frutescens (L.) Britt. Molecules.
2019;24(1):102. PMID: 30597896. Available from: https://doi.
org/10.3390/molecules24010102.
4. Thu DK. Tác dụng ức chế enzym xanthin oxidase và hạ acid
uric máu của dịch chiết lá tía tô (Perilla frutescens L.). Tạp chí
Dược học. 2018;57(11):65–67.
5. Trinh HN, et al. Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính
chống oxy hóa in vitro của các cao chiết từ lá tía tô thu hái tại
các địa điểm khác nhau. Tạp chí Dược học. 2019;59(5):47–51.
6. Vân HTK, et al. Nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát
hoạt tính sinh học của tinh dầu tía tô (Perilla frutescens (L.)
Britt). Tạp chí Dược học. 2019;59(9):65–68.
7. Basri DF, Fan SH. The potential of aqueous and acetone ex-
tracts of galls of Quercus infectoria as antibacterial agents. In-
dian journal of Pharmacology. 2005;37(1):26. Available from:
https://doi.org/10.4103/0253-7613.13851.
8. Brand-Williams W, et al. Use of a free radical method to eval-
uate antioxidant activity. LWT-Food science and Technology.
1995;28(1):25–30. Available from: https://doi.org/10.1016/
S0023-6438(95)80008-5.
9. Hufford CD, et al. Two antimicrobial alkaloids from heart-
wood of Liriodendron tulipifera L. Journal of pharmaceutical
sciences. 1975;64(5):789–792. PMID: 807704. Available from:
https://doi.org/10.1002/jps.2600640512.
10. Phụng MKP. Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ. NXB Đại
học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 2007;.
11. Tra PD, et al. Induction of Platycodon grandiflorum hairy
roots through the mediation of four Agrobacterium rhizo-
genes strains. Science and Technology Development Journal.
2016;19(4):64–75. Available from: https://doi.org/10.32508/
stdj.v19i4.624.
12. Doyle JJ, Doyle JL. A rapid DNA isolation procedure for
small quantities of fresh leaf tissue. Phytochemical Bulllletin.
1987;19:11 –15.
13. Chou HJ, et al. Comparative antioxidant properties of wa-
ter extracts from different parts of Beefsteak plant (Perilla
frutescens). Journal of Food&DrugAnalysis. 2009;17(6). Avail-
able from: https://doi.org/10.38212/2224-6614.2581.
14. Lin E, ChouH, et al. Antioxidant and antiproliferative activities
of methanolic extracts of Perilla frutescens. Journal of Medic-
inal Plants Research. 2010;4(6):477–483.
981
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 5(1):975-983
15. Meng L, et al. Antioxidant activities of polyphenols extracted
from Perilla frutescens varieties. Molecules. 2009;14(1):133–
140. PMID: 19127243. Available from: https://doi.org/10.3390/
molecules14010133.
16. Gong J, et al. Phytochemicals, nutritional analysis and in vitro
antioxidant activities of pickled Perilla frutescens ethanolic
leaf extract. European Journal of Medicinal Plants. 2014;p.
303–314. Available from: https://doi.org/10.9734/EJMP/2014/
7453.
17. Lin E, ChouH, et al. Antioxidant and antiproliferative activities
of methanolic extracts of Perilla frutescens. Journal of Medic-
inal Plants Research. , 4(6), -. 2010;4(6):477–483.
18. Kim MH, et al. Antimicrobial activity of aqueous ethanol ex-
tracts of Perilla frutescens var. acuta leaf. Journal of the Korean
Society of Food Culture. 2007;22(2):266–273.
19. Dao LA, et al. Screening and comparative study of in vitro
antioxidant and antimicrobial activities of ethanolic extracts
of selected Vietnamese plants. International Journal of Food
Properties. 2020;23(1):481–496. Available from: https://doi.
org/10.1080/10942912.2020.1737541.
20. Cowan MM. Plant Products as Antimicrobial Agents. Clinical
Microbiology Reviews. 1999;12:564–582. PMID: 10515903.
Available from: https://doi.org/10.1128/CMR.12.4.564.
21. Dahanukar SA, Kulkarni RA, RegeNN. PharmacologyofMedic-
inal Plants andNatural Products. Indian Journal of Pharmacol-
ogy. 2000;32:S81–S118.
22. Afanas’ev IB, et al. Chelating and free radical scavenging
mechanisms of inhibitory action of rutin andquercetin in lipid
peroxidation. Biochemical pharmacology. 1989;38(11):1763–
1769. Available from: https://doi.org/10.1016/0006-2952(89)
90410-3.
23. Bi L, et al. New antioxidant and antiglycation active triter-
penoid saponins from the root bark of Aralia taibaiensis. Fi-
toterapia. 2012;83(1):234–240. PMID: 22088497. Available
from: https://doi.org/10.1016/j.fitote.2011.11.002.
24. Tapondjou LA, et al. Cytotoxic and antioxidant triterpene
saponins from Butyrospermum parkii (Sapotaceae). Carbohy-
drate research. 2011;346(17):2699–2704. PMID: 21996603.
Available from: https://doi.org/10.1016/j.carres.2011.09.014.
25. Arabski M, Węgierek-Ciuk A, Czerwonka G, Lankoff A, Kaca
W. Effects of saponins against clinical E. coli strains and eu-
karyotic cell line. BioMed Research International. 2012;PMID:
22500084. Available from: https://doi.org/10.1155/2012/
286216.
26. Bordes C, et al. Antibacterial properties of polyphenols:
characterization andQSAR (Quantitative structure-activity re-
lationship) models. Frontiers in microbiology. 2019;10:829.
PMID: 31057527. Available from: https://doi.org/10.3389/
fmicb.2019.00829.
27. SabooraA, et al. Antibacterial activity of different composition
of aglycone and glycosidic saponins from tuber of Cyclamen
coumMiller. Industrial Crops and Products. 2019;140:111662.
Available from: https://doi.org/10.1016/j.indcrop.2019.111662.
28. Kim YJ, et al. Growth of Artemisia annua hairy roots in liquid-
and gas-phase reactors. Biotechnology and Bioengineering.
2002;80(4):454–464. PMID: 12325154. Available from: https:
//doi.org/10.1002/bit.10389.
29. Kim Y, et al. Secondary metabolism of hairy root cultures in
bioreactors. In Vitro Cell.Dev.Biol. Plant . 2002;38:1–10. Avail-
able from: https://doi.org/10.1079/IVP2001243.
30. Chandran RP, Potty VP. Different inducer molecules
and strains of Agrobacterium rhizogenes on enhancing
transformation frequency in host plants. Biotechnology.
2011;10(2):203–208. Available from: https://doi.org/10.3923/
biotech.2011.203.208.
31. Pawar PK, Maheshwari VL. Agrobacterium rhizogenes medi-
ated hairy root induction in twomedicinally important mem-
bers of family Solanaceae. 2004;.
32. Pirian K, et al. Hairy roots induction from Portulaca oleracea
using Agrobacterium rhizogenes to noradrenaline’s produc-
tion. Intl. Res. J. Appl. Basic. Sci. 2012;3:642–649.
33. Minh HTT, et al. Nghiên cứu quy trình chuyển gen tạo rễ tơ
in vitro cây đậu phộng (Arachis hypogaea L.) nhờ vi khuẩn
Agrobacterium rhizogenes nhằm thu nhận Resveratrol. Tạp
chí Công nghệ sinh học. 2011;9(4A):665–672.
34. Sivanesan I, Jeong BR. Induction and establishment of ad-
ventitious and hairy root cultures of Plumbago zeylanica L.
African Journal of Biotechnology. 2009;8:20.
35. Tao J, Li L. Genetic transformation of Torenia fournieri L. me-
diated by Agrobacterium rhizogenes. South African journal of
botany. 2006;72(2):211–216. Available from: https://doi.org/
10.1016/j.sajb.2005.07.010.
982
Science & Technology Development Journal – Natural Sciences, 5(1):975-983
Open Access Full Text Article Research Article
1Molecular Biotechnology Laboratory,
University of Science, VNU-HCM.
2Faculty of Biology and Biotechnology,
University of Science, VNU-HCM.
Correspondence
Quach Ngo Diem Phuong, Faculty of
Biology and Biotechnology, University of
Science, VNU-HCM.
Molecular Biotechnology Laboratory,
University of Science, VNU-HCM.
Email: qndphuong@hcmus.edu.vn
History
Received: 2020-05-28
Accepted: 2020-12-21
Published: 2021-1-28
DOI :10.32508/stdjns.v5i1.917
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Antioxidant, anti-bacterial activity of Perilla frutescens ethanol
extract and induction of hairy roots by Agrobacterium rhizogenes
Tra Dong Phuong1,2, Le Thi Mong Vuong2, Quach Ngo Diem Phuong1,2,*
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Perilla frutescens, a plant of the Lamiaceae family, is commonly used for traditional medicine to
treat diseases (cold, headache, cough, tympanites, poisoning, ...) because it contains many sec-
ondary compounds with bioactivities. Roots, stems and leaves of P. frutescens were extracted with
ethanol. These extracts have also been investigated antioxidant by DPPH method and antibacte-
rial by agar well diffusion method. The results showed that these extracts possess antioxidant and
antibacterial activity. By specific reactions, we found that phenols, flavonoids, saponins, alkaloids
and glycosides were contained in all extracts of P. frutescens, but triterpenoids were only found in
leaf extract. These secondary compounds are involved in the antioxidant and antibacterial activity
of P. frutescens. Hairy roots of P. frutescens were induced by Agrobacterium rhizogenes ATCC 15834.
The results suggested that leaves were the best materials for hairy root inducing (67.67 3.51 % of
samples produced hairy roots). 20minutes of immersion and 72 hours of co-culture are optimal for
the induction of hairy roots. These results are a pre-requisition for further studies related to hairy
root cultures aimed production of bioactive compounds.
Key words: Antibacterial, antioxidant, hairy roots, Perilla frutescens, secondary compound
Cite this article : Phuong T D, Vuong L T M, Phuong Q N D. Antioxidant, anti-bacterial activity of Perilla
frutescens ethanol extract and induction of hairy roots by Agrobacterium rhizogenes. Sci. Tech. Dev.
J. - Nat. Sci.; 5(1):975-983.
983
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hoat_tinh_khang_oxi_hoa_khang_khuan_cua_cao_chiet_ethanol_tu.pdf