KẾT LUẬN Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hoạt chất malloapelta B (MalB) đã ức chế được 50% sự phát triển tế bào gốc ung thư CSCs dòng NTERA-2 ở nồng độ 3,66 ± 0,22 µg/mL (tương ứng với 12,71 ± 0,76 µM). Như vậy, trên tế bào CSCs thì hoạt tính của MalB đã giảm đi khá nhiều khi so sánh hoạt tính này trên các dòng tế bào ung thư khác (không phải CSCs) và phù hợp với các đặc tính kháng thuốc mạnh của các CSCs. Chúng tôi cũng ghi nhận rằng hoạt chất Mal B đã tác động tới chu trình tế bào NTERA-2 khi làm giảm đáng kể tỉ lệ tế bào ở pha G0/G1 (37,48%), gây tăng mạnh số lượng tế bào ở pha G2/M (31,12%) so với đối chứng. Đây là một tác động mới và chưa từng được báo cáo về hoạt tính này của hoạt chất MalB. Bên cạnh đó, lần đầu tiên, ảnh hưởng mạnh của hoạt chất MalB đến sự hình thành cụm tế bào, đến sự phát triển khối tế bào tumorsphere liên quan tới các đặc tính tự làm mới của tế bào CSCs dòng NTERA-2 đã được ghi nhận ở các mức nồng độ 100 và 20 µg/mL. Tuy nhiên, MalB ở các nồng độ nghiên cứu là 2,5 và 5 µM không tác động mạnh và không ảnh hưởng nhiều đến tỉ lệ tế bào có biểu hiện CD44+/CD24+, là hai marker bề mặt khá phổ biến của tế bào CSCs.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hoạt tính tiềm năng kháng tế bào gốc ung thư Ntera-2 của hoạt chất Malloapelta B phân lập từ cây bùm bụp Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 117-125, 2020
117
HOẠT TÍNH TIỀM NĂNG KHÁNG TẾ BÀO GỐC UNG THƯ NTERA-2 CỦA
HOẠT CHẤT MALLOAPELTA B PHÂN LẬP TỪ CÂY BÙM BỤP VIỆT NAM
Đỗ Thị Thảo1,2,*, Nguyễn Thị Nga1, Nguyễn Thị Cúc1, Đỗ Thị Phương1, Triệu Hà Phương1,
Phạm Thị Hải Yến2, Hoàng Lê Tuấn Anh2,3
1Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3Viện Nghiên cứu khoa học Miền Trung, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*Người chịu trách nhiệm liên lạc. E-mail: thaodo74@yahoo.com
Ngày nhận bài: 07.11.2019
Ngày nhận đăng: 20.3.2020
TÓM TẮT
Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy tế bào gốc ung thư (CSCs) liên quan trực tiếp đến sự kháng
thuốc, di căn, ung thư tái phát và ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả điều trị bệnh ung thư. Vì thế, CSCs
được xem là đích hướng tới cho việc nghiên cứu, tìm kiếm các hợp chất có khả năng phòng chữa ung
thư hiệu quả hơn. Hoạt chất malloapelta B được phân lập từ lá cây Bùm bụp (Mallotus apelta)
(Lour.) Muel.-Arg, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) của Việt Nam, đã cho thấy khả năng phòng chữa
ung thư in vitro rất tốt, đặc biệt là khả năng ức chế mạnh sự hoạt hoá của yếu tố NF-kB (nuclear
factor- kappa B). Trong nghiên cứu của chúng tôi, malloapelta B được khảo sát hoạt tính ức chế sự
phát triển tế bào gốc ung thư dòng NTERA-2 và cho thấy có IC50 = 12,71 ± 0,76 µM. Malloapelta B
cũng lần đầu tiên được ghi nhận có tác động tới chu trình phát triển tế bào NTERA-2 khi làm giảm
đáng kể tỉ lệ tế bào ở pha G0/G1 (37,48%), gây tăng số lượng ở pha G2/M (31,12%) so với đối
chứng (56,81% và 18,96%, một cách tương ứng). Bên cạnh đó, malloapelta B ở các mức nồng độ
100 và 20 µg/mL cũng ức chế NTERA-2 hình thành cụm tế bào và đến sự phát triển khối u tế bào
(tumorsphere), hai đặc tính liên quan tới tính tự làm mới của tế bào CSCs. Tuy nhiên, malloapelta B
ở các nồng độ nghiên cứu là 2,5 và 5 µM không tác động mạnh và không ảnh hưởng nhiều đến tỉ lệ
tế bào có biểu hiện CD44+/CD24+, là hai marker bề mặt khá phổ biến của tế bào CSCs.
Từ khóa: CD44, CD24, tế bào gốc ung thư CSCs, malloapelta B, NTERA-2
MỞ ĐẦU
Theo Tổ chức y tế thế giới (World Health
Organization), Việt Nam nằm trong 50 nước
thuộc top 2 của bản đồ ung thư (50 nước cao
nhất thuộc top 1). Cụ thể, Việt Nam đang xếp ở
vị trí 78/172 quốc gia, vùng lãnh thổ khảo sát với
tỉ lệ tử vong 110/100.000 người. Khối u ung thư
được định nghĩa là tập hợp không đồng nhất các
tế bào khác nhau về đặc điểm sinh học và khả
năng tự đổi mới (Reya et al., 2001). Trong nhiều
nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học đã chỉ ra
rằng trong khối u in vivo cũng như các dòng tế
bào ung thư có chứa một tập hợp nhỏ được gọi là
các tế bào gốc ung thư (CSCs) (Singh et al.,
2003; Kondo, 2007) liên quan đến kháng thuốc,
di căn, ung thư tái phát và ảnh hưởng đáng kể
đến hiệu quả điều trị ung thư (Gil et al.,2008).
Cũng như tế bào gốc, tế bào gốc ung thư có các
đặc điểm như khả năng tự đổi mới, khả năng biệt
hóa đa dạng thành các quần thể tế bào ung thư
không đồng nhất trong khối u và chống lại quá
trình tự chết (apoptosis) (Clarke et al., 2006; Gil
et al., 2008). Ngoài ra, CSCs cũng thể hiện khả
năng kháng thuốc, kháng xạ trị mạnh. Các con
đường tín hiệu Nocth và Wnt tham gia vào sự tự
Đỗ Thị Thảo et al.
118
làm mới của tế bào gốc ung thư cho thấy liên
quan đến hiện tượng kháng xạ trị của bệnh ung
thư thần kinh và ung thư vú. Nhiều báo cáo cũng
đã ghi nhận sự biểu hiện phổ biến của các
marker bề mặt như CD133, CD44, CD24... ở
CSCs. Các nhà khoa học cũng đã nhận thấy
rằng đa phần các tế CSCs là những tế bào có thể
nhân nuôi được trong điều kiện không bám
dính, không huyết thanh và có khả năng tạo
khối tế bào (tumorsphere) in vitro (Shackleton
M, 2010; Dontu et al., 2003; Ponti et al., 2005;
Calvet et al., 2014). Với những đặc điểm như
trên, CSCs hiện đã trở thành đích tiềm năng để
điều trị cho bệnh ung thư và được nhiều nhà
khoa học quan tâm.
Hoạt chất 1-(5,7-dimetoxy-2,2-dimetyl-2H-
cromen-8-yl)-but-2-en-1-one, có tên là
malloapelta B (MalB), là một hợp chất có cấu
trúc mới, có hàm lượng cao và được phân lập từ
lá cây Bùm bụp (Mallotus apelta) (Lour.)
Muel.-Arg, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) của
Việt Nam. Đây là một cây thuốc quý, mọc
hoang ở nhiều nơi thuộc miền Bắc nước ta.
Hoạt chất này đã chứng minh khả năng phòng
chữa ung thư in vitro rất mạnh. Điển hình là
MalB ức chế mạnh sự hoạt hoá của yếu tố NF-
kB (nuclear factor- kappa B) với giá trị IC50 =
0,54 ± 0,05 µM, thấp hơn nhiều so với của chất
đối chứng Parthenolide (PTN) với giá trị IC50 =
6,66 ± 0,07 µM (Nam et al, 2007). Tuy nhiên,
cho đến nay, hoạt chất này chưa được nghiên
cứu về khả năng kháng tế bào gốc ung thư cũng
như tìm hiểu sâu về hoạt tính. Vì vậy, trong
nghiên cứu này, chúng tôi sẽ báo cáo một số
hoạt tính kháng tế bào gốc ung thư NTERA-2
của malloapelta B.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Vật liệu nghiên cứu
Dòng tế bào gốc ung thư NTERA-2 được
cung cấp bởi GS. P Wongtrakoongate, Đại học
Mahidol, Thailand; hoạt chất malloapelta B
(MalB) được cung cấp bởi TS. Hoàng Lê Tuấn
Anh, Viện Nghiên cứu khoa học Miền Trung,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam.
Môi trường DMEM, huyết thanh phôi bò
(FBS), kháng sinh (antibiotics-antimycotics),
trypsin-EDTA được nhập từ Invitrogen
(Carlsbad, CA, USA). Human CD44 antibody
conjugated with FITC (FITC-CD44) và human
CD24 conjugated with PE (PE-CD24) cung cấp
bởi Miltenyi Biotec (Bergisch Gladbach,
Germany). Các hóa chất khác được cung cấp
bởi Sigma Aldrich (St. Louis, MO USA)
Phương pháp nuôi cấy tế bào
Tế bào NTERA-2 được nuôi cấy trong môi
trường DMEM có thành phần kèm theo gồm 2
mM L-glutamine, 10 mM HEPES và 1,0 mM
sodium pyruvate, ngoài ra bổ sung 10% huyết
thanh phôi bò (fetal bovine serum, FBS). Tế bào
được cấy chuyển sau 3-5 ngày với tỷ lệ (1:3) và
nuôi trong tủ ấm ở điều kiện 37oC, 5% CO2.
Phương pháp gây độc tế bào CSCs
Phương pháp thử hoạt tính gây độc tế bào in
vitro được thực hiện theo phương pháp của
Viện Ung thư Quốc gia Hoa kỳ (NCI) nhằm
sàng lọc, phát hiện các chất có khả năng ức chế
sự phát triển của tế bào ung thư ở điều kiện in
vitro (Skehan et al., 1990). Theo đó, tế bào ung
thư được duy trì liên tục ở các điều kiện tiêu
chuẩn và tiến hành thử nghiệm với các chất thử
ở các nồng độ khác nhau trên đĩa 96 giếng. Đĩa
thử nghiệm bao gồm: tế bào + môi trường nuôi
cấy + chất thử, được ủ trong tủ ấm CO2, ở 37oC
để tế bào tiếp tục phát triển. Sau 3 ngày, tế bào
được cố định vào đáy giếng bằng TCA 20% và
nhuộm bằng sulforhodamine B (SRB) 0,4%
trong 1 giờ ở 37oC. Lượng SRB dư được gạn
bỏ, rửa 3 lần bằng axit axetic 1% và để khô
trong không khí ở nhiệt độ phòng. Sau đó, sử
dụng Tris base (10 mM) để hoà tan lượng SRB
đã bám nhuộm các phân tử protein. Hàm lượng
mầu của SRB được xác định qua phổ hấp phụ ở
bước sóng 515 nm. Các phép thử được lặp lại 3
lần để đảm bảo tính chính xác. Ellipticine được
sử dụng như chất đối chứng dương và thử
nghiệm ở các nồng độ 100 µg/mL, 20 µg/mL, 4
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 117-125, 2020
119
µg/mL, 0,8 µg/mL, dimethyl sulfoxide (DMSO)
10% sử dụng như chất đối chứng âm.
Phương pháp xác định chu trình tế bào (cell
cycle) bằng kĩ thuật Flowcytometry
Tế bào được đưa ra đĩa 6 giếng và nuôi qua
đêm trong tủ ấm 37oC, 5% CO2. Mẫu thí
nghiệm được đưa vào các giếng tế bào và ủ
trong tủ ấm 48 h. Giếng tế bào chỉ có DMSO
được sử dụng làm đối chứng âm. Sau 48 h ủ
mẫu, tế bào được tách khỏi đáy giếng bằng
Trypsin-EDTA và thu vào ống falcon. Tiến
hành ly tâm và loại bỏ trypsin. Cặn tế bào được
rửa lại 3 lần bằng PBS lạnh. Sau khi cố định tế
bào bằng Ethanol 70% trong 2 h, tiến hành ly
tâm loại bỏ Ethanol và rửa lại tế bào bằng dung
dịch PBS. Cặn tế bào được hòa lại trong 0,45
mL PBS. Thêm vào ống tế bào RNase A (1
mg/mL), ủ trong bể ổn nhiệt 37oC trong 15
phút. 25 µL dung dịch propidium iodide - PI (1
mg/mL) được thêm vào các ống và ủ tiếp ở
nhiệt độ phòng 1 giờ trước khi bổ sung thêm
500 µL PBS. Tác động của các mẫu thử đến chu
trình tế bào được xác định bằng hệ thống Flow
cytometry Novocyte và phần mềm
NovoExpress (ACEA Bioscience Inc.)
Phương pháp xác định biểu hiện marker bề mặt
Tế bào được đưa ra đĩa 6 giếng và nuôi qua
đêm trong tủ ấm 37oC, 5% CO2. Mẫu thí
nghiệm được đưa vào các giếng tế bào và ủ
trong tủ ấm 48 h. Giếng tế bào chỉ có DMSO
được sử dụng làm đối chứng âm. Sau 48 h ủ
mẫu, tế bào được tách khỏi đáy giếng bằng
Trypsin-EDTA và thu vào ống falcon. Để xác
định mức độ biểu hiện của các marker bề mặt,
tế bào được hòa trong môi trường DMEM có
chứa 2% FBS sau đó bổ sung thêm kháng thể
kháng CD44-FITC và CD24-PE ở 4oC trong 10
phút và tránh ánh sáng. Sự biểu hiện các marker
bề mặt trên tế bào được phân tích bằng hệ thống
flowcytometry Novocyte và phần mềm
NovoExpress (ACEA Bioscience Inc.).
Phương pháp ức chế tạo cụm tế bào (colony
assay)
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá
khả năng tự làm mới của tế bào trong điều kiện
in vitro (Cao et al., 2011). Hai trăm tế bào
NTERA-2 được đưa vào đĩa nuôi cấy 6 giếng có
chứa môi trường DMEM với 10% FBS và 50
µg/mL gentamicine. Sau 7 ngày nuôi cấy, loại
bỏ môi trường. Tế bào được cố định và nhuộm
trong dung dịch chứa 20% ethanol, 3,7%
formaldehyde và 0,2% methyl violet 10B. Sau
đó tế bào được quan sát dưới kính hiển vi và
đếm các cụm tế bào có trên 70 tế bào. Khả
năng tạo cụm dưới tác động của mẫu được so
sánh với giếng tế bào đối chứng âm (không có
tác động của mẫu).
Phương pháp xác định tác động của tế bào
nuôi cấy dạng khối cầu ba chiều (3D)
Để đánh giá tác động của MalB đến sự phát
triển tế bào nuôi dưới dạng khối cầu 3D, tế bào
được nuôi trong đĩa 96 giếng có bề mặt bám
dính thấp với nồng độ tế bào 5000 tế bào/ giếng.
Sau 3 ngày nuôi cấy, khi tế bào tập hợp thành
một khối tế bào hình cầu có cấu trúc ổn định,
mẫu MalB được đưa vào các giếng tế bào với
các nồng độ khác nhau và ủ thêm 3 ngày ở tủ
ấm 37oC, 5% CO2. Hình ảnh khối tế bào được
qua sát và chụp bằng kính hiển vi soi ngược
Zeiss Vert A1. Sự phát triển của tế bào trong
khối u tế bào so với đối chứng được phân tích
bằng phần mềm ImageJ.
Phương pháp phân tích số liệu
Các kết quả nghiên cứu được trình bày dưới
dạng giá trị trung bình ± sai số (SD), và được
phân tích bằng phần mềm GraphPad Prism 7.
Các sai khác có giá trị P< 0,05 được xem là có
ý nghĩa thống kê.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Khả năng gây độc tế bào CSCs của MalB
Thông qua phương pháp SRB như đã trình
bày ở trên, khả năng gây độc tế bào CSCs dòng
NTERA-2 của hoạt chất MalB được xác định. Kết
quả ở Hình 1 cho thấy MalB ức chế được trên
50% sự phát triển của tế bào NTERA-2 ở nồng độ
4, 20 và 100 µg/mL. Khi nồng độ mẫu giảm thấp
đến 0,8 µg/mL khả năng gây độc tế bào của MalB
Đỗ Thị Thảo et al.
120
giảm chỉ còn khoảng 30%. Thông qua phần mềm
Tablecurve 2Dv4, giá trị IC50 (nồng độ ức chế
được 50% sự phát triển tế bào) của MalB được
xác định và bằng 3,66 ± 0,22 µg/mL (tương ứng
với 12,71 ± 0,76 µM). Như vậy, trên tế bào CSCs
thì hoạt tính của MalB đã giảm đi khá nhiều khi so
sánh hoạt tính này trên các dòng tế bào ung thư
khác (không phải CSCs) như ung thư tế bào gan
dòng Hep -2 có IC50 = 0,46 µg/mL; ung thư tế bào
cơ RD có IC50 = 0,33 µg/mL (Phan et al., 2007).
Kết quả này cũng thể hiện rõ sự kháng thuốc
mạnh của tế bào CSCs và phù hợp nhiều báo cáo
trước đây như doxorubicin, ellipticine đều đã
giảm hoạt tính gần ba lần khi so sánh với dòng tế
bào ung thư tương ứng (P<0,05) (Phương et al.,
2018).
Hình 1. Khả năng ức chế sự phát triển tế bào gốc ung thư dòng NTERA-2 của hoạt chất MalB sau 3 ngày nuôi
cấy đạt 32,39% (0,8 µg/mL); đạt 53,06% (4 µg/mL); đạt 84,35% (20 µg/mL); đạt 90,67% (100 µg/mL);
Đánh giá tác động của MalB đến chu trình tế
bào
Để xác định tác động của MalB đến chu
trình tế bào NTERA-2, các tế bào này được ủ
với hoạt chất ở nồng độ 10 µM sau đó nhuộm
với thuốc nhuộm PI trước khi phân tích bằng kĩ
thuật phân tích dòng chảy tế bào
Flowcytometry. Kết quả nghiên cứu được thể
hiện ở hình 2.
Hình 2. Ảnh hưởng của hoạt chất MalB ở nồng độ 10 µM đến chu trình tế bào của NTERA-2 ở thời điểm 48 h,
sử dụng hệ thống Flowcytometry Novocyte (ACEA Bioscience Inc.) và phần mềm NovoExpress
0
20
40
60
80
100
120
0.8 4 20 100
%
ứ
c
ch
ế
tế
b
ào
s
ốn
g
Nồng độ thử nghiệm MalB (µg/mL)
MalB
Ellipticine
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 117-125, 2020
121
Qua kết quả ở Hình 2 chúng tôi nhận thấy
hoạt chất MalB đã làm giảm đáng kể tỉ lệ tế bào
ở pha G0/G1 còn 37,48% khi so với đối chứng
không xử lí là 56,81%. Đồng thời số lượng tế
bào ở pha G2/M tăng mạnh lên đến 31,12% so
với đối chứng âm chỉ có 18,96%. Kết quả này
cho thấy hoạt chất MalB đã làm thay đổi đáng kể
chu trình tế bào của dòng NTERA-2. Đây là một
tác động mới và chưa từng được báo cáo về hoạt
tính này của hoạt chất MalB. Tuy nhiên, chúng
tôi mới chỉ đánh giá trên tế bào gốc ung thư
CSCs mà chưa có sự so sánh với tế bào ung thư
thông thường nên khả năng tác động của MalB
tới chu trình tế bào sẽ cần tiếp tục được nghiên
cứu sâu hơn để có kết luận cụ thể về hoạt tính
hướng đích tế bào CSCs của hoạt chất này.
Tác động của MalB đến đặc tính gốc của tế
bào CSCs
Đặc tính gốc của tế bào gốc nói chung, tế
bào gốc ung thư CSCs nói riêng được thể hiện
thông qua nhiều chỉ thị phân tử (marker) bề mặt
tế bào. CD44, một thụ thể axit hyaluronic, là
một trong những marker được nhận thấy xuất
hiện rất phổ biến trên bề mặt nhiều loại tế bào
CSCs như trong ung thư đầu cổ (Han et al.,
2014) ung thư vú (Li et al., 2007), ung thư tụy
(Li et al., 2014), ung thư phổi (Alamgeer et al.,
2013), ung thư gan (Yamashita, Wang, 2013),
ung thư ruột kết (Vaiopoulos et al., 2012) v.v.
CD44 là một phân tử glycoprotein đa cấu trúc
và đa chức năng trên bề mặt tế bào, đóng vai trò
quan trọng trong sự kết dính và di chuyển của tế
bào, nhưng vai trò nổi bật của CD44 là liên kết
với axit hyaluronic trong ma trận ngoại bào.
CD44 được phát hiện thấy ở các tế bào gốc tủy
xương người (Hematopoietic Stem Cell - HSC),
ở tế bào gốc trung mô (Mesenchymal Stem Cell
- MSC) và tế bào gốc có nguồn gốc từ mô mỡ.
CD44 được sử dụng rộng rãi khi kết hợp với các
marker khác để phân lập CSCs từ các khối u rắn
khác nhau. Tuy nhiên, CD44 cũng biểu hiện ở
nhiều loại tế bào bình thường. Hiện nay các
biến thể của CD44 được đề xuất là một trong
những dấu ấn để phát hiện CSCs trong các bệnh
ung thư khác nhau. Bên cạnh đó, CD24 lại là
một sialoglycoprotein biểu hiện trên bề mặt của
hầu hết các tế bào lympho B, cũng có ở tế bào
bạch cầu trung tính v.v. Tuy nhiên, marker này
biểu hiện mạnh ở nhiều loại tế bào ung thư khác
nhau như buồng trứng, vú, tiền liệt tuyến, tụy,
lách v.v. và được xem là liên quan mật thiết đến
quá trình di căn của tế bào ung thư. Sự đồng
biểu hiện của CD44 với các marker khác như
CD44, CD29, và CD31 được xem là những dấu
ấn quan trọng để phát hiện CSCs (Jaggupilli,
Elkord, 2012).
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hoạt chất
MalB lần đầu tiên được nghiên cứu tác động tới
sự biểu hiện của các marker bề mặt tế bào CSCs
là CD44 và CD24. Để đảm bảo tế bào không bị
chết do tác động gây độc của MalB dẫn đến sai
lệch kết quả về biểu hiện marker bề mặt, tế bào
NTERA-2 được chúng tôi ủ với mẫu ở nồng độ
nghiên cứu là 2,5 và 5 µM. Sau 48 h ủ mẫu, tế
bào NTERA-2 được thu nhận như đã trình bày
ở phần phương pháp và được đánh giá sự biểu
hiện của 2 marker CD44 và CD24. Kết quả ở
Hình 3 cho thấy MalB ở các nồng độ nghiên
cứu là 2,5 và 5 µM không tác động mạnh và
không ảnh hưởng nhiều đến tỉ lệ tế bào có biểu
hiện CD44+/CD24+ là 1,10% và 2,52%, một
cách tương ứng, so với đối chứng không xử lí
mẫu (2,21%). Rất có thể kết quả này thu được
do nồng độ mẫu thử nghiệm đã sử dụng khá
thấp so với nồng độ gây chết 50% tế bào
NTERA-2 của MalB nên chưa gây được tác
động rõ rệt đến sự biểu hiện CD44+/CD24+ trên
tế bào CSCs dòng NTERA-2.
Tác động của MalB đến sự phát triển khối
cầu 3D (tumorsphere) và tạo cụm (colony) từ
tế bào NTERA-2
Đặc tính tự làm mới là đặc tính quan trọng
của tế bào gốc ung thư. Đây là đặc tính giúp
của tế bào gốc ung thư có khả năng tạo thành
cáckhối tế bào (tumorsphere) từ một tế bào ban
đầu trong môi trường không huyết thanh và
không bám dính. Để đánh giá tác động của
MalB đến khả năng tạo khối u 3D của tế bào
NTERA-2, chúng tôi tiến hành tạo các khối
cầu này trên đĩa 96 giếng có bề mặt bám dính
thấp. Cụ thể là tế bào NTERA-2 được nuôi
trên bề mặt không bám dính, tạo thành một
khối tế bào duy nhất có cấu trúc ổn định sau 3
Đỗ Thị Thảo et al.
122
ngày nuôi cấy và được ủ với hoạt chất MalB ở
các nồng độ nghiên cứu khác nhau. Kết quả
cho thấy MalB ở nồng độ 100 µg/mL đã gây
phân rã và làm mất đi cấu trúc hình cầu đặc
của khối tế bào. Đến nồng độ 20 µg/mL, tác
động của MalB đến cấu trúc khối tế bào không
rõ như nồng độ 100 µg/mL tuy nhiên hoạt chất
cũng đã làm giảm kích thước khối tế bào so
với đối chứng. Và ở nồng độ ủ mẫu thấp nhất
là 4 µg/mL thì hoạt chất MalB không còn tác
động được đến sự phát triển của khối u tế bào
(Hình 4).
Hình 3. Ảnh hưởng của hoạt chất MalB đến sự biểu hiện marker bề mặt CD44 và CD24 của tế bào NTERA-2
ở thời điểm 48h tại các nồng độ khác nhau 5µM (A), 2,5 µM (B) và đối chứng âm (C). Tế bào được phân tích
bằng hệ thống Flowcytometry Novocyte (ACEA Bioscience Inc.) và phần mềm NovoExpress.
MalB 100 µg/mL MalB 20 µg/mL MalB 4 µg/mL Đối chứng âm
Hình 4. Khả năng ức chế sự phát triển khối u tumorsphere từ tế bào gốc ung thư dòng NTERA-2 của hoạt
chất MalB sau 3 ngày nuôi cấy ở các nồng độ 100-20-4 µg/mL, chụp bằng hệ thống kính hiển vi soi ngược
Zeiss Vert A1, độ phóng đại 100X
Bên cạnh khả năng tạo khối tế bào
tumorsphere, một đặc tính cơ bản khác của tế
bào gốc ung thư là khả năng tạo dòng hay tạo
các cụm tế bào. Thông qua phương pháp tạo
dòng (clonogenic), tác động của MalB đến khả
năng tạo cụm tế bào hay khả năng tự làm mới
của NTERA-2 được xác định. Kết quả ở Hình 5
cho thấy MalB ở các nồng độ 100, 20 và 4
µg/mL đều gây ức chế mạnh và có ý nghĩa đối
với sự hình thành các cụm tế bào (P<0,01) của
NTERA-2. Theo đó, ở giếng đối chứng không
xử lí mẫu, tế bào NTERA-2 đã tạo được 75 ±
6,24 cụm/giếng, trong khi ở các giếng có ủ với
hoạt chất MalB thì chỉ có 8 ± 2,65 cụm/giếng,
10 ± 1,73 cụm/giếng và 35,67 ± 7,02
cụm/giếng, tương ứng với các mức nồng độ
100, 20 và 4 µg/mL. Kết quả cũng cho thấy, ở
nồng độ 0,8 µg/mL, hoạt chất MalB không tác
động nhiều đến sự hình thành cụm của tế bào
NTERA-2. Như vậy ở các mức nồng độ 100 và
20 µg/mL, hoạt chất MalB đã ức chế được sự
hình thành cụm tế bào, ức chế sự phát triển khối
u tế bào 3D liên quan tới các đặc tính tự làm
mới của tế bào CSCs dòng TNERA-2.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 117-125, 2020
123
Hình 5. Khả năng ức chế sự tạo cụm của tế bào gốc ung thư dòng NTERA-2 của hoạt chất MalB sau 3 ngày
nuôi cấy ở các nồng độ 100-20-4 µg/mL; **P<0,01 so với đối chứng âm
KẾT LUẬN
Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy hoạt chất malloapelta B (MalB) đã ức
chế được 50% sự phát triển tế bào gốc ung
thư CSCs dòng NTERA-2 ở nồng độ 3,66 ±
0,22 µg/mL (tương ứng với 12,71 ± 0,76 µM).
Như vậy, trên tế bào CSCs thì hoạt tính của
MalB đã giảm đi khá nhiều khi so sánh hoạt
tính này trên các dòng tế bào ung thư khác
(không phải CSCs) và phù hợp với các đặc
tính kháng thuốc mạnh của các CSCs. Chúng
tôi cũng ghi nhận rằng hoạt chất Mal B đã tác
động tới chu trình tế bào NTERA-2 khi làm
giảm đáng kể tỉ lệ tế bào ở pha G0/G1
(37,48%), gây tăng mạnh số lượng tế bào ở
pha G2/M (31,12%) so với đối chứng. Đây là
một tác động mới và chưa từng được báo cáo
về hoạt tính này của hoạt chất MalB. Bên
cạnh đó, lần đầu tiên, ảnh hưởng mạnh của
hoạt chất MalB đến sự hình thành cụm tế bào,
đến sự phát triển khối tế bào tumorsphere liên
quan tới các đặc tính tự làm mới của tế bào
CSCs dòng NTERA-2 đã được ghi nhận ở các
mức nồng độ 100 và 20 µg/mL. Tuy nhiên,
MalB ở các nồng độ nghiên cứu là 2,5 và 5
µM không tác động mạnh và không ảnh
hưởng nhiều đến tỉ lệ tế bào có biểu hiện
CD44+/CD24+, là hai marker bề mặt khá phổ
biến của tế bào CSCs.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi
Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 106.02-
2017.20.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Alamgeer M, Peacock CD, Matsui W, Ganju V,
Watkins DN (2013) Cancer stem cells in lung
cancer: Evidence and controversies. Respirology 18:
757-764.
Calvet CY, André FM, Mir LM (2014) The culture
of cancer cell lines as tumorspheres does not
systematically result in cancer stem cell enrichment.
PLoS One 9(2):e89644.
Cao L, Zhou Y, Zhai B, Liao J, Xu W, Zhang R, Li
J, Zhang Y, Chen L, Qian H, Wu M (2011) Sphere-
forming cell subpopulations with cancer stem cell
properties in human hepatoma cell lines. BMC
Gastroenterol 11(1):71.
Clarke MF, Dick JE, Dirks PB, Eaves CJ, Jamieson
CH, Jones DL, Visvader J, Weissman IL, Wahl GM
(2006) Cancer stem cells–perspectives on current
status and future directions: AACR Workshop on
cancer stem cells. Cancer Res 66: 9339-9344.
Dontu G, Al-Hajj M, Abdallah WM, Clarke MF,
Wicha MS (2003) Stem cells in normal breast
development and breast cancer. Cell Prolif 36:59-72.
Gil J, Stembalska A, Pesz KA, Sąsiadek MM (2008)
Cancer stem cells: the theory and perspectives in
cancer therapy. J Appl Genet 49(2):193-9.
Han J, Fujisawa T, Husain SR, Puri RK (2014)
Identification and characterization of cancer stem
cells in human head and neck squamous cell
carcinoma. BMC Cancer 14: 173.
0.00
20.00
40.00
60.00
80.00
100.00
Đối chứng âm 0,8 4 20 100
Số
cl
on
og
en
s
Nồng độ MalB (µg/mL)
**
** **
Đỗ Thị Thảo et al.
124
Jaggupilli A, Elkord E (2012) Significance of CD44
and CD24 as cancer stem cell markers: an enduring
ambiguity. Clin Develop Immunol 2012:708036.
Kondo T (2007) Stem cell-like cancer cells in cancer
cell lines. Cancer Biomark 27(5):506-11.
Li C, Heidt DG, Dalerba P, Burant CF, Zhang L,
Adsay V, Wicha M, Clarke MF, Simeone DM
(2007) Identification of pancreatic cancer stem cells.
Cancer Res 67: 1030-1037.
Li L, Hao X, Qin J, Tang W, He F, Smith A, Zhang
M, Simeone DM, Qiao XT, Chen ZN, Lawrence TS,
Xu L (2014) Antibody against CD44s inhibits
pancreatic tumor initiation and postradiation
recurrence in mice. Gastroenterology 146: 1108-
1118.
Nam NH, Ngoc NT, Hanh TTH, Thao NP, Van
Thanh N, Cuong NX, Do TT, Huong TT, Thung DC,
Van Kiem P (2015) Cytotoxic biscembranoids from
the soft coral Sarcophyton pauciplicatum. Chem
Pharm Bull 63(8):636-40.
Ponti D, Costa A, Zaffaroni N, Pratesi
G, Petrangolini G, Coradini D, Pilotti S, Pierotti
MA, Daidone MG (2005) Isolation and in vitro
propagation of tumorigenic breast cancer cells with
stem/progenitor cell properties. Cancer Res
65(13):5506-11.
Phan TB, Bui HN, Chau VM, Nguyen HN, Le M H,
Phan VK (2007) The synthesis of a novel
bibenzopyran relied on electrooxydation of
malloapelta B by cyclic votametry. AJSTD 24(4):
387-392
Phương DT, Nga NT, Cuc NT, Phương VT, Thảo
DT (2018) nghiên cứu phân lập và xác định đặc tính
của tế bào gốc ung thư từ dòng tế bào ung thư vú
4T1 nuôi cấy in vitro. Tạp chí Công nghệ Sinh học
16(3): 415-422.
Reya T, Morrison SJ, Clarke MF, Weissman IL
(2001) Stem cells, cancer, and cancer stem cells.
Nature 414(6859): 105-11.
Shackleton M (2010) Normal stem cells and cancer
stem cells: similar and different. Semin Cancer Biol
20( 2): 85-92
Singh SK, Clarke ID, Terasaki M, Bonn VE,
Hawkins C, Squire J, Dirks PB (2003). Identification
of a cancer stem cell in human brain tumors. Cancer
Res 63(18):5821-8.
Skehan P, Storeng R, Scudiero D, Monks A,
McMahon J, Vistica D, Warren JT, Bokesch H,
Kenney S, Boyd MR (1990) New colorimetric
cytotoxicity assay for anticancer-drug screening.
JNCI: J Natl Cancer Inst 82(13):1107-12.
Vaiopoulos AG, Kostakis ID, Koutsilieris M,
Papavassiliou AG (2012) Colorectal cancer stem
cells. Stem Cells 30: 363-371.
Yamashita T, Wang XW (2013) Cancer stem cells in
the development of liver cancer. J Clin Invest 123:
1911-1918.
PROMISING ACTIVITY AGAINST NTERA-2 CANCER STEM CELLS OF
MALLOAPELTA B COMPOUND ISOLATED FROM THE BUM-BUP PLANT IN
VIETNAM
Do Thi Thao1,2, *, Nguyen Thi Nga 1, Nguyen Thi Cuc 1, Do Thi Phuong 1, Trieu Ha Phuong 1,
Pham Thi Hai Yen 2, Hoang Le Tuan Anh2,3
1Institute of Biotechnology, Vietnam Academy of Science and Technology
2Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
3Mien Trung Institute of Scientific Research, Vietnam Academy of Science and Technology
SUMMARY
Recent studies have revealed that cancer stem cells (CSCs) drive tumor growth, metastasis,
therapy resistant and recurrence. Therefore, CSCs are considered as new targets for screening of more
effective drugs. The compound malloapelta B, which was isolated from the Bum-bup plant
(Mallotus apelta) (Lour.) Muel.-Arg, Euphorbiaceae) in Vietnam, presented very potent and strong
anticancer in vitro, especially against the activation of NF-kB (nuclear factor- kappa B). In our
research, malloapelta B inhibited the growth of NTERA-2 line, a CSC line, at the value of IC50 =
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 117-125, 2020
125
12.71 ± 0.76 µM. In this study, malloapelta B also had effects on cell cycle of NTERA-2 by
significantly reducing the cell number at G0/G1 phase (37.48%), while raising this number of phase
G2/M to 31.12% in comparison with those of control (56.81% and 18.6%, respectively). Besides,
clonogenic and tumorspheroidal formations are acknowledged as typically renewable characteristics
of CSCs. Then, in our studies, malloapelta B significantly prevented NTERA-2 to form clonogens
and reduced tumorspheres’ sizes at treatments with 20 and 100 µg/mL. However, malloapelta B did
not exhibit any obvious effects on the expression level of CD44+/CD24+, the two typical cell surface
markers of CSCs, at 2.5 and 5 µM treatments.
Keywords: CD44, CD24, cancer stem cells CSCs, malloapelta B, NTERA-2
Các file đính kèm theo tài liệu này:
hoat_tinh_tiem_nang_khang_te_bao_goc_ung_thu_ntera_2_cua_hoa.pdf